Đề tài khoa học: Nghiên cứu nội dung và phương pháp tính chỉ tiêu giá trị sản xuất, chi phí trung gian, giá trị tăng thêm của các tổ chức hoạt động không vì lợi ở Việt Nam - Pdf 58

ĐỀ TÀI KHOA HỌC
SỐ: 2.2.6-CS06
NGHIÊN CỨU NỘI DUNG VÀ PHƢƠNG PHÁP TÍNH CHỈ TIÊU GIÁ
TRỊ SẢN XUẤT, CHI PHÍ TRUNG GIAN, GIÁ TRỊ TĂNG THÊM
CỦA CÁC TỔ CHỨC HOẠT ĐỘNG KHÔNG VÌ LỢI Ở VIỆT NAM
1. Cấp đề tài

: Cơ sở

2. Thời gian nghiên cứu : 2006
3. Đơn vị chủ trì

: Vụ Hệ thống tài khoản Quốc gia

4. Đơn vị quản lý

: Viện Khoa học Thống kê

5. Chủ nhiệm đề tài

: CN. Nguyễn Văn Nông

6. Những ngƣời phối hợp nghiên cứu:
CN. Hoàng Trung Đông
CN. Phạm Đình Hàn
CN. Nguyễn Văn Minh
CN. Khổng Đỗ Quỳnh Anh
7. Điểm đánh giá nghiệm thu đề tài: 8,4 / Xếp loại: Khá

340


và có tƣ cách luật pháp trong việc sát nhập, giải thể. Không bao gồm ở đây
một nhóm hoặc tập hợp một số ngƣời mang tính chất tạm thời và không có
một cơ cấu tổ chức thực sự”. Đặc biệt, ở đây bao gồm cả các tổ chức không
chính thức, tức là các tổ chức không thật sự đầy đủ tƣ cách pháp nhân tuy
nhiên chúng lại có cơ cấu tổ chức nội bộ và mang tính bền vững và đƣợc xã
hội thừa nhận.
341


b/ Không vì mục đích lợi nhuận đƣợc hiểu là các đơn vị không vì lợi là
những tổ chức có hoạt động, mục đích chính không vì lợi nhuận, dù là trực
tiếp hay gián tiếp, không vì các mục đích thƣơng mại hay mục đích lợi
nhuận. Các đơn vị không vì lợi này có thể kiếm đƣợc giá trị thặng dƣ trong
quá trình hoạt động của nó, tuy nhiên, tất cả các khoản thặng dƣ này đều
đƣợc tái đầu tƣ vào các hoạt động của đơn vị, chứ không phân bổ cho các tổ
chức, ngƣời sở hữu, thành viên, ngƣời sáng lập hay hội đồng quản lý của đơn
vị. Điều này không ngụ ý rằng một đơn vị không vì lợi không thể có giá trị
thặng dƣ trong quá trình hoạt động”.
c/ Sự tách biệt về mặt thể chế đối với chính phủ, điều này có nghĩa là
các tổ chức này không phải là các cơ quan chính phủ, nó không có trách
nhiệm thực hiện các chức năng của cơ quan chính phủ. Tổ chức này có thể
nhận đƣợc những hỗ trợ quan trọng từ phía chính phủ, và ban điều hành của
nó có thể có ngƣời của chính phủ, tuy nhiên, nó có quyền tự chủ cả về hoạt
động sản xuất cũng nhƣ sử dụng nguồn tài chính của mình do vậy các hoạt
động của nó không nhất thiết phải tuân theo các qui định về tài chính của
chính phủ. “Điểm quan trọng mấu chốt ở đây là tổ chức này có định chế riêng
tách biệt so với chính phủ, có nghĩa là nó không phải là một công cụ của đơn
vị nhà nƣớc, bất cứ ở mức độ quốc gia hay cấp tỉnh, do vậy nó không thực
hiện các chức năng của một cơ quan nhà nƣớc”.
d/ Độc lập đƣợc hiểu là các đơn vị có khả năng tự chủ về các hoạt động

II. Đặc tính, mục đích và loại hình hoạt động của các đơn vị không vì lợi
1. Các đặc tính cơ bản của đơn vị không vì lợi
1.1. Phần lớn đƣợc thành lập theo luật mà sự tồn tại của chúng là độc lập
với các đối tƣợng (ngƣời, doanh nghiệp hoặc chính phủ), quản lý và cung cấp
tài chính cho chúng. Đặc biệt ở các nƣớc đang phát triển, nhiều đơn vị không
vì lợi đƣợc xã hội, cộng đồng thành lập do vậy chúng không có tƣ cách pháp
nhân và đƣợc tạo ra với mục đích cung cấp các sản phẩm, dịch vụ phi thị
trƣờng cho đối tƣợng dân cƣ, hộ gia đình.
1.2. Nhiều đơn vị không vì lợi đƣợc quản lý bởi một tổ chức mà trong tổ
chức này các thành viên của nó là hoàn toàn bình đẳng.
1.3. Các thành viên trong tổ chức không đƣợc phép sử dụng những lợi
nhuận do các đơn vị không vì lợi có đƣợc, những lợi nhuận đó đƣợc giữ lại
tại đơn vị để phục vụ cho các hoạt động của đơn vị trong tƣơng lai.
1.4. Khái niệm “không vì lợi” bắt nguồn từ qui định (3) ở trên, tuy nhiên
điều đó không ngụ ý rằng các đơn vị không vì lợi không thể kiếm đƣợc lợi
nhuận từ các hoạt động của mình.
2. Mục đích và các loại hình hoạt động của các đơn vị không vì lợi
2.1. Các đơn vị không vì lợi được thành lập với nhiều mục đích khác nhau:
- Một số đơn vị không vì lợi đƣợc thành lập để cung cấp các dịch vụ vì
lợi ích của cá nhân các đơn vị thành viên hay của đơn vị quản lý hoặc cấp
kinh phí cho chúng (đơn vị chủ quản, có thể là doanh nghiệp).
- Một số đơn vị không vì lợi đƣợc thành lập vì mục đích từ thiện, nhân
đạo nhằm cung cấp sản phẩm vật chất hay dịch vụ cho các hộ gia đình gặp
khó khăn trong cuộc sống.
343


- Một số đơn vị đƣợc thành lập để cung cấp dịch vụ giáo dục hoặc y tế
không thu tiền.
- Một số đơn vị không vì lợi đƣợc thành lập để bảo vệ ích lợi của tập thể

phục vụ hộ gia đình
(NPISHs)

Trong SNA năm1993 đã phân biệt hai nhóm loại hình hoạt động của các
đơn vị không vì lợi khác nhau, đó là:
a. Đơn vị không vì lợi có tính chất thị trường
Các đơn vị không vì lợi thuộc nhóm này bán hầu hết hoặc tất cả sản
lƣợng của mình cho ngƣời tiêu dùng với giá có ý nghĩa kinh tế, tức là, với giá
dự tính là có ảnh hƣởng đáng kể cả về số lƣợng đƣợc cung lẫn số lƣợng đƣợc
cầu, có thể lãi hoặc bị lỗ. Song về nguyên tắc, giá trị thặng dƣ (khoản lãi)
đƣợc giữ lại làm vốn của đơn vị, không đƣợc phân chia cho những ngƣời
điều hành đơn vị nhƣ các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh khác. Đơn vị
không vì lợi có tính chất thị trƣờng gồm hai loại sau:
344


a.1) Đơn vị không vì lợi có tính thị trƣờng liên quan tới sản xuất
Các đơn vị không vì lợi có tính thị trƣờng liên quan tới sản xuất là các
đơn vị có sản phẩm sản xuất đƣợc đem bán trên thị trƣờng, theo giá thị
trƣờng để nhằm thu đƣợc giá trị thặng dƣ. Tuy nhiên, do tính chất không vì
lợi, giá trị thặng dƣ sẽ đƣợc giữ lại chứ không phân chia cho các thành viên
của đơn vị. Nguồn vốn chủ yếu để các đơn vị này chủ yếu là do khách hàng
chi trả (tiền học phí, tiền viện phí, tiền vé xem biểu diễn nghệ thuật...), ngoài
ra do chức năng hoạt động, đơn vị cũng có thể huy động các nguồn vốn bổ
xung từ các nhà tài trợ khác. Đơn vị không vì lợi liên quan tới sản xuất có
tính thị trƣờng thƣờng gặp trong thực tế là các đơn vị hoạt động trong các
lĩnh vực giáo dục, đào tạo, y tế...
a.2) Đơn vị không vì lợi có tính thị trƣờng phục vụ kinh doanh
Các đơn vị này do các hiệp hội kinh doanh thành lập với mục đích phát
triển và bảo vệ lợi ích kinh doanh nhƣ: các hiệp hội thủy sản, hiệp hội mía

đơn vị thể chế thƣờng trú không vì lợi phi thị trƣờng (trừ những đơn vị chịu
sự quản lý và kinh phí do Chính phủ cấp).
Khu vực không vì lợi phục vụ hộ gia đình phi lợi nhuận đƣợc phân
thành 2 nhóm chính nhƣ sau:
(1) Nhóm thứ nhất: Các đơn vị không vì lợi phục vụ hội viên
Bao gồm các tổ chức, hiệp hội đƣợc thành lập từ các đơn vị thành viên
cung cấp sản phẩm vật chất và dịch vụ gắn với lợi ích của từng thành viên.
Các dịch vụ này cung cấp miễn phí và đƣợc tổ chức sản xuất dựa trên nguồn
tài chính đóng góp thƣờng xuyên hoặc tiền hội phí của các hội viên.
(2) Nhóm thứ hai: Các đơn vị không vì lợi làm công tác từ thiện
Bao gồm các tổ chức hiệp hội từ thiện, cứu trợ đƣợc thành lập với mục
đích nhân đạo; không phục vụ lợi ích cá nhân của các thành viên trong tổ
chức hiệp hội. Các tổ chức không vì lợi nhuận này cung cấp sản phẩm vật
chất và dịch vụ cho các hộ gia đình gặp hoàn cảnh khó khăn do thiên tai, bão
lụt, đói nghèo... Nguồn tài chính và hàng hoá cứu trợ của các tổ chức này dựa
vào sự đóng góp, viện trợ của các tổ chức, doanh nghiệp, của Chính phủ và
của các cá nhân dân cƣ trong và ngoài nƣớc.
PHẦN II
NỘI DUNG, PHẠM VI VÀ PHƢƠNG PHÁP TÍNH GIÁ TRỊ SẢN XUẤT,
CHI PHÍ TRUNG GIAN, GIÁ TRỊ TĂNG THÊM CỦA CÁC ĐƠN VỊ HOẠT
ĐỘNG KHÔNG VÌ LỢI THUỘC CÁC NHÓM NGÀNH KINH TẾ Ở VIỆT NAM
A. Đơn vị và phạm vi hoạt động của các đơn vị không vì lợi thuộc nhóm
ngành kinh tế
1. Đơn vị không vì lợi
Đơn vị không vì lợi trong các nhóm ngành: giáo dục, đào tạo, nghiên
cứu khoa học công nghệ; văn hoá thể thao, vui chơi giải tri; y tế cứu trợ xã
346


hội, vệ sinh môi truờng, dịch vụ nhà ở, dịch vụ pháp lý - chính sách, hiệp hội

+ Các hoạt động vui chơi giải trí khác.
347


2.3. Hoạt động y tế cứu trợ xã hội và vệ sinh môi trƣờng mang tính
không vì lợi đƣợc thực hiện trên các lĩnh vực và loại hình:
- Hoạt động y tế và chăm sóc sức khoẻ
- Hoạt động thú y
- Hoạt động cứu trợ xã hội
- Hoạt động vệ sinh và bảo vệ môi trƣờng
2.4. hoạt động dịch vụ nhà ở là những hoạt động tƣ vấn, sở hữu, quản lý
và phát triển quỹ nhà ở (thuộc nhà trung cƣ, nhà tập thể, nhà trọ, nhà từ thiện
vv…) để cho hộ gia đình và cá nhân dân cƣ sử dụng làm nơi ở hoặc làm nơi
hoạt động mang tính chất từ thiện, cho các đơn vị và tổ chức hoạt động không
vì lợi khác sử dụng, với hai loại hình thức cung ứng dịch vụ sử dụng cho tiêu
dùng cuối cùng của hộ gia đình hoặc phục vụ cho tổ chức và đơn vị khác mà
không thu lợi nhuận, cụ thể là:
+ Cho mƣợn hoặc cho thuê hoặc tƣ vấn nhà ở với giá không có lợi
nhuận, tức là với giá chỉ đủ chi phí quản lý cho hoạt động dịch vụ đó mà
không có giá trị thặng dƣ sản xuất.
+ Cho các hộ gia đình hoặc tổ chức không vì lợi khác sử dụng không
phải chi trả một khoản chi phí nào cả - tức là hộ gia đình đƣợc hƣởng thụ
hoặc tổ chức không vì lợi khác sử dụng mà không mất tiền thuê.
- Đối với dịch vụ tƣ vấn pháp lý và nghiên cứu chính sách gồm các hoạt
động mang tính tự nguyện phục vụ do cá nhân dân cƣ, hộ gia đình và các tổ
chức về:
+ Tƣ vấn và giúp đỡ thực hiện các văn bản pháp qui và các chính sách
chế độ của nhà nƣớc; dịch vụ luật sƣ, biện hộ, giám hộ bảo vệ quyền công
dân, quyền con ngƣời, thám tử điều tra thu thập chứng cứ liên qan đến bảo vệ
quyền và nghĩa vụ công dân…Những dịch vụ này hộ gia đình, cá nhân, dân

đồ vật có giá trị …thì các khoản đó không coi là chi phí cho dịch vụ tôn giáo
mà là hình thức chuyển nhƣợng hiện hành không có điều kiện.
3. Giá trị sản xuất, chi phí trung gian và giá trị tăng thêm của hoạt động
giáo dục, đào tạo và nghiên cứu khoa học công nghệ đƣợc tính theo hai loại
giá: giá thực tế và giá so sánh.
B. Nội dung, phƣơng pháp tính giá trị sản xuất, chi phí trung gian và giá
trị tăng thêm
1. Theo giá thực tế
1.1. Giá trị sản xuất
Do đặc thù và tính chất khác nhau về điều kiện và nhiệm vụ hoạt động
của các đơn vị hoạt động không vì lợi nên giá trị sản xuất đƣợc tính theo các
phƣơng pháp sau:
a. Đối với các đơn vị hoạt động hoạt động không vì lợi mang tính chất
thị trƣờng:
349


Giá trị sản xuất (theo giá cơ
=
bản hay giá sản xuất) trong kỳ

Doanh thu tiêu thụ thuần hoặc doanh thu tiêu
thụ sản phẩm dịch vụ của đơn vị hoạt động
không vì lợi mang tính thị trƣờng trong kỳ

b. Đối với các đơn vị không vì lợi hoạt động mang tính chất phi thị
trƣờng đƣợc dựa trên chi phí cho hoạt động sản xuất trong kỳ của đơn vị để
tính:
=


động tình nguyện) đều đƣợc thể hiện trong giá trị sản phẩm hàng hoá và dịch
vụ. Nhƣng đối với những sản phẩm hàng hoá và dịch vụ các đơn vị không vì
lợi, không mang tính thị trƣờng lại gặp khó khăn, nhất là lao động tình
nguyện không trả lƣơng chƣa đƣợc thể hiện trong chi phí hoạt động sản xuất
của đơn vị, v.v… Do đó chƣa đánh gia đúng kết quả dịch vụ đã đƣợc tạo ra,
vì vậy theo Sổ tay về các đơn vị không vì lợi trong Tài khoản quốc gia của
thống kê Liên hợp quốc và trƣờng đại hoc Jóhn Hopkins đã đƣa ra khuyến
nghị giá trị dịch vụ từ kết quả lao động tình nguyện đƣợc đánh giá bằng giá
trị ngày công (hay giờ công lao động tình nguyện).

350


Giá trị công
lao động
tình nguyện
trong kỳ

Tổng số ngày công hoặc giờ
công lao động tình nguyện
=
trong kỳ (chia theo loại hình,
nhóm ngành hoạt động…)

x

Mức lƣơng hoặc thù lao lao động bình
quân cho 1 ngày công hoặc giờ công
của loại công việc tƣơng ứng có trả
lƣơng hoặc trả công của loại hình,


- Chi phí hội nghị, tập huấn nghiệp vụ, v.v… (không kể tiền bồi dƣỡng
giảng viên, báo cáo viên)
- Chi công tác phí (không kể tiền phụ cấp công tác phí)
- Chi cho đoàn ra và đoàn vào (không kể: tiền ăn, tiền tiêu vặt và phụ
cấp công tác phí)
- Chi sửa chữa thƣờng xuyên TSCĐ
- Chi thanh toán hợp đồng với bên ngoài về thuê điều tra, khảo sát, thăm
dò dƣ luận, chi nghiệp vụ chuyên môn, chi kỷ niệm những ngày lễ lớn, v.v…
b. Đối với những đơn vị không vì lợi chƣa thực hiện chế độ hạch toán
thu chi đầy đủ
Chi phí trung gian của
đơn vị hoạt động không
vì lợi chƣa thực hiện chế
độ hạch toán thu chi đầy
đủ trong kỳ

Giá trị sản xuất của các
Tỉ lệ chi phí trung
đơn vị hoạt động không
gian so với Giá trị
=
vì lợi chƣa thực hiện
x sản xuất của các
chế độ hạch toán thu chi
đơn vị điều tra
trong kỳ
mẫu trong kỳ

1.3. Giá trị tăng thêm

suy theo chỉ số khối lƣợng để tính Giá trị sản xuất theo giá so sánh năm gốc.
Ví dụ đối với ngành giáo dục đào tạo:

GOt,to(GD)

Giá trị sản xuất của hoạt
= động giáo dục đào tạo của x Iqt,to(DVGD)
năm gốc theo giá so sánh

Trong đó:

Iqt,to(DVGD) =

Số lƣợng học sinh, sinh viên, học viên thuộc
khu vực không vì lợi của năm cần nghiên cứu t
Số lƣợng học sinh, sinh viên, học viên thuộc
khu vực không vì lợi của năm gốc so sánh to

(Lƣu ý: chỉ số khối lƣợng (Iqt,to) có thể tính riêng cho từng cấp học, bậc
học nhƣ: mầm non, tiểu học, trung học cơ sở, trung học phổ thông, trung học
chuyên nghiệp, cao đẳng đại học và trên đại học).
b. Chi phí trung gian theo giá so sánh
Chi phí trung gian theo giá so sánh năm to của hoạt động không vì lợi
đƣợc tính theo công thức sau:
ICt ,to ( kvl)

ICt ,t ( kvl)
I pvt,to

Trong đó:

MỘT SỐ KIẾN NGHỊ VÀ NHỮNG GIẢI PHÁP THỰC HIỆN ÁP DỤNG
TÍNH NHỮNG CHỈ TIÊU TỔNG HỢP CỦA CÁC HOẠT ĐỘNG
KHÔNG VÌ LỢI Ở VIỆT NAM
1. Một số kiến nghị hƣớng triển khai áp dụng tính các chỉ tiêu tổng hợp
của khu vực không vì lợi ở Việt Nam
Để đáp ứng đƣợc các yêu cầu đang đặt ra nhƣ trên phải tiến hành thực
thi một số đề suất sau:
* Thứ nhất: Sớm triển khai áp dụng tính các chỉ tiêu thống kê về khu
vực không vì lợ.i
* Thứ hai: Quan tâm và đầu tƣ thích đáng cho việc nghiên cứu, tính toán
và lập các tài khoản vệ tinh của khu vực không vì lợi.

354


* Thứ ba: Nghiên cứu ứng dụng lập tài khoản vệ tinh của khu vực không
vì lợi của Liên hợp quốc vào điều kiện Việt Nam.
* Thứ tƣ: Hợp tác và trao đổi, hoc tập kinh nghiệm đối với các tổ chức
quốc tế và các nƣớc khu vực về việc áp dụng tính và lập tài khoản khu vực
không vì lợi.
2. Những giải pháp thực hiện
Để giải quyết đƣợc các vấn đề trên cần thực hiện các giải pháp sau:
1. Xây dựng danh mục các đơn vị không vì lợi và được cập nhật thường
xuyên hàng năm
Để làm cơ sở cho việc điều tra, thu thập thông tin thống kê nhằm đáp
ứng yêu cầu tính các chỉ tiêu tổng hợp nhƣ: giá trị sản xuất, chi phí trung
gian, giá trị tăng thêm…Và tiến tới lập tài khoản vệ tinh của khu vực không
vì lợi, phải xây dựng đƣợc danh mục các đơn vị hoạt động không vì lợi, dữ
liệu này phải đƣợc phân tổ, phân loại một cách có hệ thống và toàn diện và
thƣờng xuyên đƣợc cập nhật hàng năm.

lĩnh vực các loại hình các khu vực cũng nhƣ các loại hình vùng, lãnh thổ về
các điều kiện hoạt động (kể cả lao động), tài sản, cơ sở vật chât, chi phí sản
xuất và kết quả hoạt động sản xuất và dịch vụ của các đơn vị và tổ chức
không vì lợi mà các nguồn thông tin từ chế độ báo cáo, hồ sơ hành chính và
các cuộc điều tra thống kê định kỳ và thƣờng xuyên chƣa bao quát hết, trên
cơ sở đó tính các hệ số cơ bản phục vụ cho việc biên soạn các chỉ tiêu chủ
yếu của các khu vực không vì lợi cũng nhƣ các chỉ tiêu thuộc hệ thống tài
khoản quốc gia theo ku vực thể chế.
4. Tiến hành nghiên cứu và tổ chức thu thập thông tin phục vụ cho việc
đánh giá lao động tình nguyện phù hợp với điều kiện Việt Nam
4.1. Thông thường việc thu thập thông tin về lao động tình nguyện thông qua
các hình thức sau:
- Lồng nghép và kết hợp trong các cuộc điều tra
- Tiến hành điều tra trực tiếp từ các đơn vị và tổ chức không vì lợi.
4.2. Để tính toán giá trị quy đổi của lao động tình nguyện người ta cần quan
tâm đến các chỉ tiêu sau:
- Số lƣợng tình nguyện viên phân theo ngành và loại hình hoạt động
- Số lƣợng giờ làm công việc tình nguyện cho mỗi tình nguyện viên.
Giá trị ngày công hoặc giờ công trung bình của mỗi tình nguyện viên
(theo ngành và loại hình hoạt động). Giá trị ngày công hoặc giờ công lao
động tình nguyện đƣợc quy ƣớc bằng mức tiền lƣơng hoặc tiền công trung
bình của những loại lao động và công việc tƣơng tự của đơn vị có trả lƣơng
và trả công.
356




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status