1
1.
MỞ ĐẦU
Tính cấp thiết của đề tài luận án
Trong những năm gần đây, tình hình tội phạm sử dụng vật nổ
để gây án xảy ra nhiều nơi, tính chất và mức độ nguy hiểm, thủ đoạn
tinh vi, đa dạng. Khi xảy ra vụ nổ, phải nhanh chóng khám nghiệm
hiện trường (KNHT), thu thập dấu vết, vật chứng (DV,VC) để điều
tra truy nguồn gốc vật nổ.
Hiện nay, công tác giám định này vẫn còn là vấn đề phức tạp
và chưa được nghiên cứu. Xuất phát từ thực tiễn đòi hỏi mang tính cấp
thiết, tác giả chọn đề tài “Nghiên cứu xác định loại vật nổ thông qua
dấu vết ở hiện trường các vụ án có sử dụng chất nổ” làm đề tài luận
án.
2. Mục đích nghiên cứu của luận án
Nghiên cứu các dấu vết còn lại trên hiện trường vụ nổ nhằm
xác định một số đặc trưng của vật nổ.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận án
Đối tượng nghiên cứu: Một số loại vật nổ điển hình: lựu
đạn và các vật nổ tự chế (dùng thuốc nổ TNT, am ônit hay hỗn hợp
NH4NO3 và dầu khoáng), khối lượng dưới 3 kg.
Phạm vi nghiên cứu: Phân tích đặc điểm mảnh vỏ vật nổ,
dấu vết để lại trên hiện trường sau nổ của vật nổ thường gặp.
Nội dung nghiên cứu:
Phân tích cơ chế và xây dựng mô hình nổ có và không có vỏ
bọc;Mô phỏng cơ chế nổ, sinh mảnh bằng phần mềm Ansys Autodyn
3D;Phân tích, đánh giá tương tác giữa sản phẩm nổ và môi
trường;Nghiên cứu, nhận dạng các dấu vết đặc trưng ở hiện trường
nổ;Xây dựng qui trình xác định vật nổ thông qua dấu vết ở hiện trường
nổ.
Những năm gần đây, tội phạm hình sự có sử dụng vũ khí, vật
liệu nổ ở nước ta có chiều hướng gia tăng, tính chất vụ việc nghiêm
3
trọng, diễn biến phức tạp. Các loại vật nổ tội phạm thường sử dụng
được chia theo các nhóm sau đây: Vật nổ thuộc nhóm vũ khí quân
dụng: gồm các loại như mìn, lựu đạn, hỏa cụ; Vật liệu nổ quân dụng:
gồm thuốc nổ TNT, Hexogen hay một số loại thuốc nổ hỗn hợp ; Vật
nổ sử dụng vật liệu nổ công nghiệp: thuốc nổ Amônít, ANFO, kíp nổ
và các loại vật liệu nổ nhập khẩu khác; Vật nổ tự tạo.
1.2. Quá trình biến đổi nổ và tác dụng của vật nổ
Khi nổ liều thuốc nổ không có vỏ bọc, sóng va đập ( SVĐ)
nhanh chóng lan truyền trong toàn bộ khối thuốc và sự biến hóa nổ do
xảy ra trong thời gian cực ngắn tạo ra một thể tích khí rất lớn bị nén và
giãn nở ra môi trường, phá hủy môi trường bằng sự chênh áp cao và
xung va đập lớn. Khi nổ liều thuốc nổ có vỏ bọc, toàn bộ các tham số
sóng nổ được đặt vào bề mặt trong của vỏ, phá vỡ kết cấu của vỏ tại
những chỗ yếu nhất (khuyết tật, các vết nứt tế vi, nơi tập trung ứng
suất…) tạo thành các vết nứt. Dưới tác dụng của sóng nổ, các mảnh bị
bay tán ra môi trường và tương tác với các vật cản của môi trường.
1.3. Công tác khám nghiệm hiện trường các vụ nổ vật nổ và vai
trò của dấu vết nổ trong điều tra các vụ nổ vật nổ
Công tác KNHT trong tố tụng hình sự là hoạt động điều tra nơi
xảy ra, nơi phát hiện tội phạm nhằm phát hiện dấu vết của tội phạm,
vật chứng và làm sáng tỏ các tình tiết có ý nghĩa đối với vụ án. Kết quả
KNHT vụ nổ có ý nghĩa rất quan trọng, làm cơ sở để xác định tính chất
sự việc; chứng minh những vấn đề nêu trong kết luận điều tra; làm
chứng cứ chứng minh tội phạm và người phạm tội trong truy tố và xét
xử.
phân tích dấu vết hiện trường. 3) Xây dựng quy trình khám nghiệm và
xác định vật nổ thông qua dấu vết ở hiện trường các vụ án có sử dụng
chất nổ.
CHƯƠNG 2.MÔ PHỎNG, PHÂN TÍCH QUÁ TRÌNH NỔ
5
CỦA VẬT NỔ
2.1. Mô tả sự phá hủy vỏ dưới tác dụng của xung nổ
Sự phá hủy vỏ bọc là quá trình xảy ra nhanh và phức tạp của sự
biến đổi năng lượng SPN thành năng lượng biến dạng, phá hủy vỏ và
làm bay tán mảnh. Quá trình này có thể quy ước chia ra thành các giai
đoạn sau: Kích động liều thuốc nổ; nổ và tạo SPN; đặt tải và văng mảnh
bởi SPN với sự bắt đầu đồng thời của biến dạng dẻo kim loại; chuyển
động và giãn nở của vỏ dưới sự phát sinh đồng thời, sự phát triển của
các vết nứt tế vi và các hư hỏng tế vi; sự tạo thành các vết nứt lớn chính
và tiếp theo lan ra bề mặt ngoài vỏ; sự phát sinh hoàn toàn các vết nứt
trên toàn bộ bề dày vỏ với việc hình thành các mảnh và sự chảy của
SPN vào các vết nứt xuyên qua; sự chuyển động của các mảnh trong
không khí; tác động tương hỗ của chúng với mục tiêu.
2.1.1. Sự hình thành mảnh dưới tác dụng của xung nổ
Khi nổ vỏ bọc kim loại, từ mặt trong vỏ phát sinh hai hệ
thống vết nứt độc lập nhau: bên trong thành vỏ và mặt trong của vỏ.
Hệ thống thứ nhất: hệ thống đứt nứt ra, hướng ưu tiên là theo hướng
kính. Hệ thống thứ hai của các vết nứt trượt, hướng ưu thế là dọc theo
các chuyển dịch trượt chính.Bề mặt phá hủy các mảnh cơ bản có 2
vùng: bề mặt phá hủy đứt giòn (vùng R) sát với mặt ngoài của mảnh
và mặt phá hủy trượt theo mặt trượt (vùng S) sát với mặt trong mảnh
(hình 2.2).
Hình 2.2. Đường biên các mảnh và
hay
(2.4)
Khi mảnh bay vào chướng ngại có bề dày h, nó có thể xuyên
qua chướng ngại hay găm vào chướng ngại.
2.1.3.2. Tác dụng của sóng va đập trong không khí
7
Quá trình lan truyền của SVĐ sẽ gây ra tác dụng phá hủy các
vật cản trên đường đi của chúng. Các tham số của SVĐ đặc trưng
cho tác dụng của sóng va đập trong không khí được đánh giá bằng
áp suất dư (Δp), xung riêng của pha nén (I1)và thời gian của pha
nén trong sóng va đập ( +).
Khi nổ trên mặt đất, có thể tính gần đúng khi lấy khối
lượng gấp đôi do phản xạ của bề mặt đất.
(2.8)
Thời gian tác dụng của sóng va đập τ+
(2.9)
Xung riêng của pha nén I1 có thể tính theo công thức gần
đúng khi nổ trên mặt đất liều thuốc TNT (ρ0 = 1,225 kg/m3) ta có
công thức gần đúng sau:
Pa.s
(2.11)
Thay nửa giá trị khối lượng, ta có công thức gần đúng đối
với giá trị xung riêng của sóng va đập không khí khi r > rk
Pa.s
(2.12)
Trong đó:m khối lượng liều thuốc, kg; r khoảng cách, m
T0 nhiệt độ ban đầu; Tnc nhiệt độ nóng chảy của vật liệu.
Điều kiện phát sinh vết nứt ngẫu nhiên:
(2.25)
(2.26)
(2.27)
Trong đó:
P
vn
xác suât xuât hi
́
́ ẹn vêt n
̂ ́ ứt; χ, C thông số
vn
vạt li
̂ ẹu;
̂ độ dãn dài tuong đôi cua v
̛ ̛
́ ̉ ạt li
̂ ẹu;
̂ σ0,2 giơi han chay;
́ ̣
̉
9
σbc hẹ sô biên c
(2.49)
Tiếp phương trình (2.49)
Điều kiện đầu:
(2.50)
(2.51)
11
Điều kiện biên:Trên bề mặt tiếp xúc giữa thân vỏ, thuốc
nổ, không khí cần phải đặt điều kiện tiếp xúc. Các điểm của bề
mặt này không xuyên qua bề mặt của vật liệu kia:
(2.52)
Trong đó: v1, v2 – vận tốc của các điểm thuộc vật liệu thứ nhất và
thứ hai nằm trên bề mặt tiếp xúc.
Trạng thái ứng suất cũng bị hạn chế, tại các điểm này theo
định luật 3 Niutơn:
(2.53)
Trong đó:
ij1,
ij2
ứng suất tại các điểm trên bề mặt tiếp
xúc có cùng tọa độ nhưng lần lượt thuộc vật liệu thứ nhất và thứ
biến trạng thái (vị trí, vận tốc, áp suất,...) là xác định.
2.3.4. Ứng dụng mô đun tính toán song song của Ansys trong
mô phỏng thực nghiệm hiện trường nổ
Ứng dụng mô phỏng quá trình nổ vật nổ bằng sử dụng tính
toán song song so với phương pháp tính toán tuần tự kết quả cơ
bản không đổi nhưng với thời gian chạy máy nhanh hơn nhiều lần
và đem lại hiệu quả rõ rệt.
Hình 2.8. Sơ đồ xử lý song song trong Ansys
Việc thiết lập bài toán song song được thực hiện trên máy tính
chuyên dụng tại Phòng thí nghiệm Đạn Ngòi, Bộ môn Đạn, Học
viện Kỹ thuật Quân sự.
13
2.3.4.1. Phương pháp mô phỏng quá trình nổ của vật nổ bằng
phần mềm Ansys Autodyn3D áp dụng tính toán song song
Mô phỏng quá trình nổ của vật nổ gồm 8 bước: 1) Đặt bài
toán nghiên cứu; 2) Xây dựng mô hình hình học; 3) Xác định mô hình
vật liệu và các thông số của vật liệu. Nhập các thông số vật liệu vào
phần mềm; 4) Xây dựng mô hình PTHH; 5) Đặt điều kiện biên, điều
kiện đầu vào, điều kiện tương tác; 6) Thiết lập mô đun tính toán song
song; 7) Tiến hành giải bài toán; 8) Hiển thị, đọc và phân tích kết quả.
2.3.4.2. Mô phỏng quá trình nổ của vật nổ
Các thông số vật liệu thân vỏ vật nổ được sử dụng trong
mô phỏng: gang xám GX1532 và thép 4340.
Bảng 2.5. Thông số vật liệu cơ bản của thân vỏ dùng trong mô phỏng.
Mác
150
0,5
175
380
792
1279
20
792
510
C
n
m
T
(0C)
Tnc
(0C)
đầu
của
thuốc
nổ
Hằng số thực nghiệm của thuốc nổ
dùng trong mô phỏng
14
TNT
Amaton
Tetryl
(g/cm3)
1,61
(m/s)
7000
(kcal/kg)
1010
1,1
4200
1,63
4,4
0,9
0,7
1,2
Hình 2.13. Mô phỏng nổ
vật nổ thân vỏ thép 4340,
thuốc nổ TNT
Kết quả mô phỏng quá trình nổ của vật nổ cho trường hợp thân vỏ
thép 4340, bên trong nhồi thuốc nổ TNT hoặc Amaton thì số mảnh vỡ
thân vỏ lần lượt là 104 mảnh và 61 mảnh (hình 2.13).
Bảng 2.7. Một số thông số cơ bản của quá trình mô phỏngnổ vật
nổ thân vỏ thép 4340, thuốc nổ TNT
Khối lượng
Thể tích
Chiều dài
Tốc độ
Thứ tự
mảnh
mảnh
mảnh
trung bình
mảnh
(mg)
(mm3)
(mm)
(m/s)
1
5,294E+03
6,763E+02
28,57
812,62
8
5,052E+03
6,456E+02
28,72
808,37
9
4,220E+03
5,391E+02
26,87
1020,1
10
4,011E+03
5,125E+02
24,02
747,98
Kết quả mô phỏng quá trình nổ của vật nổ dạng hình trụ cho
trường hợp thân vỏ thép 4340, bên trong nhồi thuốc nổ TNT thì số
mảnh là 177 mảnh (hình 2.15).
15
Hình 2.15. Mô phỏng nổ
vật nổ thân vỏ
thép 4340,
thuốc nổ TNT
Thể tích
mảnh
(mm3)
1,075E+02
9,776E+01
9,481E+01
9,203E+01
8,829E+01
8,283E+01
7,692E+01
7,583E+01
7,478E+01
7,183E+01
Chiều dài
mảnh
(mm)
16,00
13,84
13,38
12,78
13,52
13,14
11,79
12,76
13,70
11,99
Tốc độ
Nhằm kiểm chứng các kết quả mô phỏng và tính toán lý thuyết,
tiến hành nổ vật nổ trong hố cát, trên hệ thống bia tại trường bắn, phân
tích các DV,VC có trên hiện trường một cách khách quan, đánh giá kết
quả thực nghiệm.
3.2. Thực nghiệm nổ và kết quả
3.2.1. Thực nghiệm nổ tại trường bắn
Thực nghiệm t ừ ngày 05/10/2016 đến 20/10/2016, tại
Trườ ng bắn Lữ đoàn Công binh 543, Quân khu II.
Đối tượ ng thực nghiệm: 03 vật nổtrong thùng cát; 07 vật
nổ trong hệ thống bia cánh cung ( mỗi vật nổ có đường kính vỏ
Dv = 32mm, cao h = 130mm, khối lượ ng chất nổ TNT 60g, kh ối
lượ ng thân vỏ 460g , gây nổ bằng kíp nổ điện số 8 );10 vật nổ tự
chế bọc bằng giấy bìa các tông, quấn băng dính, bên trong chứa
thuốc nổ Amonit (04 qu ả kh ối l ượng thu ốc n ổ 100 gam, 04 qu ả
khối lượ ng thuốc nổ 150 gam, 02 qu ả kh ối l ượng thu ốc n ổ 200
gam).
3.2.2. K ết qu ả th ực nghi ệm
Thu các DV,VC trong t ừng l ần th ử nghi ệm, đự ng trong
các túi chuyên dụng, b ảo qu ản để nghiên cứ u, phân tích trong
phòng thí nghi ệm.
3.2.3. Phân tích số liệu thực nghiệm và so sánh với tính toán
17
3.2.3.1. So sánh kết quả thực nghiệm với phương pháp số
Từ kêt qua giai băng ph
́
̉
̉
̀
m
(g)
36
18
24
47
18
33
12
18
Trong đó: PA1: Thân vỏ thép 4340, thuốc nổ TNT; PA2:
Thân vỏ thép 4340, thuốc nổ Amaton; PA3: Thân vỏ gang xám GX
1532, thuốc nổ TNT; PA4: Thân vỏ gang xám GX 1532, thuốc nổ
Amaton; m: khối lượng mảnh vỡ thân vỏ.
Kết quả mô phỏng số với thực nghiệm nổ cho kết quả gần
giống với lý thuyết đã đưa ra, cả hai phương pháp đều cho thấy số
lượng mảnh vỡ có khối lượng từ 1g
3.10) cho thấy tổ chức là tổ chức thép trước cùng tích với hạt khá đồng
đều, biên giới hạt thể hiện rõ. Trên ảnh không thể hiện các dấu vết
của quá trình biến dạng dẻo như hạt kéo dài hay biên giới hạt bị mờ,
chỉ có dạng thớ do quá trình chế tạo.
Hình 3.10. Tổ chức tế vi trên mặt
gẫy của mảnh đầu đạn bằng thép do
nổ
Kết quả và nhận xét: quá trình phá hủy vỏ bọc bằng gang, thép khi nổ vật
nổ hầu như không có biến dạng dẻo, tổ chức tế vi của vật liệu thay đổi
không đáng kể, quá trình nổ tạo ra xung nổ đột ngột, làm đứt liên kết giữa
các nguyên tử, hình thành các vết nứt tế vi xung quanh biên hạt đồng thời bề
mặt đứt có dạng xuyên qua các hạt, đây là đặc trưng cơ bản của phá hủy
giòn.
3.2.4. Các kết quả thực nghiệm khác
Phân tích dấu vết SPN của vật nổ bằng phương pháp hoá học:
Thuốc thử tác dụng với dịch chiết của mẫu vật cho ra màu đặc trưng của
loại thuốc nổ (TNT, amoni nitrat).
Phân tích dấu vết SPN của vật nổ trên thiết bị GCIONSCAN: Xác
định dấu vết thuốc nổ, giới hạn phát hiện thuốc nổ TNT là 300 picrogam và
Nitrat khoảng từ 5 10 nanogam.
Phân tích dấu vết dầu khoáng trong thuốc nổ tự chế bằng thiết bị
sắc ký khí khối phổ GC/MS: xac đinh đ
́ ̣
ược sự có mặt của dâu khoang (là
̀
́
a) b)
Hình 4.3. Mảnh bao gói bên ngoài vật nổ (a) mảnh vỏ lon bia,(b)
các chi tiết nồi cơm điện
21
a)
b)
Hình 4.4. Chi tiết ngòi nổ của lựu đạn (a) chi tiết ngòi nổ lựu đạn F1, (b)
kim hoả của lựu đạn cần
4.1.2. Dấu vết sản phẩm nổ và dấu vết thuốc nổ
1) Dấu vết muội đen: Các dấu vết ám khói đen thường được hình
thành và tồn tại trên các bề mặt tiêp xuc tr
́ ́ ực tiếp vơi san phâm nô
́ ̉
̉
̉; 2)
Dấu vết thuốc nổ: Các tinh thể thuốc nổ chưa kịp phản ứng, dính bám
trên các vật mang dấu vết hay trong dấu vết muội đen thông qua phương
pháp phân tích hoá học hay hoá lý.
4.1.3. Dấu vết tương tác với môi trường
Vận tốc chạm của mảnh vào vật cản
.
(4.5)
V ận t ốc bay t ản ban đầu của m ảnh
(4.9)
Xác định được hệ số nhồi :
(4.11)
Xác định đường kính vật nổ:
23
(4.13)
Trong đó: Đặt; diện tích miđen; – hệ số hình dạng mảnh;Sxq –
diện tích xung quanh của mảnh; Va – thể tích của mảnh; m – mật
độ vật liệu mảnh; vc, H0 – tương ứng là mật độ, độ bền riêng của
vật liệu vật cản.
4.4. Xây dựng quy trình khám nghiệm và xác định loại vật nổ
thông qua dấu vết ở hiện trường các vụ án có sử dụng
chất nổ
Quy trình khám nghiệm và xác định loại vật nổ thông qua dấu vết ở
hiện trường các vụ án có sử dụng chất nổ theo sơ đồ khối hình 4.22.
vỏ bọc vật nổ.
4. Nghiên cứu xây dựng hệ thống các dấu vết đặc trưng trên hiện
trường vụ nổ và đưa ra phương pháp xác định dấu vết nổ, tính toán thông
số kết cấu quan trọng của vật nổ: kích thước vật nổ, hệ số nhồi, tính chất
vỏ bọc… từ đó xây dựng quy trình KNHT và xác định loại vật nổ.
Những kết quả nhận được, bước đầu xác định được loại vật nổ
thông qua dấu vết thu được trên hiện trường, là những thông tin quan trọng
giúp cho công tác nghiên cứu xác định các vụ nổ, cụ thể giúp cho việc
nhận định, phán đoán, khoanh vùng các đối tượng, định hướng điều tra và
là cơ sở để đưa ra kết luận giám định phục vụ trong điều tra, truy tố và xét
xử.
Những đóng góp mới của luận án:
Ứng dụng lý thuyết cơ bản của vật lý nổ, cơ học môi trường
liên tục và thiết kế đạn, ứng dụng phần mềm Ansys Autodyn3D để mô
25
phỏng quá trình nổ và giải bài toán ngược xác định các tham số đặc trưng
của vật nổ từ đó có cơ sở để xác định loại vật nổ;
Bằng các phương pháp giải tích, mô phỏng, phân tích dấu vết
hiện trường và trong phòng thí nghiệm…luận án đã xây dựng phương
pháp, quy trình khám nghiệm và xác định vật nổ thông qua dấu vết ở hiện
trường các vụ án có sử dụng chất nổ, phục vụ một cách có hiệu quả công
tác điều tra của Ngành Công an.
Kiến nghị và đề xuất:
1. Luận án mới chỉ đưa ra các phương pháp điển hình, xây dựng
quy trình chung để xác định vật nổ, chưa có điều kiện nghiên cứu cho
nhiều loại thuốc nổ và vật liệu khác nhau.
2. Cần tiếp tục nghiên cứu cụ thể cho một số loại thuốc nổ tự
chế và vỏ bọc thường được đối tượng tội phạm sử dụng.