BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC
VÀ CÔNG NGHỆ VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ
---------------------------
TRẦN THỊ THU HƢƠNG
NGHIÊN CỨU CHẾ TẠO VÀ SỬ DỤNG VẬT LIỆU
NANO BẠC, ĐỒNG, SẮT ĐỂ XỬ LÝ VI KHUẨN LAM
ĐỘC TRONG THỦY VỰC NƢỚC NGỌT
Chuyên ngành : Kỹ thuật môi trƣờng
Mã số
: 9 52 03 20
TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SĨ KỸ THUẬT MÔI TRƢỜNG
Hà Nội - 2018
Công trình được hoàn thành tại Học viện Khoa học và Công nghệ,
Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam
Người hướng dẫn khoa học:
1. PGS. TS. Dương Thị Thủy - Viện Công nghệ môi trường
2. TS. Hà Phương Thư - Viện Khoa học Vật liệu
Phản biện 1:
thủy vực lớn. Chính vì vậy việc tìm kiếm, phát triển những giải
pháp mới có hiệu quả, không gây ô nhiễm thứ cấp và thân thiện
với môi trường ngày càng được chú trọng nghiên cứu. Công
nghệ nano là công nghệ liên quan đến việc chế tạo và ứng dụng
các vật liệu có kích thước nano mét (nm). Ở kích thước nano,
vật liệu có nhiều đặc tính nổi trội như có kích thước nhỏ hơn
100 nm, có diện tích tiếp xúc bề mặt lớn so với khối lượng, tạo
ra ảnh hưởng của bề mặt Plasmon cộng hưởng, khả năng bám
dính tốt và được ứng dụng trong nhiều ngành nghề khác nhau
như y tế, mỹ phẩm, điện tử, xúc tác hoá học, môi trường... Vì
vậy luận án được thực hiện với đề tài: “Nghiên cứu chế tạo và
sử dụng vật liệu nano bạc, đồng, sắt để xử lý vi khuẩn lam
độc trong thủy vực nước ngọt” đã được lựa chọn thực hiện.
2. Mục tiêu nghiên cứu của luận án
Nghiên cứu, chế tạo và xác định tính chất, đặc trưng của 03
vật liệu nano (bạc, đồng và sắt) và đánh giá khả năng diệt VKL
của vật liệu nano trong thủy vực nước ngọt.
3. Các nội dung nghiên cứu chính của luận án
2
- Chế tạo và xác định đặc trưng, tính chất của ba loại vật liệu
nano bạc, đồng và sắt.
- Đánh giá khả năng diệt và ức chế VKL của ba loại vật liệu.
- Đánh giá tính an toàn của vật liệu và các chế phẩm ứng
dụng.
- Thực nghiệm ứng dụng của vật liệu ở quy mô phòng thí
nghiệm với mẫu nước hồ Tiền.
Chƣơng 1. Tổng quan nghiên cứu
1.1. Tổng quan về vật liệu nano
Các phương pháp thí nghiệm như nuôi cấy tảo, lựa chọn vật
liệu nano, đánh giá độc tính của vật liệu, đánh giá sự ảnh hưởng
của các loại kích thước vật liệu, đánh giá tính an toàn của vật liệu
nano lên vi tảo và thí nghiệm với nước hồ Tiền đã được bố trí.
2.6. Các phƣơng pháp đánh giá ảnh hƣởng của vật liệu nano
đến sinh trƣởng của vi tảo
Để đánh giá ảnh hưởng của vật liệu nano đến sinh trưởng
của vi tảo, các phương pháp sau đã được sử dụng: OD, chla,
mật độ tế bào, các phương pháp phân tích một số chỉ tiêu chất
lượng môi trường (NH4+, PO43-) và phương pháp quan sát bề
mặt tế bào và cắt lát mỏng tế bào.
2.7. Phƣơng pháp thống kê, xử lý số liệu
Chƣơng 3. Kết quả và thảo luận
3.1. Tổng hợp vật liệu nano
3.3.1. Tổng hợp vật liệu nano bạc bằng phương pháp khử hóa học
3.1.1.1. Ảnh hưởng của tỷ lệ nồng độ NaBH4/Ag+
Phổ đo UV-VIS (Hình 3.1) cho thấy dung dịch nano bạc hấp
thụ ở bước sóng trong khoảng 400 nm và hiệu suất hình thành
các hạt nano bạc đạt cực đại ở tỷ lệ 1:2. Kết quả chụp TEM
(hình 3.2), cho thấy hạt nano bạc thu được có kích thước nhỏ
hơn 20 nm.
M1
M3
Hình 3.1. Phổ UV-VIS các
mẫu nano Ag phụ thuộc tỷ lệ
nồng độ NaBH4/Ag+
M2
nano bạc phụ thuộc vào nồng
bạc phụ thuộc vào nồng độ
độ chitosan
chitosan
3.1.1.3. Ảnh hưởng của nồng độ axit citric
Kết quả đo UV-VIS (Hình 3.7) cho thấy dung dịch nano bạc
được điều chế hấp thụ bước sóng trong khoảng 400-412 nm.
Với tỷ lệ [Citric]/[Ag+] = 3,0 các hạt nano bạc thu được có kích
thước nhỏ, đồng đều nhất và đều nhỏ hơn 20 nm, kết quả đo
TEM được thể hiện trên hình 3.8.
M1
1
M12
M1
3
M14
M15
M1
6
Hình 3.7. Phổ UV-VIS của
nano bạc phụ thuộc vào nồng
độ axit citric
Hình 3.8. Ảnh TEM của nano
M5
Hình 3.10. Phổ XRD của vật
Hình 3.11. Ảnh SEM của các
liệu nano Cu khảo sát theo tỉ
mẫu nano đồng theo tỷ lệ
2+
lệ NaBH4/Cu
NaBH4/Cu2+
Kết quả đo SEM (Hình 3.11) của vật liệu được thực hiện để
xác định mức độ phân bố của hạt Cu và đo TEM để xác định
kích thước hạt nano Cu (Hình 3.12).
6
M1
M2
M
3
M4
M5
Hình 3.12. Ảnh TEM của các
Hình 3.13. Phổ XRD của vật
mẫu nano đồng theo tỷ lệ
liệu nano Cu khảo sát theo
Hình 3.14. Ảnh SEM của vật
liệu nano Cu khảo sát theo
nồng độ Cu0
N3
N4
N5
Hình 3.15. Ảnh TEM của vật
liệu nano Cu khảo sát theo
nồng độ Cu0
7
Kết quả đo SEM (Hình 3.14) vật liệu cho thấy, các hạt nano
Cu tạo thành phân bố với kích thước không đồng đều khi nồng
độ của Cu0 tăng. Khi nồng độ Cu0 = 2g/L, các hạt nano đồng
phân bố khá đồng đều với kích thước trong khoảng 20-40 nm.
Khi tăng nồng độ Cu0 = 3; 4g/L thì các hạt đồng tạo ra bắt đầu
có hiện tượng co cụm lại và tạo ra các hạt có kích thước > 50
nm, phân bố không đồng đều khi nồng độ Cu0 = 6; 7g/L, phù
hợp với kết quả đo TEM (Hình 3.15).
Cấu trúc vật liệu nano đồng ở tỷ lệ được lựa chọn cho thấy
các hạt nano Cu hình thành có bề mặt khá đồng nhất (ảnh SEM,
hình 3.16a), kích thước đồng đều trong khoảng 30 - 40 nm (ảnh
TEM, hình 3.16b) và có cấu trúc lập phương tâm mặt Fcc với
các đỉnh nhiễu xạ của các mặt phẳng mạng (111), (200) và
(220) tương ứng với góc 2θ = 43,3; 50,4 và 74,00 với cường độ
1500
1400
1300
1200
d=1.808
1100
1000
900
800
d=1.278
700
600
500
400
300
200
100
0
c)
Hình 3.16. Đặc trưng chi tiết mẫu vật liệu nano đồng N1 (a)
Ảnh SEM, (b) Ảnh TEM, (c) Giản đồ XRD
3.1.3. Chế tạo vật liệu nano sắt từ bằng phương pháp đồng kết tủa
3.1.3.1. Ảnh hưởng của nồng độ chất ổn định CMC
Kết quả khảo sát hình thái, kích thước và sự phân tán vật
liệu ở tỷ lệ giữa chất ổn định (CMC) và tiền chất (Fe3O4) lần
lượt là 1/1; 2/1; 3/1; 4/1 và 1/2 bằng phương pháp SEM và
TEM thể hiện trên hình 3.17 và 3.18. Kết quả chụp SEM cho
các hạt nano sắt thu được có kích thước đồng đều nhất và đều
nhỏ hơn 20 nm.
Hình 3.17. Ảnh SEM cấu trúc Hình 3.18. Ảnh TEM cấu trúc
vật liệu nano sắt từ khảo sát
vật liệu nano sắt từ khảo sát
theo tỷ lệ CMC/ Fe3O4
theo tỷ lệ CMC/Fe3O4
Kết quả chụp TEM cho thấy kích thước hạt nano thay đổi rất
khác nhau khi thay đổi nồng độ CMC. Khi tỷ lệ Fe3O4/CMC =
2:1 các hạt nano sắt thu được có kích thước nhỏ, đồng đều nhất
và nhỏ hơn 20nm, nằm trong giới hạn kích thước siêu thuận từ.
Vì vậy mẫu vật liệu có tỷ lệ Fe3O4/CMC = 2:1 (ký hiệu mẫu
FC21) được lựa chọn để khảo sát các yếu tố tiếp theo.
3.1.3.2. Kết quả đo hồng ngoại của vật liệu
Hình 3.19. Phổ hồng ngoại
của mẫu vật liệu Fe3O4 (a),
CMC (b), FC21 (c) và tổng
hợp phổ của ba mẫu (d)
Hình 3.20. Kết quả đo từ độ
của vật liệu FC21
9
Quan sát hình 3.19 ta thấy trên phổ IR của nano sắt từ về cơ
bản có các đỉnh giống các đỉnh của CMC và Fe3O4, điều này
chứng tỏ điều kiện tổng hợp vật liệu không phá vỡ trúc của
CMC. Do đó, phương pháp đồng kết tủa để tổng hợp vật liệu
Fe3O4
200
6
ĐC
0
Ghi chú: +++: tác dụng ức chế rất mạnh, ++: tác dụng ức chế mạnh, +: tác
dụng ức chế trung bình, -: không có tác dụng.
Hình 3.21. Ảnh hưởng của các vật liệu nano đến sinh trưởng
của chủng VKL M. aeruginosa KG sau 7 ngày.
Các thí nghiệm sàng lọc nồng độ được tiến hành nhằm đánh
giá nhanh tác dụng diệt VKL M. aeruginosa KG sau thời gian 7
10
ngày. Kết quả thu được ở bảng 3.1 và hình 3.21 cho thấy hai vật
liệu nano bạc và đồng ức chế sinh trưởng và phát triển của
chủng VKL M. aeruginosa KG sau 6 ngày thử nghiệm (Bảng
3.1 và hình 3.21a và b), trong khi đó vật liệu nano sắt từ không
có tác dụng diệt M. aeruginosa KG (Bảng 3.1 và hình 3.21c).
3.2.2. Ảnh hưởng của vật liệu nano bạc đến sinh trưởng và
phát triển của VKL M. aeruginosa KG và tảo lục C. vulgaris
3.2.2.1. Ảnh hưởng của vật liệu nano bạc đến sinh trưởng và
phát triển của VKL M. aeruginosa KG
Các thí nghiệm được tiến hành với các nồng độ vật liệu nano
bạc lựa chọn tăng dần từ 0; 0,001; 0,005; 0,01; 0,05; 0,1; 1ppm
trong 10 ngày. Các thông số đánh giá bao gồm: mật độ quang
học (OD), hàm lượng chla và mật độ tế bào vào các ngày 0, 2, 6
và 10 (Hình 3.22a, b). Độc tính của vật liệu nano bạc đến sinh
trưởng của VKL M. aeruginosa KG tính theo nồng độ vật liệu
hình tròn hoặc cầu với bề mặt ngoài tế bào trơn nhẵn, mịn màng
(hình 3.24a). Tế bào trở lên méo mó, co cụm lại sau khi tiếp xúc
với vật liệu nano bạc (hình 3.24b). Điều này chứng tỏ vật liệu
nano
bào.
a) bạc đã làmb)thay đổi đáng kể hình
a) thái của tế b)
Hình 3.24. Kết quả chụp
Hình 3.26. Ảnh TEM cấu
SEM hình thái tế bào VKL M.
trúc tế bào VKL M.
aeruginosa KG
aeruginosa KG
Phương pháp kính hiển vi điện tử quét kết hợp EDX được
dùng để phân tích thành phần, trọng lượng và vị trí nano bạc
trên tế bào VLK M. aeruginosa KG. Kết quả ở hình 3.25 khẳng
định rằng nano bạc xuất hiện và bám trên bề mặt vi tảo với tỷ lệ
0,37% về trọng lượng.
Kết quả chụp TEM ở mẫu đối chứng (hình 3.26a) cho thấy,
siêu cấu trúc tế bào M. aeruginosa KG có thành tế bào rõ ràng,
các bào quan nằm gọn gàng trong tế bào. Khi tiếp xúc với vật
liệu nano bạc với nồng độ 1ppm sau thời gian 48h, tế bào VKL
đã bị phá huỷ (hình 3.26b). Điều này chứng tỏ vật liệu nano bạc
đã gây ảnh hưởng đến cấu trúc tế bào VKL M. aeruginosa KG.
Nguyên tố
CK
OK
Na K
Al K
Các thí nghiệm được tiến hành các nồng độ vật liệu nano bạc
lựa chọn tăng dần từ 0,005; 0,01; 0,05; 0,1; 1 và 5 ppm trong 10
ngày. Các thông số đánh giá bao gồm: mật độ quang học (OD),
hàm lượng chla và mật độ tế bào vào các ngày 0, 2, 6 và 10
(Hình 3.27b). Độc tính của vật liệu nano bạc đến sinh trưởng
của tảo lục C. vulgaris tính theo nồng độ vật liệu bổ sung vào
môi trường nuôi cấy gây ảnh hưởng đến 50% số lượng cá thể
(EC50) đạt 0,017mg/L.
Hình 3.28. Ảnh hưởng của vật
liệu nano bạc đến sinh trưởng
của tảo lục C. vulgaris theo
hiệu suất ức chế sinh trưởng
(a) và chla (b)
Sau 48h tiếp xúc với vật liệu nano bạc, mật độ tế bào giảm từ
195.925 ± 18.770 (D0) xuống còn 82.778 ± 41.384 (D10) tế
bào/mL. Ở nồng độ 0,005 và 0,01 ppm, AgNPs không ảnh hưởng
đến sự phát triển của C. vulgaris, mật độ tế bào sau 2, 6 và 10
ngày tăng tuyến tính với mẫu đối chứng. Kết quả phân tích hàm
lượng chla (Hình 3.28b) cho thấy, ở các mẫu đối chứng và mẫu
có bổ sung 0,005 và 0,01 ppm vật liệu nano bạc, hàm lượng chla
tăng dần từ 2,0604 ± 0,3505 µg/L (D0) và đạt giá trị cao nhất ở
ngày kết thúc thí nghiệm 27,285 ± 4,6893 µg/L (D10). Hiệu suất
ức chế sinh trưởng của các nồng độ vật liệu nano bạc sau 10 ngày
Hình 3.27. Ảnh hưởng của vật
liệu nano bạc đến sinh trưởng
của tảo lục C. vulgaris: a) OD
và b) mật độ tế bào.
% nguyên
tố
lượng
tử
CK
41,56
50,84
OK
52,68
48,38
Ag L
5,76
0,78
Totals
100,00
Hình 3.30. Phổ EDX và thành phần các nguyên tố xuất hiện
trên bề mặt tế bào tảo lục C. vulgaris sau 48h
Hình 3.29. Kết quả chụp SEM
hình thái tế bào tảo lục C. vulgaris
14
3.2.3. Ảnh hưởng của vật liệu nano đồng đến sinh trưởng và
phát triển của VKL M. aeruginosa KG và tảo lục C. Vulgaris
3.2.3.1. Ảnh hưởng của vật liệu nano đồng đến sinh trưởng và
phát triển của VKL M. aeruginosa KG
Các thí nghiệm tương tự được thực hiện với vật liệu nano
đồng để khảo sát ảnh hưởng của vật liệu đến sinh trưởng và
phát triển của VKL M. aeruginosa KG. Kết quả thể hiện trong
hình 3.32.
liệu nano đồng không gây ảnh hưởng đến sinh trưởng của VKL
M. aeruginosa KG ở nồng độ từ 0,01 đến 0,1 ppm. Hiệu suất ức
chế của vật liệu nano đồng đối với sinh trưởng của VKL M.
aeruginosa KG sau 10 ngày (Hình 3.33) ở nồng độ 1 và 5 ppm là
90,1% và 93,7% tương ứng. Kết quả tính toán nồng độ gây ảnh
hưởng 50% (EC50) theo giá trị đo OD của vật liệu nano đồng tới
sinh trưởng của VKL M. aeruginosa KG là 0,7159 mg/L.
Ảnh SEM ở hình 3.34 cho thấy khi tiếp xúc với dung dịch
nano đồng 1 ppm sau 48 giờ, các tế bào VKL M. aeruginosa KG
hơi bị méo và co cụm. Kết quả đo SEM-EDX xác định các
nguyên tố có trên bề mặt các tế bào VKL M. aeruginosa KG
minh chứng nano đồng đã bám trên bề mặt tế bào tảo với 11,63%
trọng lượng đồng (Hình 3.35).
Nguyên %
trọng % nguyên
tố
lượng
tử
CK
57,97
69,85
OK
30,40
27,50
Cu L
11,63
2,65
Totals
100.00
Hình 3.35. Phổ EDX và thành phần các nguyên tố xuất hiện
dần ở tất cả các mẫu thử nghiệm, mật độ sinh khối sau 10 ngày
đã tăng từ 0,0121 ± 0,0019 µg/L (D0) lên 0,5137 ± 0,1171 µg/L
(D10) (hình 3.38b). Thông số mật độ tế bào cũng cho kết quả
tương tự (hình 3.37c).
Hình 3.38a cho thấy ở mẫu đối chứng, các tế bào có thành tế
bào rõ ràng, các bào quan nằm gọn gàng trong tế bào. Sau 48h
tiếp xúc với vật liệu nano đồng ở nồng độ 1ppm, thành tế bào
tảo lục C. vulgaris đã bị co lại, tuy nhiên tế bào không bị phá vỡ
(hình 3.38b). Kết quả đo SEM-EDX xác định các nguyên tố có
trên bề mặt các tế bào tảo lục C. vulgaris minh chứng nano
đồng đã không bám trên bề mặt tế bào tảo với 0 % trọng lượng
b
đồng (Hìnha)
3.39).
a)
b)
)
Hình 3.38. Ảnh SEM tảo lục C.
vulgaris: a) đối chứng và b) mẫu
có 1ppm nano đồng sau 48h
Hình 3.40. Ảnh TEM tế
bào tảo lục C. vulgaris: a)
đối chứng và b) mẫu có
1ppm nano đồng sau 48h
17
Kết quả chụp TEM (Hình 3.40) cho thấy, ở mẫu đối chứng tế
này có độc tính với VKL M. aeruginosa KG nhưng lại có ảnh
hưởng không đáng kể tới sự phát triển của tảo lục có ích C.
vulgaris (Bảng 3.2). Nên vật liệu nano đồng được lựa chọn cho
các nghiên cứu tiếp theo.
Bảng 3.2. Độc tính của vật liệu nano bạc và đồng đến sinh
trưởng của VKL M.aeruginosa KG và tảo lục C.vulgaris
Vật liệu nano
Vật liệu nano
Ag (mg/L)
Cu (mg/L)
C. vulgaris (EC50)
0,017
M.
aeruginosa
(EC50)
0,0075
0,7159
3.2.3.3. Ảnh hưởng của kích thước nano đồng đến sinh trưởng
của VKL M. aeruginosa KG
18
Kết quả thử nghiệm ảnh hưởng sinh trưởng của chủng VKL
M. aeruginosa KG dưới tác động của các nồng độ dung dịch vật
liệu nano đồng (0; 0,01; 0,05; 0,1; 1 và 5 ppm) với 3 dạng kích
thước hạt khác nhau (<10 nm; 25-40 nm và >50 nm) ở các ngày
D0, D1, D3, D6 và D10 được trình bày ở hình 3.41.
Hình 3.41. Sinh trưởng của VKL M. aeruginosa KG dưới tác
động của các nồng độ dung dịch và các kích thước hạt đồng khác
aeruginosa KG có sự khác biệt so với hai dạng hạt kích thước
25-40 nm và >50 nm.
Hình 3.42. Sự thay đổi chla
Hình 3.43. Hiệu suất ức chế
(A) và OD (B) của VKL M.
sinh trưởng chủng VKL
aeruginosa KG ở các kích
M.aeruginosa KG ở các kích
thước hạt nano đồng khác
thước hạt nano đồng khác
nhau
nhau
Kết quả trên hình 3.43 cho thấy, với các kích thước hạt nano
đồng 25÷40 và >50nm, hiệu suất ức chế sinh trưởng chỉ được
ghi nhận ở nồng độ dung dịch đồng thử nghiệm là 1 và 5 ppm
(>85%). Trong khi đó hiệu suất ức chế sinh trưởng của hạt nano
đồng kích thước
21
vật liệu nano đồng với các nồng độ là: 0,01; 0,05; 0,1; 1 và 5
ppm sinh khối bèo Lemna sp. được ghi nhận lần lượt là: 0,0363
± 0,0163 mg; 0,0286 ± 0,0013 mg; 0,0306 ± 0,004; 0,0272 ±
0,0035 mg và 0,0288 ± 0,0023 mg tương ứng. Khối lượng bèo
sau 7 ngày thí nghiệm tại mẫu đối chứng và mẫu có bổ sung
dung dịch vật liệu nano đồng với các nồng độ 0,01; 0,05; 0,1; 1
và 5 ppm thay đổi tương ứng như sau: 0,0363 ± 0,004 mg;
0,0343 ± 0,004 mg; 0,0393 ± 0,0069 mg; 0,0366 ± 0,0027 mg;
0,0226 ± 0,0006 mg và 0,0208 ± 0,0021 mg.
Kết quả ở hình 3.46 cho thấy ở các mẫu có bổ sung nồng độ
dung dịch nano đồng là 1 và 5 ppm sinh trưởng của bèo tấm bị
tác động và ở hai nồng độ này sinh khối của bèo tấm Lemna sp.
bị giảm ở ngày D7 so với thời điểm ban đầu (D0). Tuy nhiên,
khi quan sát cánh bèo ở các nồng các độ này, từ 6 cá thể bèo (24
lá, độ dài rễ: 2cm rễ) ban đầu đến ngày kết thúc thí nghiệm (D7)
chúng tôi ghi nhận số cánh bèo tăng lên là 35 lá với độ dài rễ
0,1 cm. Như vậy, có thể thấy rễ bèo chịu tác động sau khi tiếp
xúc với vật liệu nano đồng.
Hình 3.46. Hiệu suất ức chế sinh
trưởng của vật liệu nano đồng đến
bèo Lemna sp. sau 7 ngày
Kết quả nghiên cứu ở hình 3.46 cho thấy ở hai mẫu có bổ
sung nồng độ dung dịch vật liệu nano đồng là 1 và 5 ppm, hiệu
suất ức chế thấp chỉ đạt >40 %. Điều này thể hiện vật liệu nano
đồng có khả năng ức chế sinh trưởng đến bèo Lemna sp. ở
những nồng độ nhất định.
3.4. Kết quả thực nghiệm với mẫu nƣớc hồ thực tế (hồ Tiền)
Microcystis. Kết quả nghiên cứu này có thể khẳng định rằng
dung dịch nano đồng có khả năng ứng dụng trong kiểm soát
sinh trưởng của VKL Microcystis.
Để đánh giá tổng thể ảnh hưởng của vật liệu nano lên môi
trường khi áp dụng, ngoài các chỉ tiêu sinh học, các thông số hóa
học và vật lý như pH, nhiệt độ, oxy hòa tan, độ đục… cũng được
xác định để đánh giá chất lượng môi trường trước và sau khi xử
lý với vật liệu nano (Bảng 3.4). Kết quả trong bảng 3.4 cho thấy
hàm lượng amoni dao động trong khoảng từ 0,309 - 1,45 mg N/L
và hàm lượng photpho dao động 0,01 mg P/L. Giá trị đo của các
Hình 3.47. Biến động sinh
khối thực vật nổi (chla) giữa
mẫu đối chứng và mẫu có bổ
sung 1ppm dung dung dịch
nano đồng
23
thông số độ dẫn điện, tổng chất rắn hòa tan, hàm lượng muối khá
ổn định trong suốt quá trình và dao động trong khoảng tương ứng
là 19,4 - 19,6 và 0,11. Giá trị của hai thông số pH và hàm lượng
oxy hòa tan (DO) dao động trong khoảng 8,1 - 8,8 và 1,56 - 1,61
mg/L. Nhiệt độ nước trong mẫu thí nghiệm dao động trong
khoảng 18 - 230C. Trong mẫu thử nghiệm, hàm lượng muối nitơ
cao hơn so với đối chứng, tuy nhiên cả hàm lượng các muối nitơ
và photpho trong các mẫu thí nghiệm đều nằm trong khoảng giới
hạn cho phép của QCVN 08-MT:2015/BTNMT đối với chất
lượng nguồn nước mặt.
Bảng 3.4. Biến động giá trị của các thông số thuỷ lý, thuỷ hoá
trong các mẫu thí nghiệm (bổ sung vật liệu nano đồng 1 ppm) và