Luận án Tiến sĩ Kinh tế: Hoàn thiện phân tích hiệu quả hoạt động tại các doanh nghiệp đóng tàu trên địa bàn thành phố Hải Phòng - Pdf 58

Bô Giao duc va Đao tao
̣
́
̣
̀ ̀ ̣                                                         Bô Tai chinh
̣ ̀ ́
HỌC VIỆN TÀI CHÍNH
­­­­­­­­

HOÀNG THỊ NGÀ

HOÀN THIỆN PHÂN TÍCH HIÊU QUA HOAT ĐÔNG T
̣
̉
̣
̣
Ạ I 
CÁC DOANH NGHIỆP ĐÓNG TÀU TRÊN ĐỊA BÀN 
THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
               
               

LUẬN ÁN TIẾN SĨ KINH TẾ


HÀ NỘI ­ 2019


Bô Giao duc va Đao tao
̣
́

riêng   tôi.   Các   số   liệu   nêu   trong   luân
̣   an
́   là   trung   thực.  
Những kết luận khoa h ọc c ủa  luân an
̣ ́  chưa từng đượ c ai  
công bố trong bất kỳ công trình nào khác.

TÁC GIẢ LUẬN ÁN

Hoàng Thị Ngà


MỤC LỤC

Trang


DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT 

BHXH

Bảo hiểm xã hội

DN

Doanh nghiệp 

DNSX

Doanh nghiệp sản xuất


Trang

01

Bảng 1.1. Triên khai th
̉
ực hiên BSC trong DNSX
̣

44

02

Bảng 1.2. Hê thông chi tiêu phân tich hi
̣
́
̉
́
ệu quả hoạt động của DNSX

45

03

Bảng 2.1. Tương quan Pearson giữa quy mô DN và một số  đặc điểm   71
khác

04


91

10

Bảng 2.8. Mức độ  quan tâm tới phương pháp phân tích hiệu quả  hoạt  95
động

11

Bảng 2.9. Mức độ sử dụng phương pháp phân tích hiệu quả hoạt động

96

12

Bảng 2.10. Mức độ ảnh hưởng của các nhân tố tới hiệu quả hoạt động

99

13

Bảng 3.1. Đề  xuất BSC của DN đóng tàu trên địa bàn thành phố  Hải  132
Phòng

14

Bảng 3.2. Phân tích tổng quan Công ty TNHH MTV 189 năm 2017

15



21

Biểu 2.3. Đặc điểm số lượng lao động

72

22

Biểu 2.4. Đặc điểm thời gian hoạt động

72

140


TT
23

Số hiệu và tên gọi
Biểu 2.5a. Đặc điểm loại hình DN

TT

Số hiệu và tên gọi

Trang
73
Trang


Biểu 3.4.  Khả  năng sinh lời của Công ty TNHH MTV 189 giai đoạn  145
2013­2017

30

Biểu 3.5.  Lợi nhuận trước thuế  và lãi vay  của Công ty TNHH MTV  148
189 giai đoạn 2013­2017

31

Biểu 3.6. Biến động ROE của công ty TNHH MTV 189 trong giai đoạn  152
2013­2017

32

Hình 1.1. Mô hình BSC 4 viễn cảnh

42

33

Hình 1.2. Cấu trúc BSC

43

34

Hình 1.3. Mô hình phân tích SWOT 

52

́ ́
̣ ệu quả hoạt động cua DNSX
̉

21

40

Sơ đồ 1.2. Phân loai 
̣ hiệu quả hoạt động của DNSX sử dung trong luân
̣
̣   22
ań

4
1

Sơ đồ 1.3. Kết hợp nội dung và phương pháp phân tích hiệu quả hoạt  57
động của doanh nghiệp sản xuất

4
2

Sơ đồ 2.1. Quy trình đóng tàu

74

43

Sơ đồ 2.2a. Quy trình đóng tàu khi hợp đồng chưa có hồ sơ thiết kế


126


1

PHẦN MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Phân tích hiệu quả hoạt động của DN là cần thiết vì nó cung cấp thông tin 
cho người sử dụng để  ra quyết định nhằm mục tiêu phát triển bền vững. Trong 
thời gian qua, hiệu quả hoạt động của các DN đóng tàu Việt Nam nói chung và 
trên địa bàn thành phố  Hải Phòng nói riêng có xu hướng sụt giảm mạnh. Điển 
hình là sự  tan rã của Tập đoàn Công nghiệp Tàu thủy Việt Nam (Vinashin) và 
hàng loạt các doanh nghiệp lớn, nhỏ khác trong ngành rơi vào tình trạng: phá sản,  
giải thể, ngừng hoạt động, hoạt động cầm chừng, sắp xếp lại,… Nguyên nhân  
cơ bản là do ảnh hưởng của suy thoái kinh tế, do khủng hoảng chu kỳ của ngành 
đóng tàu và biến động về nhu cầu của ngành vận tải biển, do hệ quả phát triển 
quá nóng của ngành đóng tàu Việt Nam những năm trước đó.
Mặc dù đang trải qua thời kỳ hết sức khó khăn nhưng công nghiệp đóng tàu  
vẫn được xác định là một ngành kinh tế trọng điểm của quốc gia biển Việt Nam,  
là ngành công nghiệp then chốt của thành phố  cảng Hải Phòng. Hiệu quả  hoạt  
động của các DN đóng tàu trên địa bàn thành phố Hải Phòng luôn là mối quan tâm 
hàng đầu của nhiều đối tượng sử  dụng thông tin. Song, thực tế  cho thấy, phân 
tích hiệu quả hoạt động của các DN đóng tàu trên địa bàn thành phố  Hải Phòng 
hiện nay tồn tại nhiều bất cập nên vai trò của công cụ  này còn mờ  nhạt. Hệ 
thống lý thuyết về  phân tích hiệu quả  hoạt động của DNSX cũng đã khá phổ 
biến, nhưng chưa được khảo sát và ứng dụng ở các DN đóng tàu tại địa phương 
này. 
Từ  tính cấp thiết của đề  tài, kết hợp với   định hướng của tập thể  cán bộ 
hướng dẫn, tác giả  đã đề  xuất và nhận quyết định nghiên cứu đề  tài   “Hoàn  

thời kỳ  kinh tế  kế  hoạch hóa tập trung, bao cấp, nhưng không còn đầy đủ  ý 
nghĩa   thực   tiễn   trong   cơ   chế   thị   trường   hiện   nay.   Tiếp   đó,   trong   giai   đoạn 
chuyển đổi từ kinh tế kế hoạch tập trung sang kinh tế thị trường , các nghiên cứu 
liên quan thường  xem xét về  hiệu quả  nền kinh tế.  Trong cuốn “Kinh tế  học” 
(1997), Paul Anthony Samuelson và William D. Nordhaus đã nêu rõ “Hiệu quả tức  
là sử dụng một cách hữu hiệu nhất các nguồn lực của nền kinh tế để thỏa mãn  
nhu cầu mong muốn của con người ” [37]. Hoặc trong nghiên cứu của A. Allan 
Schmid “Economic Analysis and Efficiency in Public Expenditure” (2004), tác giả 
đã sử  dụng phân tích chi phí – lợi ích (Cost­benefit analysis_CBA) để  phân tích 
kinh tế  và hiệu quả  chi tiêu công [55]; theo đó, “hiệu quả  nghĩa là làm sao để  
sản xuất được sản phẩm với chất lượng không đổi mà tiết kiệm chi phí”; tuy 


3
nhiên, đánh giá này đặt các công cụ  phân tích chi phí ­ lợi ích trong một khuôn 
khổ  hiến pháp và thể  chế, nó không phải là một phân tích tài chính hay kinh tế 
độc lập với vấn đề chính trị. Trong cuốn “Economic Efficiency in Transition : The 
Case of Ukraine” (2006) của Anatoliy G. Goncharuk [56], tác giả đã phân tích về 
hiệu quả  kinh tế  từ  việc chuyển đổi từ  nền kinh tế  kế hoạch sang nền kinh tế 
thị  trường tại Ukraine; theo đó, “Hiệu quả  kinh tế  là có được lợi ích tối đa từ  
việc sử  dụng tối thiểu  các  yếu tố  sản xuất đầu vào”, bao gồm “hiệu quả  kỹ  
thuật” (phản ánh khả năng tạo ra một sản lượng tối đa từ  một tập hợp các yếu 
tố  đầu vào giới hạn) và “hiệu quả  phân bổ” (phản ánh khả  năng sử  dụng các 
nguồn lực trong sự kết hợp tối  ưu giữa chúng và công nghệ sản xuất được ứng 
dụng); tuy nhiên, nghiên cứu của ông cũng chủ yếu đề cập tới hiệu quả kinh tế 
vĩ mô “hiệu quả kinh tế được xác định là khi nhu cầu của tất cả các thành viên  
trong xã hội được thỏa mãn đầy đủ  với nguồn lực hạn chế  nhất định”. Nhìn 
chung, những nghiên cứu này có giá trị cao đối với quản lý vĩ mô, nhưng ít có giá  
trị tham khảo đối với từng DN. 
Khi thực hiện những nghiên cứu của mình, các tác giả  trước đây thường 

là hiệu quả  tài chính. Điển hình là các cuốn: “Giáo trình Phân tích hoạt động  
kinh tế của DN” (2002) của tác giả Nguyễn Thế Khải [26]; “Giáo trình Phân tích  
hoạt động kinh tế” (2012) của tác giả  Nguyễn Ngọc Quang [21]; “ Giáo trình  
Phân tích hoạt động DN” (2011) của tác giả Nguyễn Tấn Bình [25]; “Giáo trình  
Phân tích tài chính DN” (2015) của tác giả  Ngô Thế  Chi và Nguyễn Trọng Cơ 
[19]; “Giáo trình Phân tích kinh doanh” (2015) của tác giả  Nguyễn Văn Công 
[35];...
Về  tài liệu chuyên khảo, cuốn “Financial statement analysis” (2008) thuộc 
chương trình giảng dạy CFA của Viện CFA [57], đã trình bày cụ thể các vấn đề 
thuộc phân tích tài chính (trong đó có phân tích hiệu quả tài chính), tuy nhiên phân 
tích hiệu quả phi tài chính không thuộc phạm vi nghiên cứu của cuốn sách này.
Về  luận án, có những luận án tập trung giải quyết một hoặc một số mặt  
thuộc phân tích hiệu quả hoạt động, cũng có những luận án giải quyết các mặt  
thuộc phân tích hiệu quả  hoạt động nói chung. Trong đó, xét về  công tác phân 
tích, có những luận án tập trung nghiên cứu về   hệ  thống chỉ  tiêu phân tích;  có 
những luận án tập trung nghiên cứu về  phương pháp phân tích tương  ứng với  
nội dung phân tích; có những luận án nghiên cứu về  tổ chức phân tích, nội dung  
phân tích và phương pháp phân tích. Xét về  phạm vi  hiệu quả  hoạt động, có 
những luận án chỉ chú trọng vào một hoặc một số mặt hiệu quả hoạt động (chủ 
yếu là hiệu quả  kinh tế  hoặc hiệu quả  kinh doanh), cũng có những luận án đề 
cập đến mọi mặt hiệu quả  hoạt động (kể  cả  hiệu quả  kinh tế  và hiệu quả  xã 
hội). Xét về tính chất hiệu quả hoạt động, phần lớn các luận án tập trung nghiên 
cứu về  hiệu quả  tài chính, bên cạnh đó cũng có những luận án nghiên cứu về 


5
hiệu quả  phi tài chính bên cạnh hiệu quả  tài chính. Xét về  không gian nghiên  
cứu, các luận án thường có không gian nghiên cứu là một nhóm DN có những đặc 
trưng giống nhau (cùng ngành, cùng lĩnh vực, cùng quy mô, cùng địa bàn hoạt 
động,...).



6
phòng trong cơ  chế thị trường” (1995) của tác giả  Lê Quang Bính [16]; luận án 
“Hoàn thiện nội dung và phương pháp phân tích tài chính trong các tập đoàn kinh  
tế hoạt động theo mô hình công ty mẹ ­ công ty con ở Việt Nam” (2012) của tác 
giả  Nguyễn Thị  Thanh [29];... Các luận án này, phần nhiều chú trọng đến việc  
nghiên cứu và đề  xuất sử  dụng các phương pháp phân tích truyền thống như 
phương pháp so sánh, phương pháp chi tiết, phương pháp loại trừ, phương pháp 
Dupont,... 
Những luận án bao hàm cả  tổ chức phân tích, chỉ tiêu phân tích và phương 
pháp phân tích, điển hình như: luận án “Phân tích hiệu quả kinh doanh trong các  
doanh nghiệp khai thác khoáng sản Việt Nam” (2008) của tác giả  Nguyễn Thị 
Mai Hương [27]; luận án “Hoàn thiện phân tích hiệu quả  kinh doanh trong các  
Công ty cổ phần niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam” (2012) của tác 
giả Trần Thị Thu Phong [45]; luận án “Hoàn thiện phân tích hiệu quả kinh doanh  
trong các doanh nghiệp chế biến gỗ xuất khẩu Khu vực Nam Trung bộ” (2013) 
của tác giả  Đỗ  Huyền Trang [13];... Song, cac nghiên c
́
ưu đo
́ ́ giải quyết vấn đề 
nghiên cưu đ
́ ể áp dụng phù hợp với những đặc thù khac v
́ ới phạm vi nghiên cưú  
cua tac gia. 
̉ ́
̉
Một số luận án, luận văn không cùng lĩnh vực chuyên môn nhưng có những  
liên quan nhất định tới đề tài luận án tiến sĩ của tác giả, cần được đánh giá.  Tác 
giả chia những tài liệu này thành hai nhóm. Một là, những luận án có giá trị tham  

xét hiệu quả hoạt động của tổ chức ở góc độ tài chính một cách khá cụ thể; ...
Các nghiên cứu là bài báo khoa học thường chú trọng làm rõ việc sử dụng 
phương pháp nào để phân tích nội dung gì. Nội dung phân tích được đề cập đến  
khá phong phú, đó có thể là hiệu quả của nền kinh tế, hiệu quả của ngành, hiệu 
quả của DN được đặt trong điều kiện nền kinh tế thị trường phát triển toàn diện 
hơn; tuy nhiên, đa phần các nghiên cứu này vẫn tập trung vào hiệu quả kinh tế ở 
phương diện tài chính; bên cạnh đó, những nghiên cứu có đề  cập đến hiệu quả 
xã hội thường chỉ  tập trung vào các khía cạnh như: hiệu quả  môi trường, hiệu  
quả  giải quyết  việc  làm  cho lao  động,… Các  phương pháp phân  tích truyền  
thống vẫn tiếp tục được sử dụng trong các nghiên cứu gần đây. Bên cạnh đó, xu 
hướng sử dụng các phương pháp phân tích hiện đại, như: phương pháp SWOT, 
phương pháp DEA, phương pháp BSC,… có xu hướng gia tăng mạnh mẽ. 
Trong  bài viết  “Balanced Scorecard: Myth And Reality” (2005) của GS.TS 
IM  Pandey,  Ấn Độ  [61], tác giả  giới thiệu về  phương pháp BSC và việc  ứng 
dụng nó ở một số công ty lớn trên thế giới, như:  Philips Electronics, Tata Steel. 
BSC khi được kết nối với KPI1 giúp DN đẩy nhanh tốc độ  phát triển bền  vững 
bằng việc quản lý và đo lường hiệu suất thông qua các chỉ tiêu định lượng, nhằm  
phản ảnh hiệu quả hoạt động của từng bộ phận, cá nhân trong DN. Nghiên cứu  
này có thể tham khảo trong việc xây dựng, lượng hóa và phân tích các chỉ tiêu với 
những điều chỉnh phù hợp với ngành đóng tàu vào điều kiện cụ thể của các DN 
đóng tàu thuộc phạm vi nghiên cứu của đề tài.
 KPI là viết tắt của “Key Performance Indicators” (Các chỉ tiêu hiệu quả chính)

1


8
Trong   bài   viết   “Improving   flow   to   achieve   lean   manufacturing   in  
shipbuilding” (2010) của tác giả Richard Lee Storch & Sanggyu Lim đăng trên tạp 
chí “Production Planning & Control” [62], nhóm tác giả đã sử dụng phương pháp 

thích hợp để  cải thiện.  Ưu điểm của nghiên cứu này là sử  dụng phương pháp 


9
DEA, một phương pháp phân tích động, cho phép dự đoán khá chính xác về  hiệu 
quả  hoạt động. Tuy nhiên, các thuật toán trong phương pháp DEA khá phức tạp  
để có thể hiểu và vận dụng  ở những DN mà điều kiện thực hiện công tác phân 
tích chưa tốt. 
Trong những năm gần đây, nhiều nghiên cứu đã phát triển mở rộng  mô hình 
tích   hợp   nhiều   công   cụ   phân   tích   khác   nhau.   Chẳng   hạn:   trong   bài   viết 
“Evaluating   and   Managing   Tramp   Shipping   Lines   Performances:   A   New  
Methodology   Combining   Balanced   Scorecard   and   Network   DEA”   (2014),   của 
nhóm   tác   giả   Ying­Chen   Hsu,   Cheng­Chi   Chung,   Hsuan­Shih   Lee,   H.   David  
Sherman, đăng trên INFOR, Vol. 51, No. 3, ISSN 0315­5986| EISSN 1916­0615 
[66]. Bài viết sử  dụng kết hợp DEA và BSC áp dụng cho một bộ  dữ  liệu hoạt  
động hoàn chỉnh có tiềm năng hỗ  trợ các công ty vận tải cải thiện và nâng cao 
hiệu suất hoạt động. Việc tích hợp các công cụ phân tích hiện đại làm tăng chất 
lượng thông tin phân tích, tuy nhiên với điều kiện của các DN đóng tàu trên địa  
bàn thành phố Hải Phòng hiện nay khó vận dụng ngay những kết quả nghiên cứu 
đó.  
Như vậy, tổng quan các công trình nghiên cứu cho thấy: Các nghiên cứu 
có liên quan gần với đề tài luận án tiến sĩ của tác giả đã được các nhà khoa học 
giải quyết ở nhiều góc độ khác nhau, mang lại những giá trị tham khảo nhất định  
cho bản luận án này. Những nghiên cứu chỉ tập trung vào chỉ tiêu phân tích hoặc  
nội dung phân tích hoặc phương pháp phân tích hoặc kết hợp một vài khía cạnh  
nêu trên thường xem xét hiệu quả  hoạt động không chỉ   ở  phương diện kinh tế,  
mà cả phương diện xã hội; không chỉ là hiệu quả tài chính mà cả hiệu quả phi tài 
chính. Giải quyết vấn đề theo hướng này một mặt làm rõ khía cạnh được đề cập 
đến, mặt khác hiệu quả  hoạt động được nhìn nhận  ở  nhiều phương diện nên 
đảm bảo tính chỉnh thể  hơn trong việc nhìn nhận về  hiệu quả  hoạt động của  

4. Câu hỏi nghiên cứu của đề tài
Xuất phát từ mục tiêu nghiên cứu, luận án hướng tới việc tập trung nghiên 
cứu và giải quyết các câu hỏi nghiên cứu đặt ra trong quá trình nghiên cứu như 
sau:
* Câu hỏi tổng quát
Các DN đóng tàu trên địa bàn thành phố  Hải Phòng nên phân tích hiệu quả 
hoạt động như thế nào để phát triển bền vững trong thời gian tới?
* Các câu hỏi cụ thể


11
­ Bản chất phân tích hiệu quả hoạt động của DNSX là gì? Nó có vai trò như 
thế nào đối với DNSX nhằm mục tiêu phát triển bền vững?
­ Hệ thống chỉ tiêu và phương pháp phù hợp với nội dung phân tích? 
­ Thực trạng công tác phân tích hiệu quả  hoạt động của các DN đóng tàu  
trên địa bàn thành phố  Hải Phòng đã và đang diễn ra như  thế  nào (có những  ưu 
điểm và hạn chế gì)?
­ Định hướng, quan điểm và nguyên tắc nào cho việc đề xuất các giải pháp 
hoàn thiện phân tích hiệu quả  hoạt động tại các DN đóng tàu trên địa bàn thành 
phố Hải Phòng?
­ Những giải pháp nào thích hợp để  hoàn thiện phân tích hiệu quả  hoạt  
động tại các DN đóng tàu trên địa bàn thành phố Hải Phòng, giúp cho các DN này 
phát triển bền vững trong thời gian tới?  Để  thực  hiện các giải pháp đó cần  
những điều kiện gì?
5. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài
Để  thực hiện được mục tiêu nghiên cứu và giải quyết được các câu hỏi  
nghiên cứu đặt ra, luận án xác định đối tượng và phạm vi nghiên cứu như sau:
* Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận án là “Phân tích hiệu quả  hoạt động của  
các DN đóng tàu”.

ếtết
thuy
Cơ sở xác 

Không gian 
Không gian 
nghiên c
ứu t
ổng
nghiên c
ứu t
ổng

định

Tiêu chí đánh 
Tiêu chí đánh 
giá
giá
Căn cứ xây 
dựng

Sàng lọc bước 1

Phi
ếu kh
ảo sát
Phi
ếu kh
ảo sát


LoLo
ại ại 

Sàng lọc bước 3

Tiến hành

Không gian nghiên 
Không gian nghiên 
cứcu tr
ọng tâm
ứu tr
ọng tâm

Không gian nghiên 
cứu không trọng tâm

Nghiên 
Nghiên 
cứcu tr
ọng 
ứu tr
ọng 
tâm
tâm

Phát tri
ển 
ở ở 


 nghiên 
ấn đề nghiên 
cứcuứu


13
Sơ đồ M.1: Thiết kế nghiên cứu

(Nguồn: Tác giả tổng hợp trên cơ sở kết quả nghiên cứu)
Theo kết quả  điều tra sơ  bộ  từ  nhiều kênh thông tin [53], [54],… tính đến 
hết tháng 12/2017, toàn thành phố  Hải Phòng có khoảng trên 80 DN có đăng ký 
hoạt động đóng tàu là ngành nghề  chính thuộc diện người nộp thuế  đang hoạt 
động, đây là không gian nghiên cứu tổng của đề tài (Phụ lục 03). Tuy nhiên, thực 
tế  có nhiều DN đang tạm ngừng hoạt động, chỉ  còn khoảng 60 DN đang hoạt 
động (trong đó khoảng 27 DN quy mô lớn và vừa, 33 DN quy mô nhỏ), đây là 
không gian nghiên cứu thực. Theo kết quả  khảo sát, trong số  43/60 phiếu đạt 
(71,67%), có 13 DN quy mô lớn và 04 DN quy mô vừa đã quan tâm và thực hiện 
phân tích hiệu quả  hoạt động (chiếm 62,96% nhóm DN cùng quy mô  ở  không  
gian nghiên cứu thực); các DN còn lại đều chưa quan tâm và thực hiện công tác  
này; do vậy, để  hoàn thiện vấn đề  nghiên cứu, 17 DN (Phụ  lục 04) được chọn 
làm mẫu nghiên cứu trọng tâm của luận án. Đồng thời, từ mẫu nghiên cứu trọng  
tâm, tác giả chọn Công ty TNHH MTV 189 làm mẫu nghiên cứu điển hình.  
Công ty TNHH MTV 189 (phiên hiệu quân sự: “Nhà máy Z189”) là một DN  
quy mô lớn thuộc loại hình DN Quốc phòng an ninh 100% vốn Nhà nước, do Bộ 
Quốc phòng quyết định thành lập, Tổng cục Công nghiệp quốc phòng quản lý  
trực tiếp. Công ty có trụ  sở  chính tại Khu công nghiệp Đình Vũ, phường Đông 
Hải   2,   quận   Hải   An,   thành   phố   Hải   Phòng.   Vốn   điều   lệ   của   Công   ty 2  là 
1.191,214 tỷ  đồng. Ngành nghề  kinh doanh chính là “Đóng mới và sửa chữa tàu 
thủy” và một số ngành nghề khác3. Tính đại diện của mẫu điển hình trong mẫu 


Thực hiện

Phương pháp hệ

Chỉ  đạo

Phương pháp thu 
thập dữ liệu sơ cấp 

Thu 
thập dữ 
liệu 

Phương pháp 
điều tra

Phương pháp thu 
thập dữ liệu thứ cấp 

Xử lý 
và phân 
tích dữ 
liệu

Phương pháp phân tích 
và tổng hợp lý thuyết

Nghiên c
Nghiên cứứu 

Nhập 
liệu

Hiệu 
chỉnh

Biến định tính (Tỷ lệ)

Mô tả 
các biến 
số

Nghiên c
Nghiên cứứu 

th
thựực ti
c tiễễn 


Phân tích 
sự khác 
biệt

Phân tích mối 
liên hệ giữa các 
biến số

Biến định lượng (Giá trị trung bình, phương 
sai, độ lệch chuẩn, giá trị lớn nhất, giá trị nhỏ 


16
phần 2 (59 câu) dùng để  khảo sát mức độ  quan tâm và thực hiện phân tích hiệu  
quả  hoạt động của DN, phần 3 (11 câu) dùng để  tập hợp các ý kiến đánh giá 
khác của DN. Tác giả sử dụng thang đo Likert 5 điểm cho toàn bộ câu hỏi ở phần 
2 và một số câu hỏi ở phần 3 của phiếu khảo sát. Trong đó, các câu hỏi ở phần 2  
được đánh giá trên 2 khía cạnh là “Mức độ quan tâm” và “Mức độ thực hiện”, giá 
trị điểm số bằng nhau  ở mỗi nấc thang được hiểu là có sự tương đương giữa 2  
khía cạnh này; một số  câu hỏi  ở  phần 3 về  nhân tố   ảnh hưởng đến hiệu quả 
hoạt động được đánh giá trên khía cạnh “mức độ   ảnh hưởng”. Các điểm (theo 
thứ tự từ 1 đến 5) thuộc mỗi thang đo lần lượt như sau: thang đo “Mức độ quan 
tâm” gồm “Hầu như không”, “Ít quan tâm”, “Bình thường”, “Khá quan tâm”, “Rất 
quan tâm”; thang đo “Mức độ thực hiện” gồm “Hầu như không”, “Thấp”, “Trung  
bình”, “Khá tốt”, “Rất tốt”; thang đo “Mức độ   ảnh hưởng” gồm “Không đáng 
kể”, “Thấp”, “Trung bình”, “Khá cao”, “Rất cao”. 
Đối tượng khảo sát là cán bộ phân tích kinh tế tại các đơn vị thuộc phạm vi 
khảo sát; mục tiêu khảo sát nhằm đánh giá thực trạng phân tích hiệu quả  hoạt  
động của các DN thuộc phạm vi khảo sát đang  ở  mức độ  nào; cách thực hiện: 
liên hệ trước với người phụ trách trả lời để trao đổi về hình thức chuyển phiếu 
khảo sát, sau đó chuyển phiếu khảo sát dưới hình thức phù hợp (gửi link qua  
email/facebook/zalo hoặc gửi bản in), cuối cùng là nhận kết quả  khảo sát theo 
cách thức phù hợp nhất do hai bên thống nhất.
Bên cạnh đó, tác giả kết hợp phỏng vấn để làm rõ thêm về một số vấn đề 
liên quan đến đối tượng nghiên cứu. Do đó, kết quả khảo sát còn được tổng hợp 
từ  các câu trả  lời của các đối tượng được phỏng vấn là các nhà quản trị  (đại 
diện cho người sử dụng thông tin phân tích) và các cán bộ kế toán kiêm phân tích 
(là người cung cấp thông tin phân tích)  ở  một số  DN điển hình thuộc phạm vi  
khảo sát (Phụ lục 06). Phỏng vấn được thực hiện bằng cách phỏng vấn trực tiếp 
hoặc phỏng vấn qua điện thoại; mục tiêu phỏng vấn để  thu thập thêm thông tin  
nhằm làm rõ hơn kết quả nghiên cứu bằng phiếu khảo sát; công cụ để thực hiện 


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status