Luận văn thạc sĩ Tín hiệu thẩm mĩ người nông dân trong truyện ngắn của nhà văn Nam Cao - Pdf 58

Edited with the trial version of
Foxit Advanced PDF Editor
To remove this notice, visit:
www.foxitsoftware.com/shopping

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

UBND THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

TRƯỜNG ĐẠI HỌC HẢI PHÒNG
___________________________________

TÍN HIỆU THẨM MĨ NGƯỜI NÔNG DÂN TRONG
TRUYỆN NGẮN CỦA NHÀ VĂN NAM CAO

LUẬN VĂN THẠC SĨ NGỮ VĂN

CHUYÊN NGÀNH: NGÔN NGỮ VIỆT NAM
MÃ SỐ: 60.22.01.02
Người hướng dẫn khoa học: TS. Phạm Thị Kim Anh

HẢI PHÒNG - 2016


Edited with the trial version of
Foxit Advanced PDF Editor
To remove this notice, visit:
www.foxitsoftware.com/shopping

i
LỜI CAM ĐOAN

MỤC LỤC
Trang
LỜI CAM ĐOAN............................................................................................ i
LỜI CẢM ƠN....................................................................................…......... ii
MỤC LỤC.........................................................................................…….... iii
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT .........................................................................v
DANH MỤC BẢNG..................................................................................... vi
MỞ ĐẦU....................................................................................……............. 1
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ MỘT SỐ VẤN ĐỀ CÓ LIÊN QUAN.... 10

1.1. Khái quát về lí thuyết tín hiệu thẩm mĩ văn chương.............................. 10
1.1.1. Khái niệm tín hiệu thẩm mĩ văn chương............................................. 10
1.1.2. Một số đặc tính cơ bản của tín hiệu thẩm mĩ văn chương.................. 13
1.2. Một số vấn đề lí luận và phương pháp phân tích diễn ngôn................... 19
1.2.1. Khái niệm và đặc điểm của diễn ngôn, phân biệt diễn ngôn và văn
bản.................................................................................……........................ 19
1.2.2. Một số lí thuyết phân tích diễn ngôn................................................... 21
1.3. Vài nét về nhà văn Nam Cao và nhân vật người nông dân trong truyện
ngắn Nam Cao.............................................................. ................................ 26
1.3.2. Nhân vật người nông dân trong truyện ngắn Nam Cao........... ........... 26
1.3.2. Nhân vật người nông dân trong truyện ngắn Nam Cao....... ............... 27
1.4. Tiểu kết chương 1..................................................................... ............. 28
CHƯƠNG 2: HÌNH THỨC NGÔN NGỮ BIỂU ĐẠT TÍN HIỆU THẨM MĨ
NGƯỜI NÔNG DÂN TRONG TRUYỆN NGẮN NAM CAO.................... 29
2.1. Khảo sát các truyện ngắn của nhà văn Nam Cao viết về người nông dân....... 29
2.1.1. Cách thức khảo sát............................................................................... 29
2.1.2. Kết quả khảo sát................................................................................... 30
2.2. Hình thức ngôn ngữ biểu đạt các biến thể tín hiệu thẩm mĩ người nông
dân trong truyện ngắn Nam Cao.................................................................... 30
2.2.1. Từ ngữ làm tên gọi nhân vật................................................................ 30

v
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT VÀ KÝ HIỆU
Từ viết tắt

Giải thích

CBH

cái biểu hiện

CĐBH

cái được biểu hiện

DN

diễn ngôn

Nxb

nhà xuất bản

Sp1

người nói

Sp2

người nghe


ý nghĩa thẩm mĩ


vi
DANH MỤC BẢNG, BIỂU
Số
hiệu
bảng

Tên bảng

Trang

2.1

Bảng thống kê kết quả khảo sát ngữ liệu về THTM người
nông dân

30

2.2

Bảng thống kê tiêu chí đặt tên cho nhân vật là nông dân.

2.3

Bảng thống kê, phân loại các yếu tố về hoàn cảnh sống của
33 - 34
người nông dân.



47

2.9

Khảo sát các cuộc thoại và lời thoại của các nhân vật người
48 - 49
nông dân

2.10

Bảng kết quả khảo sát nhân vật giao tiếp, tình huống cuộc
thoại và số lượt lời / cuộc thoại trong "Chí Phèo" và "Lão 49 - 50
Hạc"

2.11

Bảng so sánh quan hệ quyền thế, vị thế giao tiếp và hoàn
cảnh giao tiếp giữa hai nhân vật Chí Phèo – Bá Kiến

50


1
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Trong những năm giữa thế kỷ XX, lí thuyết tín hiệu thẩm mĩ (THTM) (hay ký
hiệu thẩm mĩ) ra đời gắn với khuynh hướng cấu trúc trong nghiên cứu mỹ học và nghệ
thuật trên thế giới. Lí thuyết này được đưa vào giới thiệu ở nước ta từ những năm 70
của thế kỷ trước qua các bản dịch công trình của Iu. A. Philipiep, M.B. Khrapchenkô,

tín hiệu phức (tín hiệu vĩ mô) ở các cấp độ lớn hơn từ.
Bên cạnh đó, gần 30 năm trở lại đây, ngôn ngữ học đã có sự chuyển biến mạnh
mẽ từ khuynh hướng nghiên cứu ngôn ngữ ở trạng thái cấu trúc tĩnh sang nghiên cứu
trạng thái động, trong sử dụng, gắn liền với những thành tựu to lớn của Dụng học, của
Phân tích diễn ngôn. Thành tựu của các phân ngành này cùng một lúc tác động sâu
rộng đến công cuộc nghiên cứu văn học, lĩnh vực phân tích ngôn ngữ văn chương. Có
thể nói, chưa bao giờ, giữa ngôn ngữ học và văn học lại có sự gắn kết, bổ sung cho
nhau những thế mạnh, những thành quả nghiên cứu chặt chẽ đến như thế. Việc vận
dụng các thành tựu mới của ngôn ngữ học vào nghiên cứu tác phẩm của các nhà văn,
nhà thơ đã và đang thu được nhiều kết quả tốt đẹp, song mới chỉ là bước đầu, rất cần
triển khai sâu rộng công cuộc này hơn nữa.
Trong các nhà văn Việt Nam hiện đại, Nam Cao là một cây bút bậc thầy về
nghệ thuật viết truyện ngắn. Truyện của ông luôn thể hiện một ngòi bút già dặn sắc
sảo trong khả năng phản ánh hiện thực, trong việc xây dựng hình tượng nhân vật, đặc
biệt là trong sử dụng ngôn ngữ. Không thể tính hết được đã có bao nhiêu công trình
khoa học nghiên cứu về văn nghiệp Nam Cao, đến mức có nhiều ý kiến cho rằng đã
hình thành một “Nam Cao học”- ngành khoa học chuyên nghiên cứu về Nam Cao và
tác phẩm của ông (cũng như đã từng có một “Truyện Kiều học” đồ sộ). Tuy vậy, qua
tìm hiểu các công trình ấy, chúng tôi đều nhận thấy rằng chưa có ai nghiên cứu các tín
hiệu thẩm mĩ - văn chương trong sáng tác của ông. Thực tế này cũng đúng với tất cả
các sáng tác truyện ngắn, tiểu thuyết của các nhà văn khác.
Thế giới nhân vật của Nam Cao tập trung vào hai tầng lớp xã hội cơ bản là
người nông dân và người trí thức tiểu tư sản nghèo thời Pháp thuộc. Tìm hiểu nghệ
thuật xây dựng thế giới các nhân vật này cũng là một trọng tâm được nhiều nhà
nghiên cứu lâu nay lưu ý và đã thu được nhiều thành tựu. Dưới ánh sáng của lí thuyết
THTM, có thể coi đây cũng là hai THTM (thuộc cấp độ vĩ mô) bao trùm lên toàn bộ
các tác phẩm của ông. Song như trên đã nói, vấn đề này cũng chưa được nhà nghiên
cứu nào đề cập đến.



tác giả Lê Thị Tuyết Hạnh đã ứng dụng phương pháp nghiên cứu ngữ nghĩa học vào


4
việc phát hiện và khẳng định giá trị của một số THTM có tần số xuất hiện cao ở thơ
trong luận văn Một số tín hiệu thẩm mĩ trong thơ tình Xuân Quỳnh [36], từ đó góp cơ
sở cho việc tìm hiểu những đặc sắc và sáng tạo về nội dung cũng như nghệ thuật
của phong cách thơ Xuân Quỳnh. Đến năm 1995 luận án Sự biểu đạt bằng ngôn ngữ
các tín hiệu thẩm mĩ - không gian trong ca dao của tác giả Trương Thị Nhàn [59] đã
vận dụng những phương pháp và kiến thức ngôn ngữ học hiện đại vào nghiên cứu
một phương diện của văn học – phương diện THTM, phát hiện và phân tích ý nghĩa
của các tín hiệu được khảo sát, góp phần đưa ngôn ngữ học vào nghiên cứu văn học
và xử lý THTM trong văn học.
Trong khoảng hơn một thập kỷ trở lại đây, các luận văn sau đại học như: Tín
hiệu thẩm mĩ trong thơ Tố Hữu của Nguyễn Bích Khải (2007) [42] và luận văn Khảo
sát một số tín hiệu thẩm mĩ thuộc trường nghĩa "sông" - "nước" trong ca dao Việt
Nam của Kiều Thị Phong [64]. Luận án Tiến sỹ của Phạm Thị Kim Anh (2005) đã đề
cập đến Tín hiệu thẩm mĩ thuộc trường nghĩa cây trong thơ Việt Nam [7], Ở đó các
tác giả của đã sử dụng phương pháp phân tích ngữ cảnh tu từ để làm rõ giá trị thẩm mĩ
của các tín hiệu được khảo sát.
Luận án của Nguyễn Thị Ngân Hoa Sự phát triển ý nghĩa của hệ biểu tượng
trang phục trong ngôn ngữ thơ ca Việt Nam (2005) [39] đã phân loại và phân tích sự
phát triển ý nghĩa của hệ biểu tượng trang phục trong các giai đoạn thơ ca khác nhau
dưới ánh sáng của lý thuyết về biểu tượng. Luận văn của Nguyễn Ngọc Bích Tìm hiểu
tín hiệu thẩm mĩ hoa trong Truyện Kiều của Nguyễn Du trên ba bình diện: kết học,
nghĩa học, dụng học (2008) [17] đã sử dụng phương pháp phân tích ngữ cảnh tu từ để
làm sáng rõ giá trị của các THTM được khảo sát. Nhiều công trình đã vận dụng khái
niệm “biểu trưng”, “biểu tượng” để nghiên cứu ngôn ngữ tác phẩm văn học, song
thực chất đó cũng là nghiên cứu về THTM. Luận văn của Lưu Văn Din (2013) với
Đặc điểm ngôn ngữ trơ Hàn Mặc Tử từ góc nhìn THTM [27]. Loạt các luận văn về

Cao. Các công trình tiêu biểu là: Nam Cao và đôi nét về nghệ thuật sáng tạo tâm lý,
Hà Minh Đức (Tạp chí văn học số 6, 1982) [31]; Qua việc tìm hiểu về nghệ thuật xây
dựng hình tượng nhân vật người nông dân của Nam Cao thì Phong Lê đã phát hiện
được những nét mới trong những sáng tác của nhà văn trong: Văn học Việt Nam hành
trình của thế kỉ XX, Phong Lê (Nxb. ĐH QGHN, 1997) [49]; Bên cạnh đó còn có:
Nghệ thuật kể chuyện trong tác phẩm Nam Cao, Vũ Khắc Chương (Nxb. Văn học,
2000) [26]; Một vài đặc điểm thi pháp truyện ngắn Nam Cao, Vũ Thăng (Nxb. Quân
đội nhân dân Hà Nội, 2001) [71]...


6
Tóm lại, đã có khá nhiều công trình khoa học nghiên cứu về văn nghiệp Nam
Cao song chưa có ai nghiên cứu các THTM-VC trong sáng tác của ông. Tiếp thu
thành tựu của những người đi trước, luận văn của chúng tôi tập trung vào nghiên cứu
một THTM cơ bản trong sáng tác của ông chưa được nhà nghiên cứu nào đề cập đến.
Đó là: Tín hiệu thẩm mĩ người nông dân trong truyện ngắn của Nam Cao.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu
Tìm hiểu Tín hiệu thẩm mĩ người nông dân trong truyện ngắn của Nam
Cao, chúng tôi nhằm hướng tới những mục đích sau:
- Nắm được sự chuyển hoá từ tín hiệu ngôn ngữ thông thường trở thành tín hiệu
thẩm mĩ trong thế giới nghệ thuật truyện. Chứng minh được tầm phổ quát của lí thuyết
THTM qua kết quả nghiên cứu đề tài, nắm được vai trò hỗ trợ đắc lực cùng cách thức vận
dụng lí thuyết này trong việc tiếp nhận nghệ thuật văn chương nói chung, nghệ thuật xây
dựng nhân vật trong truyện ngắn Nam Cao nói riêng.
- Có cái nhìn khái quát, nhiều chiều về hình tượng người nông dân trong
những truyện ngắn của nhà văn Nam Cao.
- Chúng tôi hi vọng rằng những kết quả đạt được của luận văn này sẽ có những bổ
sung đối với bộ môn ngôn ngữ học và giúp ích thiết thực cho việc giảng dạy tác phẩm của
Nam Cao trong nhà trường từ góc độ vận dụng lí thuyết ngôn ngữ học. Từ đó làm rõ thêm ý

của nhà văn Nam Cao trong Tuyển tập Nam Cao, (NXB Văn học, năm 2016)
[81]. Những tác phẩm này đều ít nhiều viết về người nông dân. Từ 22 truyện
ngắn thu thập được, luận văn tập trung khảo sát các phương tiện ngôn ngữ biểu
thị hoàn cảnh cuộc đời, hành động, tính cách nhân vật, các cuộc hội thoại… của
các nhân vật là nông dân nhằm đi đến đạt được mục đích đã đặt ra.
5. Phương pháp nghiên cứu
Chúng tôi đã vận dụng phối hợp các phương pháp sau để nghiên cứu đề tài:
5.1. Phương pháp thống kê
Luận văn thống kê các từ ngữ, câu văn, đoạn văn biểu thị hoàn cảnh, số
phận, miêu tả ngoại hình, hành động, nội tâm nhân vật, các cuộc đối thoại trực
tiếp, một số cuộc đối thoại, độc thoại nội tâm của nhân vật nông dân… trong 22


8
truyện ngắn Nam Cao. Qua đó, tiến hành phân loại, phân tích đi đến xác định đặc
trưng của THTM người nông dân trong truyện ngắn Nam Cao.
Phương pháp này được sử dụng để tìm ra đầy đủ sự xuất hiện của đối
tượng nghiên cứu. Sau khi thống kê đầy đủ, phương pháp phân loại được sử dụng
để tìm ra những biểu hiện khác nhau của tín hiệu nghệ thuật người nông dân
trong truyện ngắn của Nam Cao.
5.2. Phương pháp miêu tả
Phương pháp này được sử dụng trong suốt quá trình nghiên cứu để phân
tích, miêu tả tất cả các ngữ liệu được khảo sát trong truyện ngắn Nam Cao viết về
người nông dân. Từ các ngữ liệu, chúng tôi tiến hành miêu tả - phân tích các hình
thức ngôn ngữ biểu đạt THVC người nông dân qua các từ ngữ, các câu văn, đoạn
văn, văn bản biểu thị hoàn cảnh, số phận, khắc họa ngoại hình, tính cách nhân
vật, các cuộc đối thoại, độc thoại nội tâm…của các nhân vật nông dân. Dựa vào
những kết quả về việc phân tích- miêu tả các hình thức ngôn ngữ, chúng tôi tiến
hành miêu tả- phân tích nội dung, ý nghĩa của các hình thức ngôn ngữ đó. Đây
chính là cách thức chủ yếu để rút ra các YNTM của THVC được xem xét.

chất, đây là việc tìm hiểu một THTM phức hợp - một hình tượng nhân vật trung tâm
trong hệ thống tác phẩm truyện ngắn của một nhà văn lớn. Kết quả của luận văn giúp
khẳng định tầm phổ quát của lí thuyết THTM, THVC, mặt khác quan trọng hơn, chỉ ra
đường hướng vận dụng lí thuyết này vào nghiên cứu các loại THVC khác nhau, nhất là
nghiên cứu các THVC thuộc cấp độ phức hợp mang tầm vĩ mô trong các tác phẩm văn xuôi.
Đây là lĩnh vực chưa được khai phá rất cần đến sự quan tâm của các nhà nghiên cứu.
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài các phần: Mục lục, Bảng chỉ dẫn viết tắt, Tài liệu tham khảo, phần Chính văn
của luận văn gồm 3 phần: Mở đầu, Nội dung, Kết luận. Phần Nội dung có ba chương như sau:
Chương 1: Cơ sở lí luận và một số vấn đề liên quan.
Chương 2: Hình thức ngôn ngữ của THTM người nông dân trong truyện ngắn Nam Cao.
Chương 3: Ý nghĩa biểu trưng của THTM người nông dân trong truyện ngắn Nam Cao.


10
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ MỘT SỐ VẤN ĐỀ LIÊN QUAN
1.1. Khái quát về lí thuyết tín hiệu thẩm mĩ văn chương
1.1.1. Khái niệm tín hiệu thẩm mĩ văn chương
Khái niệm THTM xuất hiện cùng với khuynh hướng cấu trúc trong nghiên cứu mĩ
học và nghệ thuật từ những năm giữa thế kỉ XX và được tiếp nhận vào Việt Nam từ
những năm 70 qua những bản dịch các công trình khoa học xuất hiện trong các bài viết
của Đỗ Hữu Châu [19], [21], Nguyễn Lai [46], [47], Hoàng Trinh [80], [81],...
Trong công trình của mình, các nhà nghiên cứu tuy chưa đưa ra một định
nghĩa hoàn chỉnh, thống nhất về tín hiệu thẩm mỹ, song họ đều thừa nhận THTM
là yếu tố thuộc hệ thống phương tiện biểu hiện của nghệ thuật. Đó là những
phương tiện nghệ thuật được tập trung theo một hệ thống tác động thẩm mĩ, được
tiếp nhận như là những tín hiệu đặc biệt, có khả năng kích thích mạnh mẽ thế giới
tinh thần của chúng ta.
Trên cơ sở phân tích ý nghĩa thực sự của phương tiện nghệ thuật, tác giả Đỗ
Hữu Châu đã giải thích cụ thể hơn về THTM ngôn ngữ như sau: THTM là phương


Từ sơ đồ này, có thể thấy rằng cả cái hợp thể CBH và CĐBH tạo thành TH
ngôn ngữ đã trở thành CBH cho một CĐBH mới là ý nghĩa thẩm mĩ của THTM
trong tác phẩm văn học. Chính vì thế, trong văn học không được đồng nhất
phương tiện văn học THTM với TH ngôn ngữ thông thường được sử dụng làm
chất liệu của tác phẩm văn học. Chính sự khác biệt có tính vượt cấp này là do vai
trò quyết định của chủ thể sáng tạo. Điều đó khiến cho, nói theo Ch. bally, giữa
cách dùng ngôn ngữ hàng ngày và ngôn ngữ của nhà văn có một vực thẳm không
vượt qua được.
Trong khi đó, cái biểu hiện của THVC là THNN với hai mặt: CBH là âm
thanh ngôn ngữ hoặc chữ viết; CĐBH là ý nghĩa ngôn ngữ. Nhưng do THVC
mang tính chất phi vật thể, việc cảm thụ các THVC diễn ra một cách gián tiếp,
mang tính ước lệ, cho nên ý YNTM, hình tượng nghệ thuật chỉ diễn ra trong ý
thức của chủ thể sáng tạo và chủ thể tiếp nhận, chỉ được cảm thấy chứ không hiện
ra bằng chất liệu bản thể. Cũng chính từ tính chất phi vật thể này mà THVC có
khả năng khơi gợi ý nghĩa với số lượng phong phú phức tạp. THVC cũng mang
đậm sắc thái tinh thần, sắc thái tâm lý, và phụ thuộc vào các nhân tố của ngữ
cảnh giao tiếp nghệ thuật. Theo Nguyễn Lai, đó là kết quả của quá trình chuyển
mã ngữ nghĩa hết sức phức tạp theo nguyên tắc cộng hưởng có định hướng của
nhiều vòng đồng tâm [46] CĐBH của THVC: Do tính đa trị của ngôn ngữ nên
thông thường, khó có thể nói được rạch ròi những nội dung thông tin ngữ nghĩa,
thông tin cảm xúc, giá trị văn hóa, tư tưởng...trong một THNN cụ thể, mà
thường thường những nội dung này đan lồng vào nhau, hàm chứa trong nhau.
Để tạo nên THTM trong văn chương, THNN cần có quá trình chuyển hóa
nhờ sự sáng tạo của nghệ sĩ và sự lĩnh hội, cảm thụ của độc giả. IU.M Lotman


12
viết: “Văn học có tính nghệ thuật nói bằng một thứ ngôn ngữ đặc biệt, thứ ngôn
ngữ được xây chồng lên trên ngôn ngữ tự nhiên với tư cách là hệ thống thứ hai.


13
thứ bậc, quan hệ đồng nhất và đối lập, quan hệ tuyến tính, quan hệ liên tưởng...
Chúng tôi cho rằng một tác phẩm thực sự có giá trị văn chương là một chỉnh
thể nghệ thuật có tính thẩm mĩ, mọi chi tiết của nó đều có giá trị thẩm mĩ, chỉ có
điều giá trị đó đạt mức độ cao hay thấp mà thôi, tùy thuộc vào sự gia công của tác
giả, sự thẩm nhận của độc giả. Chính từ đó cả tác giả và độc giả cần phải nắm rõ bản
chất, đặc điểm của THVC để quá trình lĩnh hội tác phẩm văn chương đạt giá trị cao.
1.1.2. Một số đặc tính cơ bản của tín hiệu thẩm mĩ văn chương
1.1.2.1. Đặc tính về nguồn gốc
THTM thuộc về tác phẩm nghệ thuật, nhưng nó lại có nguồn gốc từ nhiều
phương diện khác nhau trong cuộc sống con người. Trước hết, THTM trong văn
chương có nguồn gốc từ thế giới hiện thực xung quanh con người: tự nhiên và xã
hội.
Trong tự nhiên tồn tại các sự vật và hiện tượng. Nhà văn khi sáng tác đã
quan sát, chiêm nghiệm và nhận ra ý nghĩa thẩm mĩ tiềm tàng ở những sự vật và
hiện tượng trong hiện thực xung quanh mình. Từ đó, họ căn cứ vào những sự vật
hiện tượng đó để xây dựng các THTM thông qua chất liệu là những THNN gọi
tên các sự vật hiện tượng tương ứng. Thế giới hiện thực rất phong phú và đa dạng
là nguồn gốc, là cơ sở rất sinh động cho các THTM trong văn chương.
Nhân vật Chí Phèo và làng Vũ Đại trong truyện ngắn Chí Phèo bất hủ
được Nam Cao lấy từ hiện thực ở quê hương ông. Đó là một ngôi làng cổ, dân ở
đây hễ thấy Chí kêu la, chửi rủa liền ùa đến xem, nhưng về sau lại không ra nữa.
Chí Phèo sinh ra trong một cái lò gạch cũ kĩ, khi cất tiếng khóc chào đời đã bị rũ
bỏ không thương tiếc. Hình ảnh "lò gạch" xuất hiện ở cả đầu và cuối câu chuyện.
Lúc đầu, cái lò gạch này rất nhiều người qua, nhưng sau khi Chí chết thì nó đã bị
bỏ không, vắng người qua lại.
Các sự vật nhân tạo và các hiện tượng xã hội trong cuộc sống của con
người cũng là nguồn gốc cho các THTM. Đối với văn chương, nhiều sự vật, hiện
tượng bình thường trong xã hội loài người đều là nguồn gốc cho các THTM.

nhiều THTM đơn, THTM phức với nhiều cấp độ lớn nhỏ khác nhau.
1.1.2.3. Tính biểu trưng
Là đặc tính của THTM khi xét trong mối quan hệ giữa cái biểu hiện và cái
được biểu hiện. Đây là mối quan hệ có lý do, liên quan đến năng lực biểu trưng
hóa của các yếu tố, các chi tiết, các sự vật, hiện tượng được đưa vào làm THTM


15
trong tác phẩm. Theo Đỗ Hữu Châu [19, tr. 103] “tính biểu trưng là khả năng
gợi ra một đối tượng khác ngoài sự thể hiện cụ thể của dấu hiệu đó và được cộng
đồng chấp nhận”. Ch.S. Pierce cho rằng: “Biểu trưng có quan hệ với đối tượng
của nó chỉ qua một nghĩa có tính chất ước lệ mà người ta gán cho nó trong một
hoàn cảnh nào đó... Nghĩa đó là do con người trong cộng đồng đặt ra mà thôi.”
(Dẫn theo [7, tr. 26]. Biểu trưng, một mặt có tính hình tượng cụ thể, cái biểu hiện
nó là một đối tượng nào đó được quy chiếu từ hiện thực. Mặt khác, đó là ý nghĩa
xã hội nào đó được cả cộng đồng chấp nhận. Tính chất ước lệ chung cho cái biểu
hiện này chính là tính có lý do trong THTM nói chung. Đặc tính này còn cho
thấy lối tư duy, quan niệm xã hội ... gắn với một cộng đồng nào đấy, từ đó hình
thành ý nghĩa xã hội nào đó, được cả cộng đồng chấp nhận. THTM Chí Phèo đã
đi vào đời sống và trở thành một cái tên để chỉ những kẻ lưu manh côn đồ hung
dữ. Trong ngôn ngữ đời thường và trong văn chương, cái tên Chí Phèo được
dùng để gọi về một người nào đó với sự khinh miệt. Danh từ Chí Phèo đã thành
một tính từ để chỉ một kiểu người đặc biệt trong xã hội mà người ta đã quen
dùng. Đó là loại người thô bạo, hay ăn vạ, say rượu triền miên rồi gây sự, chửi
đổng… có nhiều nét giống nhân vật Chí Phèo trong truyện.
1.1.2.4. Tính truyền thống và cách tân
Theo Đỗ Hữu Châu: “Truyền thống và cách tân là hai phương diện biện
chứng của THTM” [21]. Nói đến tính truyền thống là nói đến tính cố định, tính lặp
lại, tính kế thừa, có sẵn của THTM trong kho tàng nghệ thuật của một dân tộc. Nói
đến cách tân là nói đến sự đổi mới, sự sáng tạo trong việc sử dụng THTM của mỗi

mang lại cho chúng những YNTM mới. Điều này chỉ có được thông qua sự sáng
tạo của người nghệ sĩ. Các THTM về người nông dân cụ thể trong truyện của
Nam Cao như Chí Phèo, Thị Nở, Lão Hạc, vợ chồng anh đĩ Chuột, Lộ… đều
giống nhau, giống với muôn triệu người nông dân Việt xưa ở số phận nghèo hèn
cùng cực nhưng mỗi người lại có cảnh ngộ cụ thể rất khác nhau, tính cách rất
khác nhau, không ai giống ai. Nói các THTM này vừa có tính truyền thống vừa
có tính hiện đại là vì vậy.
1.1.2.5. Tính đẳng cấu
Đẳng cấu là sự giống nhau về quan hệ, về nội dung nhưng khác nhau về
hình thức biểu hiện. Iu.A.Philipiep đã rất chú ý tới đặc tính về sự đẳng cấu thông
tin của THTM khi cho rằng: "Những biểu hiện vật lí của TH có thể khác nhau


17
nhưng ý nghĩa của TH vẫn chỉ là một." (Dẫn theo [81, tr. 17]).
Đỗ Hữu Châu cũng khẳng định: “Rất nhiều THTM được sử dụng trong văn học,
trong hội họa, trong điện ảnh, trong âm nhạc như những tín hiệu đồng nghĩa (có thể là
đồng cảm xúc), chỉ khác nhau ở sự thể hiện bằng các chất liệu riêng của từng ngành"
[21]. Tính đẳng cấu của THTM không chỉ biểu hiện qua các ngành nghệ thuật khác nhau
mà còn qua từng hệ thống, từng kết cấu, từng lần xuất hiện khác nhau của các TH trong hệ
thống. Theo Phạm Thị Kim Anh: “Nghĩa của từng tín hiệu là khác nhau, quan hệ nghĩa
giữa các tín hiệu trong từng cặp cũng khác nhau, song nếu cùng đặt vào trong một hệ
thống nào đó, chúng lại có quan hệ, ý nghĩa, cảm xúc giống nhau” [1, tr. 20]. Điều này cho
phép chúng ta đặt các TH trong quan hệ với các yếu tố cấu thành tác phẩm, ở phương diện
trực tuyến, lại có thể xem xét trên trục đồng đại hay lịch đại. Đó cũng là cơ sở cho quan hệ
lựa chọn và quan hệ kết hợp của TH.
Có thể nhấn mạnh thêm rằng tính đẳng cấu của THTM còn được thể hiện trong
tương quan giữa các hệ thống hoạt động của THTM. Tham gia vào một hệ thống, tức là
tham gia vào một kết cấu, một mạng quan hệ không giống với các hệ thống khác trong
THTM có thể đồng nghĩa trong những hình thức kết cấu khác nhau của các hệ thống. Giữa

F.De.Saussure đã tuyệt đối hóa tính nội tại của hệ thống. Nội tại là khi
nghiên cứu một hệ thống chỉ cần biết bản thân hệ thống, xem xét trong lòng hệ
thống đó, không cần xem xét môi trường bên ngoài tác động đến hệ thống đó.
Khi nghiên cứu một tác phẩm văn học, người nghiên cứu chỉ cần nắm được
những quan hệ và phát hiện ra cấu trúc nội tại của tác phẩm đó là được.
Hiện nay, quan điểm hệ thống đã vượt ra khỏi giới hạn của luận điểm về
tính nội tại. Hệ thống có mặt nội tại nhưng cũng có tính hướng ngoại. Tính hệ
thống của THTM được xem xét từ hai khía cạnh: Khía cạnh nội tại (cấu trúc), với
những quy luật thuộc cấu trúc tác phẩm. Khía cạnh ngoại tại (chức năng) với
những quy luật về sự hoạt động thực hiện các chức năng giao tiếp của sáng tạo
nghệ thuật.
Nghiên cứu THTM thực chất là nghiên cứu những biến thể của nó qua mỗi
lần xuất hiện. Chính vì vậy, thực chất của việc nghiên cứu hệ thống THTM là
nghiên cứu cấu trúc hình thức, mang tính cụ thể, biểu kiến của tác phẩm nghệ
thuật. Xem xét THTM người nông dân trong tác phẩm của Nam Cao theo đó,



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status