MỤC LỤC
MỞ ĐẦU....................................................................................................................... 1
CHƯƠNG 1: MỘT SỐ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI
VỚI DOANH NGHIỆP BÁN LẺ ỨNG DỤNG THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ...........10
1.1. Tổng quan về thương mại điện tử................................................................... 10
1.2. Doanh nghiệp bán lẻ ứng dụng TMĐT........................................................... 18
1.3. Quản lý nhà nước đối với DN bán lẻ ứng dụng TMĐT................................. 23
1.4. Kinh nghiệm quốc tế trong QLNN đối với DN bán lẻ ứng dụng TMĐT......29
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG QLNN ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP BÁN LẺ
ỨNG DỤNG TMĐT TẠI VIỆT NAM HIỆN NAY.................................................. 34
2.1. Tổng quan phát triển ứng dụng TMĐT tại Việt Nam.................................... 34
2.2. Thực trạng phát triển DN bán lẻ Ứng dụng TMĐT tại Việt Nam................36
2.3. Thực trạng QLNN đối với DN bán lẻ ứng dụng TMĐT tại Việt Nam..........40
2.4. Đánh giá QLNN đối với DN bán lẻ ứng dụng TMĐT tại Việt Nam..............61
CHƯƠNG 3: MỘT SỐ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI
VỚI DOANH NGHIỆP BÁN LẺ ỨNG DỤNG TMĐT TẠI VIỆT NAM...............67
3.1. Bối cảnh mới..................................................................................................... 67
3.2. Quan điểm hoàn thiện QLNN đối với doanh nghiệp bán lẻ ứng dụng TMĐT
tại Việt Nam............................................................................................................. 68
3.3. Giải pháp hoàn thiện QLNN đối với DN bán lẻ ứng dụng TMĐT...............72
3.4. Điều kiện chủ yếu để thực thi các giải pháp hoàn thiện QLNN đối với DN
bán lẻ ứng dụng TMĐT tại Việt Nam.................................................................... 77
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO...................................................................82
DANH MỤC CÁC CỤM TỪ VÀ CHỮ VIẾT TẮT
ASEAN, Association of Southeast
Asian Nations
Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á
Hậu cần điện tử
GD&ĐT
Giáo dục và đào tạo
KHCN
Khoa học công nghệ
KT-XH
Kinh tế - xã hội
NTD
Người tiêu dùng
PTBV
Phát triển bền vững
QLNN
Quản lý nhà nước
SP&DV
Sản phẩm và dịch vụ
36
Hình 2.2. Các nước có doanh thu TMĐT B2C lớn nhất năm 2017
36
Hình 2.3. Tình hình mua sắm trực tuyến tại Việt Nam năm 2015-2017
37
Hình 2.4. DN bán lẻ ứng dụng TMĐT qua các kênh bán hàng
37
Hình 2.5. Mức độ sử dụng Internet tại Việt Nam
38
Hình 2.6. Chênh lệch khoảng cách số TMĐT B2C giữa các địa
49
phương
Hình 2.7. Thực trạng kết nối internet ở Việt Nam
41
Hình 2.8. Tốc độ internet của Việt Nam so với thế giới
42
vụ công trực tuyến
55
Hình 2.16. Số lượng hồ sơ tiếp nhận trên Cổng thông tin Quản lý hoạt
55
động TMĐT
Hình 2.17. Số lượng thông tin phản ánh của người dân trên
56
Cổng thông tin Quản lý hoạt động TMĐT
Hình 2.18. Lý do người tiêu dùng chưa mua sắm trực tuyến
64
Hình 3.1. Doanh thu TMĐT B2C toàn cầu từ năm 2017-2021
68
(tỷ USD)
Hình 3.2. Doanh thu TMĐT B2C qua thiết bị di động toàn cầu từ
69
năm 2017-2021 (tỷ USD)
Bảng 2.1. Mục tiêu phát triển TMĐT đến năm 2020
35
Bảng 2.2. Các hành vi của DN bán lẻ ứng dụng TMĐT bị cấm
53
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Trong bối cảnh cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 (CMCN 4.0) hay còn gọi là cuộc
cách mạng số đang diễn ra với tốc độ nhanh làm thay đổi căn bản cách thức vận hành
thế giới, từ mô hình tổ chức nền kinh tế - xã hội cho tới phương thức điều hành và quản
trị quốc gia. Hơn thế nữa, CMCN 4.0 thông qua công nghệ internet vạn vật, trí tuệ nhân
tạo, thực tế ảo, điện toán đám mây, dữ liêu lớn để chuyển hóa thế giới thực thành thế
giới số, sẽ thúc đẩy mạnh mẽ sự phát triển của thương mại điện tử (TMĐT). Như vậy,
TMĐT dần trở thành một cách thức kinh doanh mới với những ưu thế vượt trội so với
thương mại truyền thống, sẽ là tất yếu và phù hợp với xu thế, mang lại sự tiện lợi cho
cả người cung ứng và người tiêu dùng cuối cùng. Tuy nhiên, không phải mặc nhiên
cách thức kinh doanh này cứ thế phát triển bởi lẽ TMĐT cần một môi trường công
nghệ và môi trường kinh tế xã hội tương ứng. Kết cấu hạ tầng thông tin là thứ hàng hóa
công không dễ đầu tư trong khi đó niềm tin của xã hội vào hệ thống mua bán gián tiếp
qua mạng không dễ có được. Nhiều nghiên cứu đã cho thấy vai trò của Nhà nước trong
vấn đề này, nhưng đây vẫn là một khoảng trống rất lớn, nhất là nhìn từ phản ứng của
chính phủ các quốc gia đang phát triển với nền tảng công nghệ thông tin yếu kém và
tâm lý mua sắm mang tính truyền thống.
Về phương diện thực tiễn, Việt Nam là một trong những quốc gia có nền tảng
công nghệ thông tin phát triển với một tốc độ rất cao với hơn 60% dân số sử dụng
internet, gần 70 triệu thuê bao sử dụng điện thoại thông minh (smartphone). Việc mua
nhằm tạo động lực phát triển cho ngành TMĐT tại Việt Nam, qua đó góp phần phát
triển kinh tế xã hội. Vì lý do trên tôi đã quyết định chọn đề tài “Quản lý nhà nước đối
với doanh nghiệp bán lẻ ứng dụng thương mại điện tử tại Việt Nam” cho luận văn
của mình.
2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài.
2.1. Các nghiên cứu trên thế giới
TMĐT là xu hướng thương mại toàn cầu tất yếu ở hiện tại và tương lai được ứng
dụng trên nhiều lĩnh vực bởi những lợi ích to lớn của nó đem lại. Hiện nay ứng dụng
TMĐT và QLNN đối với TMĐT là chủ đề đã và đang nhận được sự quan tâm và
nghiên cứu từ khắp nơi trên thế giới.
Sam Lubbe và Johanna Maria van Heerden (2003) đã nghiên cứu những tác
động về mặt KT-XH của TMĐT và chỉ ra các bất lợi từ sự phát triển TMĐT trong mỗi
quốc gia như tính riêng tư của các cá nhân trong hoạt động giao dịch, sự an toàn trong
quá trình thanh toán, chính sách bảo vệ NTD, chính sách phát triển ứng dụng TMĐT
trong các DN [70]. Từ đó tác giả đưa ra kiến nghị trong việc xây dựng và triển khai các
chính
sách QLNN như chính sách đào tạo lao động TMĐT, quản lý cạnh tranh trong TMĐT,
thuế và các chương trình hỗ trợ DN.
Đại học Cambridge (2006) đã tập hợp những nghiên cứu của các học giả thuộc
nhiều trường đại học trên thế giới về “tác động của môi trường và chính sách quốc gia
đến sự phát triển TMĐT trong DN”. Những nghiên cứu này được tiến hành ở các quốc
gia như: Mỹ, Brazin, Đan Mạch, Pháp, Đức, Nhật, Mexico, Trung Quốc, Singapore và
Đài Loan với 2.139 DN [65]. Kết quả chỉ ra được tác động to lớn của môi trường chính
sách ở các quốc gia tới quá trình hình thành và phát triển TMĐT trong DN. Tác giả
cuốn sách đã phân tích và đánh giá các tác động của môi trường và chính sách TMĐT
trên mỗi quốc gia, nhằm giải đáp các câu hỏi như: Những yếu tố nào ảnh hưởng đến
Dương Hoàng Minh (2011) từ những phân tích về thực trạng TMĐT tại Việt
Nam đã đề xuất một số biện pháp cần tập trung thực hiện nhằm phát triển TMĐT giai
đoạn 2011-2015 [31]. Các biện pháp đối với cơ quan QLNN bao gồm: nhanh chóng
triển khai việc xây dựng và phê duyệt kế hoạch phát triển TMĐT của Bộ ngành, địa
phương; tiếp tục đẩy mạnh tuyên truyền, phổ biến về TMĐT; hỗ trợ DN ứng dụng các
mô hình TMĐT phù hợp; tiếp tục hoàn thiện hệ thống pháp luật liên quan đến TMĐT.
Đối với các DN cần tăng cường ứng dụng TMĐT để nâng cao hiệu quả kinh doanh;
nâng cao nhận thức về vấn đề an toàn thông tin trong TMĐT.
Đào Anh Tuấn (2013) phân tích và đánh giá thực trạng QLNN về TMĐT ở Việt
Nam giai đoạn 2006-2012, từ đó tác giả đã đề xuất một số giải pháp hoàn thiện QLNN
về TMĐT như sau: 1) Xây dựng chiến lược phát triển TMĐT quốc gia nhằm tạo ra các
định hướng lâu dài cho phát triển TMĐT ở Việt Nam; 2) Hoàn thiện các chính sách
TMĐT như: chính sách thương nhân; chính sách thuế trong TMĐT; chính sách bảo vệ
NTD; chính sách đào tạo nguồn nhân lực; 3) Hoàn thiện pháp luật về TMĐT, tập trung
vào các nội dung: công nhận TMĐT là một ngành trong hệ thống các ngành kinh tế
quốc dân; quy định rõ về trách nhiệm, quyền hạn của các bên tham gia TMĐT đối với
các hình thức TMĐT xuyên biên giới; công nhận giá trị pháp lý của chứng cứ điện tử;
hoàn thiện các quy định về giải quyết tranh chấp trong TMĐT; 4) Tăng cường hoạt
động đào tạo về TMĐT, công nhận chuyên ngành TMĐT là một chuyên ngành chính
thức trong hệ thống giáo dục quốc gia; 5) Tăng cường hoạt động thanh tra, kiểm tra về
TMĐT, thành lập thanh tra chuyên ngành về TMĐT [54].
Tình hình nghiên cứu về Ứng dụng TMĐT trong các DN bán lẻ tại Việt Nam
Tại Việt Nam, ứng dụng TMĐT ngày càng phổ biến và là công cụ hữu hiệu trong
việc cắt giảm chi phí, tăng cường các mối liên kết thương mại, đặc biệt là các DN
ngành bán lẻ ứng dụng mô hình kinh doanh B2C trong TMĐT.
Nguyễn Ngọc Tú (2015) đã đưa ra những giải pháp ứng dụng TMĐT cho các DN
trong đó đặc biệt nhấn mạnh vai trò của cơ quan QLNN để thực hiện các giải pháp này
[53]. Qua đó, cơ quan QLNN cần đẩy nhanh việc ứng dụng CNTT trong cơ quan nhà
Nguyễn Minh Đạt (2018) nghiên cứu QLNN đối với DN bán lẻ hiện đại trong
nước và doanh nghiệp có vốn nước ngoài trên thị trường Việt Nam (siêu thị và trung
tâm thương mại) [20]. Tác giả đã đưa ra một số giải pháp hoàn thiện QLNN đối với
các DN bán lẻ hiện đại trong bối cảnh hội nhập quốc tế, cụ thể là: 1) Xây dựng, hoàn
thiện, chiến lược phát triển thị trường bán lẻ hiện đại trong bối cảnh hội nhập kinh tế
quốc tế; 2) Hoàn thiện hệ thống pháp luật và các chính sách khuyến khích phát triển
các DN bán lẻ hiện đại ở nước ta; 3) Hoàn thiện bộ máy QLNN đối với hoạt động của
DN bán lẻ hiện đại ở Việt Nam; 4) Nâng cao vai trò công tác thanh tra đối với hoạt
động của các DN bán lẻ hiện đại trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế.
2.3. Nhận xét tổng quan các công trình nghiên cứu
Hầu hết các công trình đều chỉ rõ: lợi ích to lớn của việc ứng dụng TMĐT; vai trò
quan trọng của cơ quan QLNN đối với phát triển ứng dụng TMĐT.
Tại Việt Nam, TMĐT ngày càng được ứng dụng rộng rãi trên mọi lĩnh vực đặc
biệt là trong lĩnh vực bán lẻ. Các DN bán lẻ Việt Nam đã coi TMĐT là một phương
thức kinh doanh mới giúp giảm đáng kể chi phí hoạt động và tăng hiệu quả.
Đã có nhiều công trình nghiên cứu về QLNN đối với DN bán lẻ tại Việt Nam, tuy
nhiên chủ yếu nghiên cứu về QLNN đối với DN kinh doanh theo mô hình bán lẻ truyền
thống (mô hình siêu thị và trung tâm thương mại) còn nghiên cứu hoạt động của DN
bán lẻ ứng dụng TMĐT (hoạt động mua bán qua internet) nghiên cứu rất hạn chế, hầu
hết chỉ là mục nhỏ trong các công trình nghiên cứu Ứng dụng TMĐT trong các DN bán
lẻ tại Việt Nam. Chính vì vậy QLNN đối với DN bán lẻ ứng dụng TMĐT đang là
khoảng trống cần nghiên cứu thêm đặc biệt trong bối cảnh CMCN 4.0 đang tác động
mạnh mẽ tại Việt Nam với việc ngày càng nhiều DN bán lẻ ứng dụng TMĐT.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
- Mục đích nghiên cứu:
Luận văn tập trung nghiên cứu thực trạng QLNN đối với DN bán lẻ ứng dụng
TMĐT tại Việt Nam, từ đó đề xuất một số kiến nghị và giải pháp.
- Nhiệm vụ nghiên cứu:
tài nghiên cứu, các bài tạp chí, bài báo trong và ngoài nước, các bài tham luận trong
các hội thảo khoa học. Ngoài việc kế thừa các cơ sở lý luận, tác giả nghiên cứu và đưa
ra những lý luận mới về QLNN đối với DN bán lẻ ứng dụng TMĐT, và cũng rút ra
được những bài học kinh nghiệm về chính sách hoàn thiện QLNN đối với DN bán lẻ
ứng dụng TMĐT trong bối cảnh CMCN 4.0 tại Việt Nam.
5.2. Phương pháp phân tích tổng hợp
Bước 1: Thu thập số liệu
Luận văn chỉ sử dụng số liệu thứ cấp từ các nguồn chính đó là:
Số liệu từ các hội thảo khoa học: thông qua các buổi hội thảo có liên quan đến
DN bán lẻ ứng dụng TMĐT hàng năm, tác giả đã thu thập được nhiều ý kiến hữu ích từ
các chuyên gia cũng như các nguồn số liệu từ các tham luận của các chuyên gia trong
buổi hội thảo.
Số liệu từ các Bộ, Ngành có liên quan: Bộ Công thương, Bộ Thông tin và Truyền
thông; Tổng cục Thống kê; Ngân hàng Nhà nước.. để tìm kiếm các bao cáo có liên
quan đến đề tài nghiên cứu như: Sách trắng về TMĐT; Sách trắng về CNTT&TT; Báo
cáo về tình hình KT-XH hàng năm.
Số liệu từ các website: Các website của các tổ chức hoạt động trong lĩnh vực
TMĐT ở Việt Nam như: Hiệp hội TMĐT Việt Nam ( Cục
TMĐT và kinh tế số Bộ Công thương ( Để tìm kiếm các báo
cáo, các số liệu thống kê về DN bán lẻ ứng dụng TMĐT ở Việt Nam
Số liệu từ nước ngoài: Các thống kê nước ngoài có liên quan đến DN bán lẻ ứng
dụng TMĐT Việt Nam như thống kê của Statista.com - cổng thông tin trực tuyến về
thống kê của Đức hay wearesocial.com - báo cáo về kỹ thuật số toàn cầu…
Bước 2: Xử lý số liệu
Trên cơ sở các số liệu đã thu thập tác giả tiến hành chọn lọc, hệ thống hóa, phân
chia theo các nội dung, chỉ tiêu liên quan đến QLNN đối với DN bán lẻ ứng dụng
TMĐT tại Việt Nam; từ đó thiết kế thành các bảng biểu, sơ đồ cho phù hợp.
Bước 3: Thực hiện phân tích tổng hợp
liền với sự phát triển của CNTT và sự hình thành mạng internet (1969). Đầu tiên, mở
đường cho TMĐT là sự phát triển của công nghệ Trao đổi dữ liệu điện tử (EDI) đã thay
thế việc gửi thư và fax tài liệu truyền thống bằng cách chuyển dữ liệu kỹ thuật số từ
máy tính này sang máy tính khác. Thuật ngữ TMĐT ban đầu có nghĩa là quá trình thực
hiện các giao dịch thương mại với sự trợ giúp của các công nghệ hàng đầu như trao đổi
dữ liệu điện tử (EDI) và chuyển tiền điện tử (EFT). Sự bùng nổ của tin học trên toàn
thế giới với hàng loạt các công nghệ mới đặc biệt là mạng internet đã khiến cho hoạt
động kinh tế đã chuyển dần sang dạng “điện tử hóa” bởi những lợi ích vô cùng to lớn
của nó mang lại và từ đó khái niệm “TMĐT” đã dần dần được hình thành và nó được
xem là quá trình mua bán, vận chuyển hay trao đổi sản phẩm, dịch vụ và thông tin
thông qua các mạng máy tính, bao gồm cả Internet.
Hiện nay có rất nhiều định nghĩa về TMĐT nhưng chủ yếu được tiếp cận dưới hai
góc độ: theo nghĩa rộng và theo nghĩa hẹp. Về nghĩa hẹp, TMĐT chỉ đơn giản là các
giao dịch mua bán được tiến hành trên mạng internet vì lý do ban đầu TMĐT chủ yếu
được ứng dụng trong hoạt động mua bán hàng hóa và cung ứng dịch vụ. Còn theo
nghĩa rộng TMĐT được thực hiện đối với cả thương mại hàng hóa (ví dụ như hàng tiêu
dùng, các thiết bị y tế chuyên dụng) và thương mại dịch vụ (ví dụ như dịch vụ cung cấp
thông tin, dịch vụ pháp lý, tài chính), các hoạt động truyền thống (như chăm sóc sức
khỏe, giáo
dục) và các hoạt động mới (như siêu thị ảo) và được tiến hành trên cả mạng Internet,
mạng viễn thông di động, hoặc các mạng mở khác.
Một số tổ chức uy tín trên thế giới định nghĩa như sau:
Ủy ban Châu Âu (EC) đưa ra định nghĩa về TMĐT theo hàm ý bao quát: “TMĐT
có thể định nghĩa chung là sự mua bán, trao đổi hàng hóa hay dịch vụ giữa các DN,
gia đình, cá nhân, tổ chức tư nhân bằng các giao dịch điện tử thông qua mạng internet
hay qua các mạng máy tính trung gian. Thuật ngữ bao gồm việc đặt hàng và dịch
thông qua mạng máy tính, nhưng thanh toán và quá trình vận chuyển hàng hóa hay
dịch vụ cuối cùng có thể thực hiện trực tuyến hoặc bằng phương pháp thủ công” [58]
thành hiện thực.
Tại Việt Nam định nghĩa TMĐT mới chỉ được ghi nhận trong văn bản quy phạm
pháp luật. Theo nghị định 52/2013/NĐ-CP ngày 16 tháng 5 năm 2013 về TMĐT định
nghĩa “Hoạt động TMĐT là việc tiến hành một phần hoặc toàn bộ quy trình hoạt động
thương mại bằng phương tiện điện tử có kết nối với mạng internet, mạng viễn thông di
động hoặc các mạng mở khác” [10]. Trong đó hoạt động thương mại là “hoạt động
nhằm mục đích sinh lời, bao gồm mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ, đầu tư, xúc
tiến thương mại và các hoạt động nhằm mục đích sinh lời khác” [36, điều 3]; phương
tiện điện tử là “phương tiện hoạt động dựa trên công nghệ điện, điện tử, kỹ thuật số, từ
tính, truyền dẫn không dây, quang học, điện từ hoặc công nghệ tương tự” [42, điều
17]. Trong phạm vi luận văn của mình, tác giả định nghĩa TMĐT như sau: “TMĐT là
một hình thức của hoạt động thương mại mà hầu hết các quy trình trong đó được tiến
hành chủ yếu thông qua hệ thống có nền tảng là mạng internet”
1.1.2. Đặc điểm của thương mại điện tử
Thứ nhất, về mối liên hệ với CNTT: sự phát triển của TMĐT gắn liền và tác động
qua lại với sự phát triển của CNTT vì TMĐT là sự ứng dụng CNTT vào mọi hoạt động
của thương mại. Ngược lại, TMĐT phát triển đặt ra yêu cầu, gợi mở cho sự phát triển
của CNTT nhằm tối ưu hóa hiệu suất, thời gian truyền tải dữ liệu để giao dịch được
thực hiện dễ dàng nhanh chóng nhất. Bao gồm: nâng cấp phần mềm phục vụ cho các
ứng dụng TMĐT, dịch vụ thanh toán cũng như thúc đẩy sản xuất các thiết bị CNTT
như máy tính, thiết bị viễn thông, thiết bị mạng.
Thứ hai, về hình thức: khác với các giao dịch truyền thống là các bên phải gặp gỡ
nhau trực tiếp để tiến hành đàm phán, giao dịch, kí kết hợp đồng, giờ đây giao dịch
TMĐT hoàn toàn chỉ vài thao tác đơn giản trên máy tính hoặc trên các thiết bị di động
có kết nối với hệ thống mạng toàn cầu internet.
Thứ ba, về phạm vi hoạt động, với việc kết nối với hệ thống mạng toàn cầu
internet thị trường của TMĐT được mở rộng hơn bao giờ hết hay còn được gọi là thị
trường phi biên giới. Giờ đây, mọi người trên khắp thế giới, ở bất cứ quốc gia nào, bất
nghĩa đơn giản là các giao dịch TMĐT giữa các doanh nghiệp, chẳng hạn như giữa các
nhà sản xuất với các nhà bán buôn, giữa nhà bán sỉ với nhà bán lẻ. Các giao dịch chủ
yếu diễn ra trên các kênh TMĐT và các sàn giao dịch điện tử. Mô hình này được khá
nhiều doanh nghiệp ưa chuộng bởi việc giao dịch hợp tác với nhau thường mang lại lợi
ích đa dạng và hiệu quả nhanh hơn và nhờ vào đó đã có nhiều doanh nghiệp khẳng định
được chỗ đứng trên thị trường.
Do khách hàng ở đây không phải là cá nhân mà có thể là công ty, doanh nghiệp,
nhà hàng, đại lý nên khối lượng tổng thể của giao dịch B2B chiếm tỉ trọng khá lớn
(khoảng 80%). Có thể nói B2B là mô hình kinh doanh khá quan trọng và đóng vai trò
to lớn trong việc tăng doanh thu cũng như khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp. Tuy
nhiên, hiện nay tại Việt Nam, mô hình này vẫn còn đang phát triển, chưa tạo được sự
đột phá và được đánh giá là hơi chậm so với sự phát triển của thế giới.
1.1.3.2. Mô hình B2C (Business to Customer)
Mô hình B2C hay còn gọi là mô hình kinh doanh TMĐT tử B2C, chính là các
giao dịch TMĐT giữa doanh nghiệp tới người tiêu dùng mà ở đây là các cá nhân mua
hàng phục vụ cho mục đích tiêu dùng bình thường và không phát sinh thêm giao dịch
tiếp theo. Giao dịch B2C tuy chiếm tỉ trọng ít (khoảng 10%) trong TMĐT nhưng có
phạm vi ảnh hưởng rộng.
Mô hình này còn khá phổ biến tại Việt Nam vì lợi ích của nó đem lại cho cả
doanh nghiệp lẫn người tiêu dùng. Đối với DN thì tiết kiệm được chi phí bán hàng do
không cần phòng trưng bày hay thuê người giới thiệu bán hàng, chi phí quản lý cũng
giảm hơn còn đối với người tiêu dùng sẽ cảm thấy thuận tiện vì không phải đến tận cửa
hàng và có khả năng lựa chọn và so sánh nhiều mặt hàng cùng một lúc. Một số DN tại
Việt Nam đang áp dụng thành công mô hình này: shopee; lazada; tiki…
1.1.3.3. Mô hình C2C (Customer to Customer)
Mô hình C2C hay còn gọi là mô hình kinh doanh TMĐT C2C được định nghĩa là
các giao dịch TMĐT giữa giữa những người tiêu dùng với nhau. Theo đó cá nhân
người tiêu dùng đưa thông tin về sản phẩm trên mạng và người mua xem thông tin và
đặt mua
1.1.3. Vai trò của thương mại điện tử
Từ những phân tích về đặc điểm của TMĐT, ứng với từng mô hình kinh doanh,
TMĐT có vai trò hết sức quan trọng không chỉ với doanh nghiệp, người tiêu dùng,
chỉnh phủ mà còn cả toàn xã hội.
Vai trò của TMĐT đối với doanh nghiệp
Tăng doanh
Đối tượng khách hàng của DN giờ đã không còn giới hạn về khoảng cách địa lý hay thời gian
thu
làm việc. DN không chỉ bán hàng ở địa bàn mình kinh doanh mà có thể bán hàng rộng khắp
trong nước và nước ngoài. Do đó DN hoàn toàn tiếp cận được số lượng khách hàng lớn, đẩy
cao doanh
Giảm chi phí
thu lợi nhuận của mình.
TMĐT đã giúp cho DN không phải tốn kém quá nhiều cho việc thuê cửa hàng, mặt bằng, nhân
hoạt động
viên phục vụ và cũng không cần phải đầu tư cho nhiều kho chứa. Việc duy nhất cần làm là xây
dựng môt website hay một ứng dụng TMĐT với chi phí vận hành nhỏ và như vậy đã tiết kiệm
được cả chi phí in ấn brochure, catalogue… Đặc biệt với những DN xuất khẩu, các chi phí phát
sinh do khoảng cách có thể giảm thiểu đi đáng kể.
Marketing
Lợi thế cạnh
các chính sách hậu bán hàng…
Việc kinh doanh trên mạng là một “sân chơi” cho sự sáng tạo, nơi đây, các DN tha hồ áp dụng
tranh
những ý tưởng hay nhất, mới nhất về dịch vụ hỗ trợ, chiến lược tiếp thị… Và một khi tất cả các
đối thủ cạnh tranh đều áp dụng TMĐT, thì phần thắng sẽ thuộc về ai sáng tạo hay nhất để tạo ra
nét đặc trưng cho DN, sản phẩm, dịch vụ của mình để có thể thu hút và giữ được khách hàng
Vai trò của TMĐT đối với người tiêu dùng
Nhiều lựa
Thông qua mạng internet, TMĐT cho phép NTD lựa chọn một sản phẩm hoặc dịch vụ mà họ
chọn
lựa chọn từ bất kỳ nhà cung cấp nào ở bất cứ đâu trên thế giới.
Thuận tiện
NTD có thể mua bất kì sản phẩm nào từ bất cứ nơi nào trên thế giới mà không phải di chuyển
khỏi nơi làm việc hoặc nhà của họ thông qua internet. Do thời tiết xấu, mọi người có thể hạn
chế mua sắm ngay cả khi cần thiết, tuy nhiên TMĐT cung cấp sự tiện lợi để mua hàng hóa hoặc
dịch
vụ mà không gây ra bất kỳ ràng buộc vật lý nào.
đầy đủ
Internet cho phép NTD tìm kiếm thông tin sản phẩm, so sánh giá cả và lợi ích và cuối cùng
đánh giá giá trị của nó trước khi cam kết mua hàng.
Thông qua internet, NTD có thể làm rõ tru\y vấn của họ và theo dõi tình trạng giao hàng của họ
khi hàng hóa được gửi đến cho họ. Nếu có bất kì nghi ngờ nào phát sinh trong khi xử lý các sản
phẩm, khách hàng có thể dễ dàng liên hệ với DN qua internet.
Vai trò của TMĐT đối với chính phủ
Thúc đẩy sự
Nền kinh tế tri thức là nền kinh tế công nghệ cao, sử dụng chất xám trong mọi lĩnh vực và lấy
phát triển
tri thức làm động lực, công cụ phục vụ cho mọi hoạt động kinh tế xã hội. Để phát triển nền kinh
nền kinh tế
tế tri thức cần đẩy mạnh ứng dụng những thành tựu KHCN hiện đại cho các ngành kinh tế mũi
tri thức
nhọn, làm tăng giá trị gia tăng ở từng sản phẩm và dịch vụ của mình. Vì vậy, việc phát triển
TMĐT có vai trò tích cực trong việc phát triển nền kinh tế tri thức.
Tăng cường
Hoạt động TMĐT thúc đẩy ứng dụng CNTT vào hoạt động kinh doanh và quản lý. Với tốc độ
Bảng 1.1. Vai trò của thương mại điện tử
1.2. Doanh nghiệp bán lẻ ứng dụng TMĐT
1.2.1. Khái niệm
Theo quy định tại Khoản 6, 7 Điều 3 Nghị định số 09/2018/NĐ-CP của Chính
phủ thì bán lẻ được định nghĩa là “hoạt động bán trực tiếp cho người tiêu dùng cuối
cùng để sử dụng cho sinh hoạt cá nhân, gia đình” [8]
Đặc điểm cơ bản của bán lẻ
- Hàng hóa được mua với mục đích tiêu dùng, không mang tính thương mại do đó
hàng hóa đã được trao đổi không còn cơ hội để quay lại thị trường đồng thời người
mua hàng cũng là người tiêu dùng cuối cùng.
- Người tiêu dùng chủ động và độc lập trong quyết định mua hàng. Thông thường
với hoạt động bán lẻ, doanh nghiệp không có quá trình thăm dò nhu cầu trước khi tiếp
xúc với người tiêu dùng. Người tiêu dùng có khả năng tài chính, có động cơ mua hàng
cụ thể và quyết định tương đối độc lập.
- Hàng hóa đa dạng và phong phú: Phần lớn các DN bán lẻ cung cấp nhiều loại
hàng hóa khác nhau, vừa đáp ứng nhu cầu đa dạng của người tiêu dùng vừa tăng cường
hiệu quả kinh doanh. Trong các cửa hàng chuyên doanh, tùy theo từng chủng loại sản
phẩm, nhà sản xuất còn đa dạng hóa thành nhiều mặt hàng có kích cỡ, chất lượng, màu
sắc, kiểu dáng… khác nhau để NTD có thêm nhiều lựa chọn.
Kinh doanh bán lẻ là một trong các hình thức kinh doanh được ưa chuộng và
cũng là sự lựa chọn phổ biến của nhiều doanh nghiệp hiện nay. Kinh doanh bán lẻ có
thể nói là hình thức kinh doanh thương mại tập trung nhiều vào đối tượng người tiêu
dùng cá nhân, với khả năng mua hàng đơn lẻ số lượng ít.
Hoạt động kinh doanh bán lẻ đã tồn tại từ cổ xưa với nhiều hình thức. Qua đó các
khâu của quá trình mua bán được thực hiện trực tiếp thông qua các trung tâm thương
mại, siêu thị, cửa hàng, bách hóa, chợ… Đây được gọi là mô hình kinh doanh bán lẻ
truyền thống. Nhưng trong thời đại ngày nay gắn liền với nền kinh tế số và CMCN 4.0,