Bô Giao duc va Đao tao
̣
́
̣
̀ ̀ ̣ Bô Tai chinh
̣ ̀ ́
HỌC VIỆN TÀI CHÍNH
HOÀNG THỊ NGÀ
HOÀN THIỆN PHÂN TÍCH HIÊU QUA HOAT ĐÔNG T
̣
̉
̣
̣
Ạ I
CÁC DOANH NGHIỆP ĐÓNG TÀU TRÊN ĐỊA BÀN
THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
LUẬN ÁN TIẾN SĨ KINH TẾ
HÀ NỘI 2019
Bô Giao duc va Đao tao
̣
́
riêng tôi. Các số liệu nêu trong luân
̣ an
́ là trung thực.
Những kết luận khoa h ọc c ủa luân an
̣ ́ chưa từng đượ c ai
công bố trong bất kỳ công trình nào khác.
TÁC GIẢ LUẬN ÁN
Hoàng Thị Ngà
MỤC LỤC
Trang
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
BHXH
Bảo hiểm xã hội
DN
Doanh nghiệp
DNSX
Doanh nghiệp sản xuất
Trang
01
Bảng 1.1. Triên khai th
̉
ực hiên BSC trong DNSX
̣
44
02
Bảng 1.2. Hê thông chi tiêu phân tich hi
̣
́
̉
́
ệu quả hoạt động của DNSX
45
03
Bảng 2.1. Tương quan Pearson giữa quy mô DN và một số đặc điểm 71
khác
04
91
10
Bảng 2.8. Mức độ quan tâm tới phương pháp phân tích hiệu quả hoạt 95
động
11
Bảng 2.9. Mức độ sử dụng phương pháp phân tích hiệu quả hoạt động
96
12
Bảng 2.10. Mức độ ảnh hưởng của các nhân tố tới hiệu quả hoạt động
99
13
Bảng 3.1. Đề xuất BSC của DN đóng tàu trên địa bàn thành phố Hải 132
Phòng
14
Bảng 3.2. Phân tích tổng quan Công ty TNHH MTV 189 năm 2017
15
21
Biểu 2.3. Đặc điểm số lượng lao động
72
22
Biểu 2.4. Đặc điểm thời gian hoạt động
72
140
TT
23
Số hiệu và tên gọi
Biểu 2.5a. Đặc điểm loại hình DN
TT
Số hiệu và tên gọi
Trang
73
Trang
Biểu 3.4. Khả năng sinh lời của Công ty TNHH MTV 189 giai đoạn 145
20132017
30
Biểu 3.5. Lợi nhuận trước thuế và lãi vay của Công ty TNHH MTV 148
189 giai đoạn 20132017
31
Biểu 3.6. Biến động ROE của công ty TNHH MTV 189 trong giai đoạn 152
20132017
32
Hình 1.1. Mô hình BSC 4 viễn cảnh
42
33
Hình 1.2. Cấu trúc BSC
43
34
Hình 1.3. Mô hình phân tích SWOT
52
́ ́
̣ ệu quả hoạt động cua DNSX
̉
21
40
Sơ đồ 1.2. Phân loai
̣ hiệu quả hoạt động của DNSX sử dung trong luân
̣
̣ 22
ań
4
1
Sơ đồ 1.3. Kết hợp nội dung và phương pháp phân tích hiệu quả hoạt 57
động của doanh nghiệp sản xuất
4
2
Sơ đồ 2.1. Quy trình đóng tàu
74
43
Sơ đồ 2.2a. Quy trình đóng tàu khi hợp đồng chưa có hồ sơ thiết kế
126
1
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Phân tích hiệu quả hoạt động của DN là cần thiết vì nó cung cấp thông tin
cho người sử dụng để ra quyết định nhằm mục tiêu phát triển bền vững. Trong
thời gian qua, hiệu quả hoạt động của các DN đóng tàu Việt Nam nói chung và
trên địa bàn thành phố Hải Phòng nói riêng có xu hướng sụt giảm mạnh. Điển
hình là sự tan rã của Tập đoàn Công nghiệp Tàu thủy Việt Nam (Vinashin) và
hàng loạt các doanh nghiệp lớn, nhỏ khác trong ngành rơi vào tình trạng: phá sản,
giải thể, ngừng hoạt động, hoạt động cầm chừng, sắp xếp lại,… Nguyên nhân
cơ bản là do ảnh hưởng của suy thoái kinh tế, do khủng hoảng chu kỳ của ngành
đóng tàu và biến động về nhu cầu của ngành vận tải biển, do hệ quả phát triển
quá nóng của ngành đóng tàu Việt Nam những năm trước đó.
Mặc dù đang trải qua thời kỳ hết sức khó khăn nhưng công nghiệp đóng tàu
vẫn được xác định là một ngành kinh tế trọng điểm của quốc gia biển Việt Nam,
là ngành công nghiệp then chốt của thành phố cảng Hải Phòng. Hiệu quả hoạt
động của các DN đóng tàu trên địa bàn thành phố Hải Phòng luôn là mối quan tâm
hàng đầu của nhiều đối tượng sử dụng thông tin. Song, thực tế cho thấy, phân
tích hiệu quả hoạt động của các DN đóng tàu trên địa bàn thành phố Hải Phòng
hiện nay tồn tại nhiều bất cập nên vai trò của công cụ này còn mờ nhạt. Hệ
thống lý thuyết về phân tích hiệu quả hoạt động của DNSX cũng đã khá phổ
biến, nhưng chưa được khảo sát và ứng dụng ở các DN đóng tàu tại địa phương
này.
Từ tính cấp thiết của đề tài, kết hợp với định hướng của tập thể cán bộ
hướng dẫn, tác giả đã đề xuất và nhận quyết định nghiên cứu đề tài “Hoàn
thời kỳ kinh tế kế hoạch hóa tập trung, bao cấp, nhưng không còn đầy đủ ý
nghĩa thực tiễn trong cơ chế thị trường hiện nay. Tiếp đó, trong giai đoạn
chuyển đổi từ kinh tế kế hoạch tập trung sang kinh tế thị trường , các nghiên cứu
liên quan thường xem xét về hiệu quả nền kinh tế. Trong cuốn “Kinh tế học”
(1997), Paul Anthony Samuelson và William D. Nordhaus đã nêu rõ “Hiệu quả tức
là sử dụng một cách hữu hiệu nhất các nguồn lực của nền kinh tế để thỏa mãn
nhu cầu mong muốn của con người ” [37]. Hoặc trong nghiên cứu của A. Allan
Schmid “Economic Analysis and Efficiency in Public Expenditure” (2004), tác giả
đã sử dụng phân tích chi phí – lợi ích (Costbenefit analysis_CBA) để phân tích
kinh tế và hiệu quả chi tiêu công [55]; theo đó, “hiệu quả nghĩa là làm sao để
sản xuất được sản phẩm với chất lượng không đổi mà tiết kiệm chi phí”; tuy
3
nhiên, đánh giá này đặt các công cụ phân tích chi phí lợi ích trong một khuôn
khổ hiến pháp và thể chế, nó không phải là một phân tích tài chính hay kinh tế
độc lập với vấn đề chính trị. Trong cuốn “Economic Efficiency in Transition : The
Case of Ukraine” (2006) của Anatoliy G. Goncharuk [56], tác giả đã phân tích về
hiệu quả kinh tế từ việc chuyển đổi từ nền kinh tế kế hoạch sang nền kinh tế
thị trường tại Ukraine; theo đó, “Hiệu quả kinh tế là có được lợi ích tối đa từ
việc sử dụng tối thiểu các yếu tố sản xuất đầu vào”, bao gồm “hiệu quả kỹ
thuật” (phản ánh khả năng tạo ra một sản lượng tối đa từ một tập hợp các yếu
tố đầu vào giới hạn) và “hiệu quả phân bổ” (phản ánh khả năng sử dụng các
nguồn lực trong sự kết hợp tối ưu giữa chúng và công nghệ sản xuất được ứng
dụng); tuy nhiên, nghiên cứu của ông cũng chủ yếu đề cập tới hiệu quả kinh tế
vĩ mô “hiệu quả kinh tế được xác định là khi nhu cầu của tất cả các thành viên
trong xã hội được thỏa mãn đầy đủ với nguồn lực hạn chế nhất định”. Nhìn
chung, những nghiên cứu này có giá trị cao đối với quản lý vĩ mô, nhưng ít có giá
trị tham khảo đối với từng DN.
Khi thực hiện những nghiên cứu của mình, các tác giả trước đây thường
là hiệu quả tài chính. Điển hình là các cuốn: “Giáo trình Phân tích hoạt động
kinh tế của DN” (2002) của tác giả Nguyễn Thế Khải [26]; “Giáo trình Phân tích
hoạt động kinh tế” (2012) của tác giả Nguyễn Ngọc Quang [21]; “ Giáo trình
Phân tích hoạt động DN” (2011) của tác giả Nguyễn Tấn Bình [25]; “Giáo trình
Phân tích tài chính DN” (2015) của tác giả Ngô Thế Chi và Nguyễn Trọng Cơ
[19]; “Giáo trình Phân tích kinh doanh” (2015) của tác giả Nguyễn Văn Công
[35];...
Về tài liệu chuyên khảo, cuốn “Financial statement analysis” (2008) thuộc
chương trình giảng dạy CFA của Viện CFA [57], đã trình bày cụ thể các vấn đề
thuộc phân tích tài chính (trong đó có phân tích hiệu quả tài chính), tuy nhiên phân
tích hiệu quả phi tài chính không thuộc phạm vi nghiên cứu của cuốn sách này.
Về luận án, có những luận án tập trung giải quyết một hoặc một số mặt
thuộc phân tích hiệu quả hoạt động, cũng có những luận án giải quyết các mặt
thuộc phân tích hiệu quả hoạt động nói chung. Trong đó, xét về công tác phân
tích, có những luận án tập trung nghiên cứu về hệ thống chỉ tiêu phân tích; có
những luận án tập trung nghiên cứu về phương pháp phân tích tương ứng với
nội dung phân tích; có những luận án nghiên cứu về tổ chức phân tích, nội dung
phân tích và phương pháp phân tích. Xét về phạm vi hiệu quả hoạt động, có
những luận án chỉ chú trọng vào một hoặc một số mặt hiệu quả hoạt động (chủ
yếu là hiệu quả kinh tế hoặc hiệu quả kinh doanh), cũng có những luận án đề
cập đến mọi mặt hiệu quả hoạt động (kể cả hiệu quả kinh tế và hiệu quả xã
hội). Xét về tính chất hiệu quả hoạt động, phần lớn các luận án tập trung nghiên
cứu về hiệu quả tài chính, bên cạnh đó cũng có những luận án nghiên cứu về
5
hiệu quả phi tài chính bên cạnh hiệu quả tài chính. Xét về không gian nghiên
cứu, các luận án thường có không gian nghiên cứu là một nhóm DN có những đặc
trưng giống nhau (cùng ngành, cùng lĩnh vực, cùng quy mô, cùng địa bàn hoạt
động,...).
6
phòng trong cơ chế thị trường” (1995) của tác giả Lê Quang Bính [16]; luận án
“Hoàn thiện nội dung và phương pháp phân tích tài chính trong các tập đoàn kinh
tế hoạt động theo mô hình công ty mẹ công ty con ở Việt Nam” (2012) của tác
giả Nguyễn Thị Thanh [29];... Các luận án này, phần nhiều chú trọng đến việc
nghiên cứu và đề xuất sử dụng các phương pháp phân tích truyền thống như
phương pháp so sánh, phương pháp chi tiết, phương pháp loại trừ, phương pháp
Dupont,...
Những luận án bao hàm cả tổ chức phân tích, chỉ tiêu phân tích và phương
pháp phân tích, điển hình như: luận án “Phân tích hiệu quả kinh doanh trong các
doanh nghiệp khai thác khoáng sản Việt Nam” (2008) của tác giả Nguyễn Thị
Mai Hương [27]; luận án “Hoàn thiện phân tích hiệu quả kinh doanh trong các
Công ty cổ phần niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam” (2012) của tác
giả Trần Thị Thu Phong [45]; luận án “Hoàn thiện phân tích hiệu quả kinh doanh
trong các doanh nghiệp chế biến gỗ xuất khẩu Khu vực Nam Trung bộ” (2013)
của tác giả Đỗ Huyền Trang [13];... Song, cac nghiên c
́
ưu đo
́ ́ giải quyết vấn đề
nghiên cưu đ
́ ể áp dụng phù hợp với những đặc thù khac v
́ ới phạm vi nghiên cưú
cua tac gia.
̉ ́
̉
Một số luận án, luận văn không cùng lĩnh vực chuyên môn nhưng có những
liên quan nhất định tới đề tài luận án tiến sĩ của tác giả, cần được đánh giá. Tác
giả chia những tài liệu này thành hai nhóm. Một là, những luận án có giá trị tham
xét hiệu quả hoạt động của tổ chức ở góc độ tài chính một cách khá cụ thể; ...
Các nghiên cứu là bài báo khoa học thường chú trọng làm rõ việc sử dụng
phương pháp nào để phân tích nội dung gì. Nội dung phân tích được đề cập đến
khá phong phú, đó có thể là hiệu quả của nền kinh tế, hiệu quả của ngành, hiệu
quả của DN được đặt trong điều kiện nền kinh tế thị trường phát triển toàn diện
hơn; tuy nhiên, đa phần các nghiên cứu này vẫn tập trung vào hiệu quả kinh tế ở
phương diện tài chính; bên cạnh đó, những nghiên cứu có đề cập đến hiệu quả
xã hội thường chỉ tập trung vào các khía cạnh như: hiệu quả môi trường, hiệu
quả giải quyết việc làm cho lao động,… Các phương pháp phân tích truyền
thống vẫn tiếp tục được sử dụng trong các nghiên cứu gần đây. Bên cạnh đó, xu
hướng sử dụng các phương pháp phân tích hiện đại, như: phương pháp SWOT,
phương pháp DEA, phương pháp BSC,… có xu hướng gia tăng mạnh mẽ.
Trong bài viết “Balanced Scorecard: Myth And Reality” (2005) của GS.TS
IM Pandey, Ấn Độ [61], tác giả giới thiệu về phương pháp BSC và việc ứng
dụng nó ở một số công ty lớn trên thế giới, như: Philips Electronics, Tata Steel.
BSC khi được kết nối với KPI1 giúp DN đẩy nhanh tốc độ phát triển bền vững
bằng việc quản lý và đo lường hiệu suất thông qua các chỉ tiêu định lượng, nhằm
phản ảnh hiệu quả hoạt động của từng bộ phận, cá nhân trong DN. Nghiên cứu
này có thể tham khảo trong việc xây dựng, lượng hóa và phân tích các chỉ tiêu với
những điều chỉnh phù hợp với ngành đóng tàu vào điều kiện cụ thể của các DN
đóng tàu thuộc phạm vi nghiên cứu của đề tài.
KPI là viết tắt của “Key Performance Indicators” (Các chỉ tiêu hiệu quả chính)
1
8
Trong bài viết “Improving flow to achieve lean manufacturing in
shipbuilding” (2010) của tác giả Richard Lee Storch & Sanggyu Lim đăng trên tạp
chí “Production Planning & Control” [62], nhóm tác giả đã sử dụng phương pháp
thích hợp để cải thiện. Ưu điểm của nghiên cứu này là sử dụng phương pháp
9
DEA, một phương pháp phân tích động, cho phép dự đoán khá chính xác về hiệu
quả hoạt động. Tuy nhiên, các thuật toán trong phương pháp DEA khá phức tạp
để có thể hiểu và vận dụng ở những DN mà điều kiện thực hiện công tác phân
tích chưa tốt.
Trong những năm gần đây, nhiều nghiên cứu đã phát triển mở rộng mô hình
tích hợp nhiều công cụ phân tích khác nhau. Chẳng hạn: trong bài viết
“Evaluating and Managing Tramp Shipping Lines Performances: A New
Methodology Combining Balanced Scorecard and Network DEA” (2014), của
nhóm tác giả YingChen Hsu, ChengChi Chung, HsuanShih Lee, H. David
Sherman, đăng trên INFOR, Vol. 51, No. 3, ISSN 03155986| EISSN 19160615
[66]. Bài viết sử dụng kết hợp DEA và BSC áp dụng cho một bộ dữ liệu hoạt
động hoàn chỉnh có tiềm năng hỗ trợ các công ty vận tải cải thiện và nâng cao
hiệu suất hoạt động. Việc tích hợp các công cụ phân tích hiện đại làm tăng chất
lượng thông tin phân tích, tuy nhiên với điều kiện của các DN đóng tàu trên địa
bàn thành phố Hải Phòng hiện nay khó vận dụng ngay những kết quả nghiên cứu
đó.
Như vậy, tổng quan các công trình nghiên cứu cho thấy: Các nghiên cứu
có liên quan gần với đề tài luận án tiến sĩ của tác giả đã được các nhà khoa học
giải quyết ở nhiều góc độ khác nhau, mang lại những giá trị tham khảo nhất định
cho bản luận án này. Những nghiên cứu chỉ tập trung vào chỉ tiêu phân tích hoặc
nội dung phân tích hoặc phương pháp phân tích hoặc kết hợp một vài khía cạnh
nêu trên thường xem xét hiệu quả hoạt động không chỉ ở phương diện kinh tế,
mà cả phương diện xã hội; không chỉ là hiệu quả tài chính mà cả hiệu quả phi tài
chính. Giải quyết vấn đề theo hướng này một mặt làm rõ khía cạnh được đề cập
đến, mặt khác hiệu quả hoạt động được nhìn nhận ở nhiều phương diện nên
đảm bảo tính chỉnh thể hơn trong việc nhìn nhận về hiệu quả hoạt động của
4. Câu hỏi nghiên cứu của đề tài
Xuất phát từ mục tiêu nghiên cứu, luận án hướng tới việc tập trung nghiên
cứu và giải quyết các câu hỏi nghiên cứu đặt ra trong quá trình nghiên cứu như
sau:
* Câu hỏi tổng quát
Các DN đóng tàu trên địa bàn thành phố Hải Phòng nên phân tích hiệu quả
hoạt động như thế nào để phát triển bền vững trong thời gian tới?
* Các câu hỏi cụ thể
11
Bản chất phân tích hiệu quả hoạt động của DNSX là gì? Nó có vai trò như
thế nào đối với DNSX nhằm mục tiêu phát triển bền vững?
Hệ thống chỉ tiêu và phương pháp phù hợp với nội dung phân tích?
Thực trạng công tác phân tích hiệu quả hoạt động của các DN đóng tàu
trên địa bàn thành phố Hải Phòng đã và đang diễn ra như thế nào (có những ưu
điểm và hạn chế gì)?
Định hướng, quan điểm và nguyên tắc nào cho việc đề xuất các giải pháp
hoàn thiện phân tích hiệu quả hoạt động tại các DN đóng tàu trên địa bàn thành
phố Hải Phòng?
Những giải pháp nào thích hợp để hoàn thiện phân tích hiệu quả hoạt
động tại các DN đóng tàu trên địa bàn thành phố Hải Phòng, giúp cho các DN này
phát triển bền vững trong thời gian tới? Để thực hiện các giải pháp đó cần
những điều kiện gì?
5. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài
Để thực hiện được mục tiêu nghiên cứu và giải quyết được các câu hỏi
nghiên cứu đặt ra, luận án xác định đối tượng và phạm vi nghiên cứu như sau:
* Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận án là “Phân tích hiệu quả hoạt động của
các DN đóng tàu”.
ếtết
thuy
Cơ sở xác
Không gian
Không gian
nghiên c
ứu t
ổng
nghiên c
ứu t
ổng
định
Tiêu chí đánh
Tiêu chí đánh
giá
giá
Căn cứ xây
dựng
Sàng lọc bước 1
Phi
ếu kh
ảo sát
Phi
ếu kh
ảo sát
LoLo
ại ại
Sàng lọc bước 3
Tiến hành
Không gian nghiên
Không gian nghiên
cứcu tr
ọng tâm
ứu tr
ọng tâm
Không gian nghiên
cứu không trọng tâm
Nghiên
Nghiên
cứcu tr
ọng
ứu tr
ọng
tâm
tâm
Phát tri
ển
ở ở
ề
nghiên
ấn đề nghiên
cứcuứu
13
Sơ đồ M.1: Thiết kế nghiên cứu
(Nguồn: Tác giả tổng hợp trên cơ sở kết quả nghiên cứu)
Theo kết quả điều tra sơ bộ từ nhiều kênh thông tin [53], [54],… tính đến
hết tháng 12/2017, toàn thành phố Hải Phòng có khoảng trên 80 DN có đăng ký
hoạt động đóng tàu là ngành nghề chính thuộc diện người nộp thuế đang hoạt
động, đây là không gian nghiên cứu tổng của đề tài (Phụ lục 03). Tuy nhiên, thực
tế có nhiều DN đang tạm ngừng hoạt động, chỉ còn khoảng 60 DN đang hoạt
động (trong đó khoảng 27 DN quy mô lớn và vừa, 33 DN quy mô nhỏ), đây là
không gian nghiên cứu thực. Theo kết quả khảo sát, trong số 43/60 phiếu đạt
(71,67%), có 13 DN quy mô lớn và 04 DN quy mô vừa đã quan tâm và thực hiện
phân tích hiệu quả hoạt động (chiếm 62,96% nhóm DN cùng quy mô ở không
gian nghiên cứu thực); các DN còn lại đều chưa quan tâm và thực hiện công tác
này; do vậy, để hoàn thiện vấn đề nghiên cứu, 17 DN (Phụ lục 04) được chọn
làm mẫu nghiên cứu trọng tâm của luận án. Đồng thời, từ mẫu nghiên cứu trọng
tâm, tác giả chọn Công ty TNHH MTV 189 làm mẫu nghiên cứu điển hình.
Công ty TNHH MTV 189 (phiên hiệu quân sự: “Nhà máy Z189”) là một DN
quy mô lớn thuộc loại hình DN Quốc phòng an ninh 100% vốn Nhà nước, do Bộ
Quốc phòng quyết định thành lập, Tổng cục Công nghiệp quốc phòng quản lý
trực tiếp. Công ty có trụ sở chính tại Khu công nghiệp Đình Vũ, phường Đông
Hải 2, quận Hải An, thành phố Hải Phòng. Vốn điều lệ của Công ty 2 là
1.191,214 tỷ đồng. Ngành nghề kinh doanh chính là “Đóng mới và sửa chữa tàu
thủy” và một số ngành nghề khác3. Tính đại diện của mẫu điển hình trong mẫu
Thực hiện
Phương pháp hệ
Chỉ đạo
Phương pháp thu
thập dữ liệu sơ cấp
Thu
thập dữ
liệu
Phương pháp
điều tra
Phương pháp thu
thập dữ liệu thứ cấp
Xử lý
và phân
tích dữ
liệu
Phương pháp phân tích
và tổng hợp lý thuyết
Nghiên c
Nghiên cứứu
Nhập
liệu
Hiệu
chỉnh
Biến định tính (Tỷ lệ)
Mô tả
các biến
số
Nghiên c
Nghiên cứứu
u
th
thựực ti
c tiễễn
n
Phân tích
sự khác
biệt
Phân tích mối
liên hệ giữa các
biến số
Biến định lượng (Giá trị trung bình, phương
sai, độ lệch chuẩn, giá trị lớn nhất, giá trị nhỏ
16
phần 2 (59 câu) dùng để khảo sát mức độ quan tâm và thực hiện phân tích hiệu
quả hoạt động của DN, phần 3 (11 câu) dùng để tập hợp các ý kiến đánh giá
khác của DN. Tác giả sử dụng thang đo Likert 5 điểm cho toàn bộ câu hỏi ở phần
2 và một số câu hỏi ở phần 3 của phiếu khảo sát. Trong đó, các câu hỏi ở phần 2
được đánh giá trên 2 khía cạnh là “Mức độ quan tâm” và “Mức độ thực hiện”, giá
trị điểm số bằng nhau ở mỗi nấc thang được hiểu là có sự tương đương giữa 2
khía cạnh này; một số câu hỏi ở phần 3 về nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả
hoạt động được đánh giá trên khía cạnh “mức độ ảnh hưởng”. Các điểm (theo
thứ tự từ 1 đến 5) thuộc mỗi thang đo lần lượt như sau: thang đo “Mức độ quan
tâm” gồm “Hầu như không”, “Ít quan tâm”, “Bình thường”, “Khá quan tâm”, “Rất
quan tâm”; thang đo “Mức độ thực hiện” gồm “Hầu như không”, “Thấp”, “Trung
bình”, “Khá tốt”, “Rất tốt”; thang đo “Mức độ ảnh hưởng” gồm “Không đáng
kể”, “Thấp”, “Trung bình”, “Khá cao”, “Rất cao”.
Đối tượng khảo sát là cán bộ phân tích kinh tế tại các đơn vị thuộc phạm vi
khảo sát; mục tiêu khảo sát nhằm đánh giá thực trạng phân tích hiệu quả hoạt
động của các DN thuộc phạm vi khảo sát đang ở mức độ nào; cách thực hiện:
liên hệ trước với người phụ trách trả lời để trao đổi về hình thức chuyển phiếu
khảo sát, sau đó chuyển phiếu khảo sát dưới hình thức phù hợp (gửi link qua
email/facebook/zalo hoặc gửi bản in), cuối cùng là nhận kết quả khảo sát theo
cách thức phù hợp nhất do hai bên thống nhất.
Bên cạnh đó, tác giả kết hợp phỏng vấn để làm rõ thêm về một số vấn đề
liên quan đến đối tượng nghiên cứu. Do đó, kết quả khảo sát còn được tổng hợp
từ các câu trả lời của các đối tượng được phỏng vấn là các nhà quản trị (đại
diện cho người sử dụng thông tin phân tích) và các cán bộ kế toán kiêm phân tích
(là người cung cấp thông tin phân tích) ở một số DN điển hình thuộc phạm vi
khảo sát (Phụ lục 06). Phỏng vấn được thực hiện bằng cách phỏng vấn trực tiếp
hoặc phỏng vấn qua điện thoại; mục tiêu phỏng vấn để thu thập thêm thông tin
nhằm làm rõ hơn kết quả nghiên cứu bằng phiếu khảo sát; công cụ để thực hiện