Báo cáo khoa học Nghiên cứu thực trạng và giải pháp hoàn thiện hệ thống quy hoạch sử dụng đất đai trong thời kỳ công nghiệp hóa - Pdf 13

B TI NGUYấN V MễI TRNG
VIN KHOA HC O C V BN
ng Hong Quc Vit - Qun Cu Giy - H Ni

^]

BO CO TNG KT KHOA HC V K THUT

Chng trỡnh:
nghiên cứu thực trạng và giải pháp
hoàn thiện Hệ THốNG quy hoạch sử dụng
đất đai trong thời kỳ công nghiệp hóa
Ch nhim Chng trỡnh: TS. Nguyn Dng Tin


BO CO TNG KT KHOA HC V K THUT

Chng trỡnh:
nghiên cứu thực trạng và giải pháp
hoàn thiện Hệ THốNG quy hoạch sử dụng
đất đai trong thời kỳ công nghiệp hóa
S ng ký: H Ni, ngy thỏng nm 2010.
CH NHIM TI TS. Nguyn Dng Tin
H Ni, ngy thỏng nm 2010.
C QUAN CH TRè TI
KT.VIN TRNG
PHể VIN TRNG
VKHB
3 DANH SÁCH NHỮNG NGƯỜI THỰC HIỆN
TT Họ và tên
Học hàm,
học vị
Cơ quan công tác
A
Chủ nhiệm chương trình:
Nguyễn Dũng Tiến

TS

Viện Nghiên cứu Địa Chính
B Các cố vấn chương trình

1.
Tôn Gia Huyên
CV cao cấp Hội Khoa học đất VN
2.
Nguyễn Đình Bồng
TS Hội Khoa học đất VN
C Trợ lý Chủ nhiệm hương trình

Phạm Quốc Quân


4

MC LC Ni dung Trang
(1)
(2)
đặt vấn đề
8
Chơng 1. Tổng luận về quy hoạch sử dụng đất đai
11
1.1. Đất đai và sử dụng đất
11
1.1.1. Đặc tính và chức năng của đất đai
11
1.1.1.1 Khái niệm về đất và đất đai
11
1.1.1.2. Đặc tính
13

1.2.1.3. Tính chất của quy hoạch sử dụng đất
41
1.2.2. Nhiệm vụ và đối tợng nghiên cứu của quy hoạch sử dụng đất
44
1.2.2.1. Nhiệm vụ
44
1.2.2.2. Đối tợng nghiên cứu

48
1.2.2.3. Lịch sử quy hoạch sử dụng đất của Việt Nam

49
1.2.3. Quy hoạch sử dụng đất nớc ngoài

57
1.2.3.1. Quy hoạch sử dụng đất đai ở khu vực Đông Bắc
á

57
1.2.3.2. Quy hoạch sử dụng đất đai của một số nớc Châu Âu

63
1.3. cơ sở lý luận của khoa học quy hoạch sử dụng đất

66
1.3.1. Quan điểm phát triển khoa học
66
1.3.1.1. Nội dung
66
1.3.1.2.

ng dụng trong quy hoạch sử dụng đất

98
1.4. nguyên lý kỹ thuật của quy hoạch sử dụng đất

100
1.4.1. Khái niệm
100
1.4.1.1. Khái niệm vĩ mô
101
1.4.1.2. Khái niệm kỹ thuật
102
1.4.2. Nguyên tắc và căn cứ
103
1.4.2.1. Nguyên tắc cơ bản
103
1.4.2.2. Căn cứ của quy hoạch sử dụng đất
106
1.4.3. Hệ thống và mô hình quy hoạch sử dụng đất
108
1.4.3.1. Hệ thống
108
1.4.3.1. Mô hình
108
1.5. đánh giá chung phần tổng luận

110
1.5.1. Tổng luận
110
1.5.2. Kinh nghiệm của nớc ngoài

2.2.2. Kết quả điều tra xã hội học

124
2.2.3. Nhận xét tổng quát kết quả điều tra

131

6

Chơng 3: giải pháp hoàn thiện quy hoạch sử dụng
đấtở việt nam trong thời kỳ công nghiệp hóa
133
3.1. công nghiệp hóa tác động đến QH sử dụng đất
133
3.1.1. Công nghiệp hóa với quy hoạch sử dụng đất
133
3.1.2. Các yếu tố tác động đến QHSDĐ thời kỳ công nghiệp hóa
134
3.2. Đề xuất các giải pháp hoàn thiện quy hoạch sử dụng đất
ở việt nam trong thời kỳ công nghiệp hóa
137
3.2.1. Một số quan điểm cơ bản trong công tác quy hoạch sử
dụng đất

137
3.2.2. Tổng hợp các giải pháp hoàn thiện hệ thống quy hoạch sử dụng đất thời
kỳ công nghiệp hóa ở nơc ta

139
3.2.2.1.

3.3.3.1. Mô hình toán kinh tế của việc cân đối các loại đất giữa các ngành kinh
tế quốc dân
160
3.3.3.2. Một số chỉ tiêu để xây dựng mô hình cân đối quỹ đất quốc gia giữa
các ngành kinh tế quốc dân trong bài toán quy hoạch sử dụng đất đến năm 2020
170
3.3.4. Trình tự chuẩn bị thông tin phục vụ việc giải quyết bài toán quy hoạch s


dụng đất theo phơng pháp quy hoạch tuyến tính

176
3.3.4.1. Đánh giá, phân tích quá trình sử dụng đất trong phạm vi hành chính
quy hoạch trong giai đoạn đã qua
176
3.3.4.2. Phân tích, dự báo xu hớng sử dụng đất và xây dựng các phơng án
quy hoạch sử dụng đất cho giai đoạn tới
177
3.3.4.3. Lựa chọn phơng án QHSDĐ đợc coi là tối u và khả thi nhất
178
3.3.4.4. Xây dựng các biện pháp để hoàn thiện việc tổ chức sử dụng đất hợp lý
và bảo vệ tài nguyên đất trong giai đoạn tới

179
3.3.5. Hớng dẫn sử dụng phần mềm LFB
179
3.3.5.1. Giới thiệu phần mềm LFB

179
7

, cao gấp 5 lần và đứng
thứ 11/208 nước và vùng lãnh thổ trên thế giới; cao gấp 2 lần và đứng thứ 8/11 nước ở
Đông Nam Á; trong khi đó tài nguyên đất của nước ta chỉ giới hạn giao động ở con số
± 32,924 triệu ha. Như vậy, Việt Nam lâu nay là quốc gia “Đất chật - Người đông”,
bước vào thời kỳ công nghiệp hóa, đô thị hóa câu nói trên lại càng được minh chứng
trong thực tiễn. Vì vậy, những mâu thuẫn gi
ữa con người với đất đai đang ngày càng
trở nên gay gắt, đất đai - kinh tế - xã hội ngày càng trở nên phức tạp. Do đó, việc xây
dựng cho được một quy hoạch sử dụng đất khoa học và khả thi là một công trình có ảnh
hưởngquyết định đến quốc kế dân sinh.
T ừ khi Hiến pháp 1980 được ban hành, vấn đề quy hoạch sử dụng đất được Hiến
pháp quy định: “Nhà nước thống nh
ất quản lý đất đai theo quy hoạch chung ”(Điều 20
- Hiến pháp 1980) và “Nhà nước thống nhất quản lý toàn bộ đất đai theo quy hoạch và
pháp luật” (Điều 18 - Hiến pháp 1992). Đặc biệt là từ thời điểm

Luật Đất đai (1987) đến
nay, công tác quy hoạch sử dụng đất đã được các ngành, các cấp coi trọng. Chính quyền
các cấp đã tiến hành quản lý đất đai theo quy hoạch, ý thức sử dụng đất theo quy hoạch
của người dân không ngừng được nâng cao.
Thời gian qua, công tác quy hoạch sử dụng đất đã đạt được những thành tựu
đáng kể và đã trở thành một công cụ quan trong để thực hiện qu
ản lý Nhà nước và
củng cố sự đồng thuận của xã hội trong quá trình phát triển. Nhưng trước những áp lực
mới của tiến trình công nghiệp hóa, đô thị hóa, điều chỉnh lại cơ cấu sử dụng đất gắn
với chuyển đổi cơ cấu kinh tế, mặt khác quản điểm bảo vệ đất nông nghiệp, bảo vệ hệ
sinh thái và môi trường, chố
ng tam nhũng trong lĩnh vực đất đai yêu cầu phải đổi mới
công tác quy hoạch sử dụng đất cả về lý luận cũng như thực tiễn và khoa học công
nghệ.

Khái quát hoá các nội dung, hệ thống
tiêu chí và chỉ tiêu về điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội, môi trường, dưới dạng các mô
hình với các ràng buộc của các bài toán quy hoạch tuyến tính theo các cấp bậc phụ
thuộc lẫn nhau. Vấn đề mô phỏng được áp dụng trong việc mô tả các quá trình thực
hiện quy hoạch sử dụng đất đai của các cấp vùng lãnh thổ có độ phân dị khác nhau, các
thông tin đầu vào và kết xuất được mô tả
bằng các véc tơ có độ chuẩn và tính đồng nhất
chấp nhận được.
Phương pháp kế thừa
:
Được thực hiện ngay từ khi thiết kế chương trình đề tài
khoa học, đó là việc khái quát hoá, tổng hợp hoá các công trình nghiên cứu đã được các
tác giả tổng kết trên thế giới về quy hoạch sử dụng đất đai, của chính các tác giả tham
gia thực hiện các phần nội dung của chương trình khoa học.
Phương pháp điều tra thực tế

được sử dụng cả phương pháp điều tra thu thập tài
liệu, điều tra thống kê và điều tra xã hội học một số tiêu chí phục vụ cho nghiên cứu
định tính và nghiên cứu định lượng. Đối tượng điều tra là thực trạng quy hoạch sử dụng
đất đai, nội dung quy hoạch sử dụng đất đai của nước ta theo cách chọn mẫu (8 tỉnh
điều tra về th
ực trạng quy họach; điều tra đổi mới nội dung quy hoạch) và kết quả khảo
sát tại Trung quốc. Hai nội dung được điều tra ngoại nghiệp là về thực trạng quy hoạch
sử dụng đất đai của nước ta trong thời gian hơn 20 năm qua và về nội dung quy hoạch
sử dụng đất đai cho thời kỳ công nghiệp hoá đất nước từ nay đến những năm ngoài
2020 được thiết kế thành các bộ câu hỏi.
10

Phương pháp tổng hợp:


11

CHƯƠNG 1
TỔNG LUẬN VỀ QUY HOẠCH SỬ DỤNG ĐẤT ĐAI
1.1. ĐẤT ĐAI VÀ SỬ DỤNG ĐẤT
1.1.1 Đặc tính và chức năng của đất đai
1.I.1.1 Khái niệm về đất và đất đai
Đất trong thuật ngữ chung là các vật chất nằm trên bề mặt Trái đất, có khả năng
hỗ trợ sự sinh trưởng của thực vật và phục vụ như là môi trường sinh sống của các dạng
sự sống động vật từ các vi sinh vật tới các loài động vật nhỏ.
V.V.Dokuchaev, nhà khoa học người Nga tiên phong trong lĩnhh vực khoa học
đất cho rằng:
“Đất như là một thực thể tự nhiên có nguồn gốc và lịch sử phát triển
riêng, là thực thể với những quá trình phức tạp và đa dạng diến ra trong nó. Đất được
coi là khác biệt bởi với đá. Đá trở thành đất dưới ảnh hưởngcủa một loạt các yếu tố
tạo thành đất như khí hậu, cây cỏ, khu vực, địa hình và tuổi”
. Theo ông, đất có thể
được gọi là các tầng trên nhất của đá không phụ thuộc vào dạng; chúng bị thay đổi
một cách tự nhiên bởi các tác động phổ biến của nước, không khí và một loạt các
dạng hình của các sinh vật sống hay chết
(
1
)
. Đất vô cùng quan trọng cho mọi loại hình
sự sống trên Trái đất vì nó hỗ trợ sự sinh trưưởng của thực vật, trong quan hệ tuần
hoàn thì các loài thực vật lại cung cấp thức ăn và oxy cũng như hấp thụ đioxit các
bon…
Đất có thể chia thành hai lớp tổng quát (hay 2 tầng): Tầng bề mặt, là lớp trên
cùng nhất, ở đó phần lớn các loài rễ cây, vi sinh vật và các loại hình sự sống động vật
khác cư trú và tầng đất cái, tầng này nằm sâu hơn và thông thường dày đặc và chặt hơn

hợp, cũng như cải tạo tưới tiêu tăng khả năng giữ nước của đất. Tuy nhiên, trong
thực tế hoạt động của con người cũng có thể làm thoái hóa đất bởi các hành vi hủy
hoại đất, sử dụng đất không đúng mục đích, chặt phá rừng .v.v và một trong những
nguyên nhân rủi ro được bắt nguồn từ việc xây dựng, thực hiện và giám sát thực
hiện quy hoạch sử dụng đất thi
ếu khoa học, không đồng bộ và kém hiệu quả dẫn đến
hệ lụy làm cạn kiệt các chất dinh dưỡng, ô nhiễm môi trường đất và làm tăng sự xói
mòn đất…
Từ nửa thế kỷ trở lại đây, về học thuật, tư duy của con người về phân biệt đất và
đất đai khá đồng nhất: “Đất” với nghĩa là “thổ” hay còn được hiểu là “thổ nhưỡng”.
Thuậ
t ngữ này có nghĩa (tương đương) phổ biến và rõ ràng từ tiếng Anh, Nga, Trung,
Pháp, Triều Tiên,…. Còn “đất đai” với ý nghĩa là một không gian của đất: có ranh giới
khép kín trên bề mặt của trái đất, có chiều thẳng đứng hướng lên phía trên không trung
và hướng xuống phía dưới trong lòng đất, có sự kết hợp các thành phần tự nhiên, sinh
vật sống theo chiều nằm ngang [40]. Thông thường khi gắn với ý nghĩa “tài nguyên
thiên nhiên” người ta hay dùng thuật ngữ “Tài nguyên đất”; khi nói về khai thác, quả
n
lý, sử dụng,…người ta hay dùng “đất đai”.
Đất đai được định nghĩa là một khu vực bề mặt của trái đất cùng với nước, đất,
đá, khoáng sản và Hydrocácbon bên dưới, bên trên khu và không khí bên trên khu vực
đó. Nó bao gồm tất cả những đối tượng có liên quan đến một khu vực cố định hay một
điểm của bề mặt trái đất, gồm cả những khu vực mà được bao phủ bởi nướ
c (cả biển)
[100]. “Đất” và “Đất đai” cần được phân biệt trong từng trường hợp ngữ cảnh sử dụng
cụ thể.
Đất với ý nghĩa là một khối lượng đất, thậm chí là đất của cả trái đất [52], ý nói
về cấu tạo của đất về tính chất hoá, lý, sinh,…của đất hay hiểu đúng hơn là “thổ
nhưỡng”. Đất đai nói về một diện tích c
ủa một giới hạn cụ thể trên bề mặt của quả đất,


Độ sâu
(cm)
Ps

SP SJ2
pHHzO
0 – 25 45-52 4.2-5.0 41-44
25 – 50 42-52 3.8-4.9 28-39
50 - 100 42-50 2.85-4.70 26-38
ChÊt h÷u c¬ (Oh) 0 – 25 269-327 2.5-2.9 257-303
25 – 50 150-279 1.7-3.36 138-212
50 - 100 182-289 1.79-4.15 184-941
N (%) 0 – 25 0.182-0.252 0.196-0.224 0.168-0.244
25 – 50 0.126-0.154 0.140-0.168 0.096-0.168
50 - 100 0.112-0.154 0.126-0.168 0.112-0.168
P
2
O
5
(tæng sè) (%) 0 – 25 0.06-0.11 0.070-0.106 0.047-0.136
25 – 50 0.043-0.082 0.034-0.050 0.031-0.039
50 - 100 0.033-0.082 0.030-0.110 0.026-0.070
P
2
O
5
(cã s½n) (mg/100g) 0 – 25 2.56-6.08 1.30-3.20 0.50-1.10
25 – 50 1.60-2.00 0.80-2.00 0.40-0.60
50 - 100 2.40-3.08 1.10-3.00 0.80-0.90

coi là một trong các yếu tố sản xuất, các yếu tố khác là tư bản và sức lao động. Vì đất
không được sinh ra, thị trường đất đai phản ứng với việc đánh thuế khác hẳn so v
ới thị
trường lao động và thị trường hàng hóa do con người sản xuất ra. Thuế giá trị đất hoàn
thiện một cách lý tưởng có thể không ảnh hưởng tới chi phí cơ hội trong việc sử dụng
đất, thay vì nó có thể làm giảm giá trị của quyền sở hữu đất hợp pháp (xem chủ nghĩa
George). Đất cụ thể là vị trí địa lý và các tài nguyên khoáng sản trong lịch sử, là tài sản
và của con nhười và quốc gia; sự
thịnh vượng của mỗi quốc gia đều xuất phát từ khả
năng sinh lời của đất thông qua chính sách quy hoạch sử dụng đất và sử dụng đất.
Đất đai là điều kiện vật chất chung nhất đối với mọi ngành sản xuất và hoạt động
của con người, vừa là đối tượng lao động (cho môi trường để tác động như: xây dựng
nhà xưởng, bố trí máy móc, làm
đất) vừa là phương tiện lao động (cho công nhân nơi
đứng, dùng để gieo trồng, nuôi gia súc). Vì vậy, đất đai là “tư liệu sản xuất”. Tuy nhiên
cần lưu ý các tính chất “đặc biệt” của loại tư liệu sản xuất là đất so với các tư liệu sản
xuất như:
- Đặc điểm tạo thành của đất đai:
đất đai xuất hiện, tồn tại ngoài ý chí và nhận
thức của con người, là sản phẩm của tự nhiên, có trước lao động, là điều kiện tự nhiên
của lao động. Chỉ khi tham gia vào hoạt động sản xuất của xã hội, dưới tác động của
lao động đất đai mới trở thành tư liệu sản xuất. Trong khi đó các tư liệu sản xuất khác
là kết quả c
ủa lao động có trước của con người (do con người tạo ra).
- Đất đai là tài nguyên hạn chế:
diện tích bị giới hạn bởi ranh giới đất liền trên
bề mặt địa cầu. Các tư liệu sản xuất khác có thể tăng về số lượng, chế tạo lại tuỳ theo
nhu cầu của xã hội còn đất đai thì không thể. Chính những yếu tố này tạo nên tính hạn
chế về số lượng của đất. Cũng như vậy các tư liệu sản xuấ
t khác có thể đồng nhất về

là mẹ của muôn loài, không có cái gì không từ lòng mẹ “Đất” mà ra. Theo nhà kinh tế
học Italia Uyliam Petty: “Lao động là cha, đất là mẹ sinh sản ra mọi của cải vật chất
của thế giới này”. Tục ngữ ta có câu “Người ta là hoa đất”. Theo Phan Huy Chú (1817):
“Của báu của một nước không có gì bằng đất đai. Nhân dân và của cải đều do đấy mà
ra’’.

Quan hệ người - đất được thể chế hoá bằng luật cũng đã có hàng nghìn năm tuổi.
Luật sử dụng đất đầu tiên của nước Anh có từ năm 1268. Các chính sách thuế đất nông
nghiệp ở Ai Cập cổ đại có từ khoảng 3.000 năm nay. Chính sách thu thuế đất nông nghiệp
của Trung Quốc cũng có cách đây hơn 2.500 năm. Ở nước ta, các quan hệ về sử dụng đất
đai cũ
ng được xác lập từ thời Nhà tiền Lê, thời nhà Hồ, Nhà Trần và đặc biệt là thời Gia
Long. Như vậy quan hệ người - đất đặc biệt đối với người nông dân là rất sớm và nhà nước
điều tiết mối quan hệ này cũng rất sớm [43].
Ở Việt Nam, sau khi hoàn thành cuộc cách mạng dân tộc ở miền Bắc, thực hiện
chính sách “người cày có ruộng”, vai trò của đất đai được Chủ t
ịch Hồ Chí Minh khẳng
định: “Việt Nam có hai tiếng Tổ Quốc. Ta gọi Tổ Quốc là đất nước, có đất, có nước
mới thành Tổ Quốc. Có đất lại có nước thì dân giầu, nước mạnh”. Vì vậy, đất đai có
16

chức năng rộng lớn đối với kinh tế - chính trị - xã hội - con người - tự nhiên và môi
trường. Cụ thể:
Đất là một nhất thể không gian cố định: theo đó, đất cố định về định lượng theo
bề mặt của Trái đất và khoảng không bên trên, có vị trí cố định, diện tích hiện hữu, chất
lượng biến đổi theo thời gian. Đất được coi như một khu vực hay m
ột nhất thể không
gian từ một thửa đất đến một đất nước cho đến cả hành tinh [87].
Đất gắn kết với con người về tinh thần: đất được coi là vị thần linh, nơi con
người gắn số phận của mình vào đó hơn là làm chủ sở hữu nó.

bazơ (trong đó đất bazan là phì nhiêu nhất).
Tuy Việt Nam có diện tích đất lớn so với nhiều quốc gia, vùng lãnh thổ trên thế
giới, mật độ dân số 260 ng
ười/km
2
(cao gấp trên 5 lần và đứng thứ 41/208 nước và
17

vùng lãnh thổ; cao hơn gấp 2 lần và đứng thứ 8/11 nước ở Đông Nam Á)
(2)
; Hệ số sử
dụng đất (tỷ lệ giữa tổng diện tích đất được Nhà nước giao cho tổ chức, cá nhân, doanh
nghiệp, nhà đầu tư với diện tích sử dụng thực tế theo dự án đã được phê duyệt) đạt
thấp, đặc biệt là đối với các dự án đầu tư trong nước và nước ngoài ở nước ta hiện
nay
(3)
. Tình trạng “quy hoạch treo”, “giải tỏa treo”, “dự án treo” bắt đầu từ chính sách
quy hoạch sử dụng đất (QHSDĐ) đã và đang trở thành “căn bệnh” chữa lâu khỏi ở các
cấp, của các địa phương trong cả nước. Như vậy, có thể khẳng định đất đai chỉ được sử
dụng có hiệu quả, phù hợp, bền vững khi có định hướng chiến lược phát triển kinh tế
-
xã hội (KTXH) và môi trường chuẩn mực, trong đó QHSDĐ (được cấp có thẩm quyền
phê duyệt) là sợi chỉ xuyên suốt đối với quá trình quản lý Nhà nước về đất đai và sử
dụng đất đai.
1.1.2. Phân loại (và sử dụng đất).
1.1.2.1. Khái niệm
Bắt đầu từ năm 1870, trường phái Nga về khoa học đất dưới sự lãnh đạo của
V.V. Dokuchaev (1846 - 1903) và N.M. Sibirtsev (1860 - 1900) đã phát triển khái
niệm mới về đất. Các nhà nghiên cứu Nga coi đất là một thực thể tự nhiên độc lập,
mỗi loại có thuộc tính duy nhất được tạo ra bởi tổ hợp duy nhất của khí hậu, các vật

Các yếu tố hình thành đất (Factors of Soi Formasion) cùng với một hệ thống
thổ nhưỡng học định lượng đã được Hans Jenny (1899 - 1892) tổng quát hóa một cách
xúc tích và minh họa bằng rất nhiều nguyên lý cơ bản của khao học đất hi
ện đại tới
thời điểm đó. Từ năm 1940, các công trình nghiên cứu của Guy Smith cuối cùng đã
cho ra một hệ thống phân loại đất mới, nó trở thành hệ thống phân loại chính thức của
Mỹ (năm 1965)
(4)
.
Trên cơ sở tham khảo và kế thừa các phương pháp và kết quả nghiên cứu của
Nga và các nước phương Tây, việc đánh giá đất là khâu quan trọng và then chốt đối
với công tác địa chính của Việt Nam, nhiều nghiên cứu khoa học đã được thực hiện
và đi đến thống nhất công tác phân loại đất đai theo hướng: Xác định cơ sở khoa học
phân loại đất thích hợp theo mục đích sử dụ
ng nông lâm nghiệp với các nguyên tắc,
khái niệm, hệ thống phân vị, yếu tố phân loại phù hợp với việc ứng dụng trong thực tế;
xác định các căn cứ và chỉ tiêu phân loại đất khái quát toàn quốc, định hướng xây dựng
quy trình đánh giá đất thống nhất và mẫu bản đồ phân loại đất; xác định phương pháp
phân loại đất thích hợp theo mục đích sử dụng làm cơ sở cho hoạch
định chính sách sử
dụng đất thông qua quy hoạch sử dụng đất.
Như vậy, khái niệm về phân loại đất trong báo cáo này được hiểu: Là việc gộp
các hiện tượng, quá trình và tổng thể của mục đích sử dụng đất theo những dấu hiệu
giống nhau của đối tượng. Hệ thống phân loại đất có nhiều bậc, càng xuống bậc dưới sự
giống nhau càng chi tiết và bao gồm ít cá th
ể. Có hệ thống phân loại đất chung, hệ
thống phân loại cho từng thành phần đất và từng cấp phân vị tài nguyên đất.
1.1.2.2. Phân loại đất
Phân loại đất Miền Bắc Việt Nam (1959) gồm 3 nhóm với 18 đơn vị, năm 1964
VM Fritland phát triển thành 5 nhóm với 26 đơn vị; Phân loại đất Miền Nam Việt Nam

I
II
III
IV
V
VI
VII
VIII
IX
X
XI
XII
XIII
XIV
XV
XVI
XVII
XVIII
M Đất Mặn
S Đất phèn
P Đất Phù sa
GL Đất Glây
Tb Đất than bùn
MK Đất Mặn Kiềm
CM Đất mới biến đổi
RK Đất đá bọt
R Đất đen
XK Đất nâu vùng bán khô hạn
V Đất tích vôi
L Đất có tầng sét loang lổ

ều 20) liên quan đến việc phân loại đất dựa trên các
căn cứ, phương thức, thời hạn, mục đích sử dụng đất của tổ chức, hộ gia đình, cá nhân
(viết tắt là chủ sử dụng đất) hoặc phân loại theo đặc điểm lý, hóa của đất:

5

Ngu

n: H

i Khoa h

c
đấ
t Vi

t Nam 1996

20

a). Các loại đất được phân theo phương thức giao đất:
- Đất Nhà nước giao;
- Đất Nhà nước cho thuê;
(Hiện vẫn còn một số diện tích đất do lịch sử của thời kỳ bao cấp để lại như
việc Nhà nước cấp “cho đất” trước đây).
b). Các loại đất được phân ra theo thời gian sử dụng đất:
- Đất Nhà nước giao sử dụng ổn định, lâu dài - Trong loại này có:
+ Đất sử dụng để trồng cây hàng năm, nuôi trồng thuỷ sản là 20 năm;
+ Đất sử dụng để trồng cây lâu năm là 50 năm;
- Đất Nhà nước giao có thời hạn sử dụng;

* Trong xây dựng, đất sử dụng cho công tác xây dựng nằm trong nhóm đất phi
nông nghiệp, hiện tại có nhiều phương pháp phân loại đất nhưng tựu trung ở tất cả các
phương pháp, đất nói chung được chia thành 2 phạm trù khác nhau như: Đất không
tính dính (còn gọi là đất thô hay đất cát sỏi vụn thô và đất dính (còn gọi là đất hạt mịn
hay đất loại sét). Trong mỗi loại lạ
i có nhiều nhóm đất khác nhau như khiểu phân loại
đất thuần túy theo thành phần “hạt” và loại này thành phần nhóm hạt sét là chủ yếu.
Nhóm đất sét gồm 4 loại (sét, sét pha, á cát hay còn gọi là cát pha, cát), mỗi nhóm có
các loại khác nhau. Tuy nhiên, tìm hiểu cách phân loại này chỉ nhăm mục đích minh
họa cho việc phân loại đất bằng nhiều phương pháp và phân loại đất (đối tượng
nghiên cứu) chủ yếu là đất được phân loại theo mục đích sử dụng bở
i nó là một trong
những nội dung quan trọng.
1.1.2.3. Diễn biến đánh giá phân loại sử dụng đất ở nước ta
a). Công tác điều tra, khảo sát đánh giá, phân hạng đất
Công tác điều tra, khảo sát đánh giá, phân hạng đất ở nước ta được bắt đầu từ
cuối những năm 1950, bằng việc xây dựng sơ đồ thổ nhưỡng miền Bắc Việt Nam tỷ lệ
1/1.000.000. Mục đích của việc điều tra cơ bản các tài nguyên thiên nhiên miền Bắc
nước ta là để xây dựng các kế hoạch dài hạn phát triển kinh tế, kiến thiết miền Bắ
c
tiến lên chủ nghĩa xã hội. Từ cuối năm 1957, Bộ Nông lâm giao nhiệm vụ cho Viện
khảo cứu trồng trọt bắt đầu điều tra cơ bản đất nông lâm nghiệp một cách có hệ thống
để lập bản đồ thổ nhưỡng miền Bắc Việt Nam.
Từ năm1961 đến 1965, các tỉnh miền Bắc tiến hành điều tra, khảo sát xây dựng
bản đồ th
ổ nhưỡng của tỉnh với mục đích phục vụ cho các quy hoạch, kế hoạch phát
triển kinh tế nông nghiệp của tỉnh. Đây là đợt điều tra khảo sát xây dựng bản đồ thổ
nhưỡng có quy mô lớn nhất và mang tính cơ bản nhất ở miền Bắc Việt Nam. Sau 5
năm triển khai, có khoảng 13/15 tỉnh xây dựng xong bản đồ thổ nhưỡng của tỉnh ở tỷ
lệ từ 1/50.000 đến 1/100.000, ở vùng đồng bằng nhiều tỉnh đã xây dựng được bản đồ

và dùng để phòng hộ đầu nguồn, bảo vệ đất, bảo vệ môi trường;
- Đất chuyên dùng là đất được xác định dùng vào các mục đích không phải là
sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, bao gồm đất ở, đất xây dựng các công trình thủy lợi,
công nghiệp, giao thông vận tải, quốc phòng, văn hóa giáo dục, khao học, y tế nghỉ
mát, du lịch, kể cả các công trình phục vụ cho nông nghiệp và lâm nghiệp.v.v.;
- Đất chưa sử
dụng là đất chưa phân bổ vào mục đích nào hoặc chỉ mới tạm thời
phân phối để sử dụng trong một thời gian ngắn.
Xét về giác độ quản lý, sử dụng đất, quan hệ đất đai trong lĩnh vực kinh tế được
thể hiện qua từng giai đoạn cụ thể, nó phát triển theo nhu cầu sử dụng đất cho các mục
đích và sự chuyển dịch cơ
cấu kinh tế của các ngành, lĩnh vực. Từ thời điểm sau cải
cách ruộng đất đến trước thời kỳ đổi mới, chính sách sử dụng đất đai giai đoạn này đã
phản ánh thực chất đặc điểm phát triển kinh tế của một quốc gia kinh tế nông nghiệp.
Theo đó Nhà nước giao đất cho tổ chức, hộ gia đình, cá nhân (gọi chung là người sử
dụng đất) sử dụng ổn định thông qua sự điều tiết, quản lý của tổ chức hợp tác xã nông
nghiệp. Trước thời kỳ đổi mới, cơ chế “xin-cho” luôn gắn với nền kinh tế kế hoạch hoá
tập trung; đất sản xuất, đất ở nông thôn ở được giao theo lao động và nhân khẩu. Ở thành
thị, ngoài những hộ có đất ở, nhà ở có nguồn gốc từ tr
ước, hầu hết cán bộ, công nhân viên
chức nhà nước đều được phân phối nhà ở theo các tiêu chí chung (thâm niên công tác, số
nhân khẩu, bậc lương, cấp bậc, chức vụ ), thời kỳ này không phát sinh giao

dịch dân sự về
nhà, đất hoặc nếu có thì chỉ dừng lại ở việc chuyển đổi từ dạng này sang dạng khác, từ chủ
sử dụng này sang chủ sử dụng khác.
Từ sau đổi mới, nền kinh bao cấp được thay thế bằng nền kinh tế thị trường định
hướng xã hội chủ nghĩa với nhiều thành phần kinh tế có sự quản lý, điều ti
ết của Nhà
nước. Luật đất đai 1987 ra đời, với tư cách là Người quản lý thống nhất về đất đai, Nhà

mục đích không phải là nông nghiệp;
So với phân loại đất trước đây, đất chuyên dùng bao gồm nhiều nhóm đất được
mở rộng và chi tiết hơn cho phù hợp với thực trạng và nhu cầu sử dụng đất của giai
đoạn này.
- Đất chưa sử dụ
ng là đất chưa được xác định để dùng vào mục đích nông
nghiệp, lâm nghiệp, khu dâm cư, chuyên dùng và Nhà nước chưa giao cho ai sử dụng
ổn định, lâu dài.
Cuối thập kỷ 80, giai đoạn bắt đầu bước vào thời kỳ đổi mới, mặc dù Nhà nước
đã điều chỉnh chính sách phát triển kinh tế theo hướng thị trường, mở cửa thu hút đầu tư
nhưng ảnh hưởng của chính sách “tự cung - tự
cấp”, chính sách phân phối cào bằng trong
lĩnh vực đất đai chưa được dỡ bỏ, người dân trông chờ vào sự phân phối của Nhà nước.
Một thời gian dài, nhu cầu đất cho phát triển kinh tế không nhiều, đối tượng sử dụng đất
giai đoạn này chủ yếu là Nhà nước nên quan hệ đất đai đơn giản.
24

Từ năm 1993, “cung - cầu” về đất đai có nhiều biến động cộng với biên độ giá
đất nhảy vọt, vấn đề “cung” được thoả mãn bằng các giao dịch mua, bán, chuyển
nhượng đất đai qua các “kênh ngầm” tạo nên “cơn sốt” đất trong những năm 90 và
chững lại sau khi LĐĐ 2003 có hiệu lực thi hành. Thời kỳ này, không chỉ các nhà
hoạch định chính sách mà ngay cả người SDĐ bình thường đều nhận thức được rằng
đất đai là loại hàng hoá đem lại nguồn thu “siêu lợi nhuận”, các giao dịch mua bán đất
đai phát triển kết hợp với “cầu” để sử dụng, đất đai trở lên có giá. Để tăng cường công
tác quản lý Nhà nước về đất đai, đưa đất đai vào quỹ đạo phát triển kinh tế, Luật Đất
đai 1993 được ban hành. Theo đó, các tiêu chí phân loại đất đai được thay đổi nhằ
m
đáp ứng nhu cầu sử dụng đất, tiến tới hạch toán kinh tế từ đất cho các mục đích sử
dụng, Luật này xác định có 6 loại đất chính như sau:
- Đất nông nghiệp là đất được xác định chủ yếu để sử dụng vào SXNN như trồng

25

đồ gốm gạch, ngói và các vật liệu xây dựng khác; đất di tích lịch sử, văn hóa và danh
lam thắng cảnh, đất nghĩa trang, nghĩa địa, đất có mặt nước sử dụng vào các mục đích
không phải là nông nghiệp (Điều 62);
- Đất chưa sử dụng là đất chưa có đủ điều kiện hoặc chưa xác định để sử dụng
vào mục đích sản xuất nông nghiệp, nuôi trồ
ng thủy sản, lâm nghiệp; chưa được xác
định là đất khu dân cư nông thôn, đô thị, chuyên dùng và Nhà nước chưa giao cho tổ
chức, hộ gia đình, cá nhân nào sử dụng ổn định lâu dài (Điều 72).
Năm 2002, để chuẩn bị cho việc xây dựng hệ thống chính sách, pháp luật đất đai
phù hợp với giai đoạn đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa (CNH, HĐH) đất nước
và đô thị hóa. Tháng 2/2002, Bộ Chính tr
ị quyết định triển khai đề án Tổng kết 10 năm
thi hành Luật Đất đai 1993. Hội nghi Trung ương 7 - Khóa IX ngày 12/3/2003 ra Nghị
quyết số 26- NQ/TW về tiếp tục đổi mới chính sách, pháp luật đất đai và Luật Đất đai
2003 được Quốc hội khóa XI thông qua tháng 11/2003. Căn cứ tình hình phát triển kinh
tế - xã hội, chiến lược phát triển kinh tế của cả nước và tình hình quản lý đất đai trong
thời kỳ m
ới, Luật Đất đai 2003 phân đất đai thành 3 nhóm chính, trong mỗi nhóm có
nhiều loại đất được giao và có thể giao cho các đối tượng sử dụng. Cụ thể căn cứ mục
đích sử dụng, đất đai được phân loại như sau (Điều 13):
* Nhóm đất nông nghiệp bao gồm 5 loại đất chính:
- Đất sản xuất nông nghiệp được chia thành 3 loại: (a) Đất trồng cây hàng năm
(đất đồng cỏ dùng vào chă
n nuôi, đất trồng cây hàng năm khác); (b) Đất trồng lúa, (c)
Đất trồng cây lâu năm;
- Đất lâm nghiệp được chia thành 3 loại: (a) Đất rừng sản xuất; (b) Đất rừng
phòng hộ; (c) Đất rừng đặc dụng;
- Đất nuôi trồng thuỷ sản;


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status