BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN
HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
LÊ THỊ PHƯỢNG
NGHIÊN CỨU CHẾ TẠO VÀ ỨNG DỤNG VẬT LIỆU NANO
COMPOSITE: SILICA/Ag ĐỂ XỬ LÝ NƯỚC
PHỤC VỤ SINH HOẠT
LUẬN VĂN THẠC SĨ HÀ NỘI, NĂM 2014
BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN
HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
LÊ THỊ PHƯỢNG
Lê Thị Phượng
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page ii
LỜI CẢM ƠN
Với lòng biết ơn sâu sắc, tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành tới PGS.TS
Nguyễn Hoài Châu – Viện trưởng Viện Công nghệ môi trường và TS. Phan
Thị Thúy – Học Viện Nông nghiệp Việt Nam đã hướng dẫn và tận tình giúp
đỡ tôi trong suốt quá trình làm luận văn.
Tôi xin chân thành cảm ơn anh Đào Trọng Hiền, Trần Xuân Tin,
Nguyễn Đức Hưng cùng toàn thể các anh chị phòng Công nghệ thân môi
trường - Viện Công nghệ môi trường - Viện Hàn lâm Khoa học Và Công
nghệ Việt Nam nơi tôi đang công tác đã tạo mọi điều kiện thuận lợi và ủng hộ
tôi trong thời gian tôi làm việc và làm luận văn.
Tôi cũng xin cảm ơn gia đình, người thân, bạn bè, đồng nghiệp đã luôn
giúp đỡ, động viên và chia sẻ với tôi những thuận lợi và khó khăn trong quá
trình tôi hoàn thành luận văn này.
Xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, ngày 28 tháng 9 năm 2014
Tác giả Lê Thị Phượng
1.2 Phương pháp khử trùng nước bằng nano bạc 9
1.2.1 Đặc tính khử trùng của nano bạc 9
1.2.2 Cơ chế diệt khuẩn của ion bạc 10
1.2.3 Tác dụng của ion bạc lên cơ thể con người 13
1.2.4 Các ứng dụng của nano bạc trong chế tạo vật liệu xử lý nước 16
1.3 Phương pháp biến tính nano bạc lên silica 19
1.3.1 Chức năng hóa bề mặt silica rỗng 19
1.3.2 Tổng hợp nano bạc gắn trên silica rỗng được chức năng hóa (Ag-NPBs) 21
CHƯƠNG II ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG
PHÁP NGHIÊN CỨU 25
2.1 Đối tượng nghiên cứu 25
2.2 Phạm vi nghiên cứu 25
2.3 Nội dung nghiên cứu 25
2.4 Vật liệu nghiên cứu 25
2.4.1 Hóa chất 25
3.2.1 Đánh giá khả năng diệt vi khuẩn E.coli 45
3.2.2 Đánh giá khả năng diệt vi khuẩn Coliforms 46
3.3 Đánh giá hiệu quả của thiết bị lọc nước nano composit trong
phòng thí nghiệm 48
3.3.1 Cấu tạo thiết bị lọc nước quy mô hộ gia đình 48
3.3.2 Khảo sát ảnh hưởng của tốc độ lọc tới chất lượng nước đầu ra
của thiết bị 50
3.3.3 Đánh giá tính an toàn của thiết bị lọc 54
3.3.4 Đánh giá tuổi thọ của thiết bị lọc 54
3.3.5 Đánh giá hiệu quả kinh tế của thiết bị lọc 55
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 57
1 Kết luận 57
2 Kiến nghị 58
TÀI LIỆU THAM KHẢO 59
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page v
3.5 Kết quả xác định khả năng nano bạc giải phóng vào nước sau quá
trình lọc 54
3.6 Kết quả đánh giá tuổi thọ của vật liệu lọc 55
3.7 Tính toán giá tiền cho một thiết bị lọc nước quy mô hộ gia đình 56
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page vi
DANH MỤC HÌNH
STT Tên hình Trang
1.1 Quá trình tổng hợp nano bạc gắn lên silica rỗng được chức năng
hóa (Ag-NPBs) 24
2.1 Quy trình đánh giá khả năng diệt khuẩn của vật liệu Silica/Ag 30
3.1 Đồ thị đường hấp phụ đẳng nhiệt BET của N
2
trên vật liệu silica
Trung Quốc 34
3.2 Đồ thị biểu diễn tọa độ BET của silica Trung Quốc hấp phụ N
3.16 Buồng lọc và cột lọc nước 50
3.17 Hình ảnh E.coli trước và sau keo tụ của mẫu nước sông Hồng 53
3.18 Hình ảnh E.coli sau xử lý ở các lưu lượng của mẫu nước sông
Hồng 53Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page vii
DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU VÀ CHỮ VIẾT TẮT Ký hiệu Tên đầy đủ
ATTC - American Type Culture Collection
APTES - 3-Aminopropyltriethoxysilane
BET - Phương pháp Brunauer-Emmett-Teller
CSF - Ceramic silver-impregnated filter
CFU - Colony forming unit
EPA - Environmental Protection Agency
MPN - Maximum probability number
QCVN - Quy chuẩn Việt Nam
SEM - Scanning Electron Microscope
UV - Ultraviolet
UV-VIS - Ultraviolet spectrum – visible
XRD - X-ray diffraction
WHO - World Health Organization
điều kiện vùng sau lũ thiếu điện và cơ sở hạ tầng.
Trong những năm gần đây, việc lựa chọn các hóa chất, vật liệu khử
trùng nước thân thiện với môi trường, đặc biệt là không ảnh hưởng tới sức
khỏe con người được rất nhiều các nhà khoa học trên thế giới quan tâm
nghiên cứu. Các nhà khoa học đã nhận ra rằng nguyên tố bạc là chất sát trùng
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 2
tự nhiên mạnh nhất và ít độc nhất có trên trái đất. Với kích thước nano, bạc
thể hiện nhiều tính năng khử trùng ưu việt hơn so với các tác nhân khử trùng
khác, do đó ngày càng được quan tâm nghiên cứu và ứng dụng. Tuy nhiên
công nghệ chế tạo nano bạc cấy lên vật liệu mang nhằm mục đích khử trùng
nước vẫn chưa mang lại kết quả cao.
Vật liệu nano composite silica/Ag đã được nghiên cứu và thử nghiệm
trong xử lý nước ở trên thế giới. Phương pháp này không chỉ mang lại hiệu
quả xử lý cao mà giá thành rẻ, dễ kiếm, phương pháp tổng hợp tương đối đơn
giản và không đòi hỏi thiết bị công nghệ đắt tiền. Vì vậy phát triển công nghệ
chế tạo và ứng dụng vật liệu này trong điều kiện ở Việt Nam sẽ mang lại lợi
ích thực tiễn đồng thời là bước phát triển mới trong nghiên cứu vật liệu nano
để xử lý môi trường. Do vậy chúng tôi đã lựa chọn và thực hiện đề
tài:“Nghiên cứu chế tạo và ứng dụng vật liệu nano composite: silica/Ag để
xử lý nước phục vụ sinh hoạt’’.
2. Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu, chế tạo được vật liệu nano composite: silica/Ag có khả
năng diệt khuẩn để ứng dụng trong lọc nước phục vụ sinh hoạt phù hợp với
điều kiện của Việt Nam.
3. Yêu cầu nghiên cứu
- Chế tạo được vật liệu nano composite: silica/Ag
- Đánh giá khả năng diệt khuẩn của vật liệu nano composite: silica/Ag
- Đánh giá hiệu quả thiết bị lọc nước nano composite: silica/Ag trong
nguồn nước chiếm tới 50% tổng số bệnh nhân nội trú ở nước ta (Thống kê của
Bộ Y tế, 2010).
1.1.2. Các vi sinh vật gây bệnh thường có ở trong nước
Tác nhân gây bệnh cho người và động vật qua đường nước thường là
các vi sinh vật gây bệnh đường ruột. Đặc điểm của các vi sinh vật gây bệnh là
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 4
sống ký sinh với tế bào vật chủ, phá vỡ tế bào chủ hoặc tiết ra các chất độc tố
làm chết vật chủ. Các vi sinh vật gây bệnh cho người và động vật gồm có vi
khuẩn, các loài nấm, virus, động vật nguyên sinh và giun sán…trong đó chủ
yếu là vi khuẩn và virus.
Những vi khuẩn gây bệnh hay gặp trong nước là:
- Salmonella typhi và các loại Salmonella khác: gây bệnh thương hàn ở
người, chúng rất phổ biến trong thiên nhiên, tồn tại trong động vật có sừng,
chó, mèo, chim, chuột và cả cá. Vi khuẩn này theo phân súc vật vào nước và
xâm nhập vào người qua đường ăn uống. Chúng có thể sống trong nước thải
tới 40 ngày (Maria Csuros, 1999)
- Shigella: gây bệnh lỵ trực khuẩn ở người, chúng theo phân vào nước,
cùng với thực phẩm và nước uống nhiễm vào cơ thể người qua đường ăn
uống. Shigella sống ở nước tới hàng tháng: ở nước cấp thành phố một tháng,
nước sông ba tháng, nước thải khoảng một tuần (Mara,1974).
- Vibrio cholerae: là tác nhân điển hình của sự truyền nhiễm nhanh qua
nước, gây bệnh tả với tỉ lệ tử vong khá cao. Chúng sống trong nước khá lâu: ở
nước cấp thành phố là 1 tháng, ở nước sông 3 tháng và trong nước thải tới 7
tháng (Maria Csuros, 1999).
- Proteus morganni: gây bệnh tiêu chảy và xuất huyết ruột, nhất là ở
trẻ em vào mùa hè.
- Pseudomonas aeruginosa (trực khuẩn mủ xanh): là vi khuẩn gây bệnh
cơ hội nên trong những điều kiện nhất định chúng có thể xâm nhập vào cơ thể
để phát hiện hết tất cả các loài sẽ rất phức tạp và mất nhiều thời gian. Vì vậy
người ta thường sử dụng các vi sinh vật chỉ thị để đánh giá mức độ ô nhiễm.
Những yêu cầu đối với việc lựa chọn chỉ thị vi sinh là:
• Vi sinh vật này phải có mặt trong đường tiêu hóa của người khỏe mạnh.
• Vi sinh vật có mặt khi vi khuẩn gây bệnh đường tiêu hóa có mặt.
• Phải có số lượng lớn hơn nhiều vi khuẩn gây bệnh cùng nguồn nước
• Tồn tại lâu hơn so với vi khuẩn gây bệnh khi ra ngoài đường tiêu hóa.
• Chúng có sức đề kháng với môi trường tự nhiên và đòi hỏi quá trình
xử lý cao hơn nhiều so với vi khuẩn gây bệnh.
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 6
• Cần phải dễ dàng phát hiện chúng.
• Không phải là vi khuẩn gây bệnh. (Maria Csuros, 1999)
Theo Tổ chức Y tế thế giới (WHO) hiện nay chưa có chỉ thị vi sinh lý
tưởng, nhưng nhóm Coliforms là nhóm vi khuẩn có thể thỏa mãn yêu cầu là
một chỉ thị vi sinh ở mức độ cao nhất trong số những vi khuẩn được biết. Để
xác định Coliiforms người ta dựa vào phát hiện chứ không dựa vào phân lập
vi khuẩn. Tuy rằng không phải lúc nào Coliforms cũng liên quan hoặc trực
tiếp đến sự hiện diện của ô nhiễm phân hay vi khuẩn gây bệnh trong nước
uống, chúng vẫn tiếp tục được sử dụng để theo dõi chất lượng vi sinh của
nước máy sau khi xử lý (WHO, 2006).
Tại Hội nghị Vi sinh vật Y học quốc tế lần thứ 19, Tổ chức Y tế thế
giới cũng đã chọn E.coli làm vi khuẩn chỉ thị cho môi trường có khả năng ô
nhiễm do phân. E.coli sống ở trong ruột già và có mặt rất nhiều trong phân
người và động vật. Như vậy sự có mặt của E.coli ở môi trường bên ngoài
chứng tỏ môi trường đó có khả năng ô nhiễm từ phân.
Tại Quy chuẩn Kỹ thuật Quốc gia về chất lượng nước ăn uống QCVN
01:2009/BYT do Cục Y tế dự phòng và Môi trường biên soạn và được Bộ
trưởng Bộ Y tế ban hành theo Thông tư số: 04/2009/TT – BYT ngày 17 tháng
áo phủ nano bạc, đồng thời đảm bảo tính năng bền nước, bền môi trường và
diệt vi khuẩn, thực sự là một thành tựu đáng kể của công nghệ nano trong lĩnh
vực khử trùng. Các sản phẩm nano bạc ngày càng được ứng dụng rộng rãi
trong các cơ sở y tế, trường học, bệnh viện, trại lính và các địa điểm công
cộng khác, nơi thường có nguy cơ lây lan bệnh cao.
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 8
Bảng 1.1. Tổng hợp ưu nhược điểm của các phương pháp
khử trùng nước ăn uống
TT
Tác nhân
khử trùng
Ưu điểm Nhược điểm
1
Các dẫn
xuất của clo
Chi phí thấp, hiệu qủa khử
trùng cao, vận hành đơn
giản, không cần dùng điện
Tạo thành hợp chất cơ clo có
hại cho sức khoẻ, làm cho
nước có mùi khó chịu, nguy
hiểm cho người vận hành
2
Phương
pháp nhiệt
Đơn giản, phổ thông và dễ
hại cho sức khỏe. Không có
mùi khó chịu.
Không cần dùng điện. Vận
hành đơn giản. Lượng dùng
nhỏ do đó an toàn và tiết
kiệm.
Chưa có bằng chứng chứng tỏ
nano bạc gây ảnh hưởng xấu
đối với sức khỏe cộng đồng
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 9
Nghiên cứu chế tạo nano bạc ứng dụng trong lĩnh vực khử trùng nước
uống sẽ mở ra một hướng mới trong công nghệ xử lý nước nhằm thay thế các
tác nhân khử trùng truyền thống bằng một tác nhân khử trùng an toàn và hiệu
quả hơn. Ngoài ra sử dụng nano bạc để chế tạo những vật liệu khử trùng nước
dưới dạng cột lọc khử trùng hay nến lọc nước sẽ cho phép người dùng không
cần đun nước hay dùng những thiết bị phức tạp mà vẫn tạo được cho mình
nước sạch để uống, sản phẩm này rất hữu ích cho những vùng lũ lụt, vùng sâu
vùng xa, nơi khan hiếm nước sạch.
1.2. Phương pháp khử trùng nước bằng nano bạc
1.2.1. Đặc tính khử trùng của nano bạc
Nano bạc được các đặc biệt quan tâm ứng dụng trong khử trùng chủ yếu
là do các hạt nano bạc có năng lượng bề mặt rất lớn nên khi tiếp xúc với môi
trường nước chúng trở thành như một “kho chứa” để giải phóng từ từ các ion
bạc vào dung dịch, nhờ vậy lượng bạc “trong kho” không bị các thành phần
trong dung dịch vô hiệu hóa nhanh, có thể nói các hạt nano bạc làm duy trì
đặc tính diệt vi sinh vật của ion bạc. Khả năng ứng dụng nano bạc trong việc
khử trùng đã dẫn đến việc xuất hiện nhiều công trình nghiên cứu về cơ chế
Cơ chế tác động của các ion bạc lên vi khuẩn được các nhà khoa học
Trung Quốc làm việc trong hãng ANSON mô tả như sau: khi ion Ag
+
tác
dụng với lớp màng của tế bào vi khuẩn gây bệnh nó sẽ phản ứng với nhóm
sunphohydril –SH của phân tử men chuyển hóa oxy và vô hiệu hóa men này
dẫn đến ức chế quá trình hô hấp của tế bào vi khuẩn.
( Kumar V.S et al, 2004)
Ngoài ra, các ion bạc còn có khả năng ức chế quá trình phát triển của
vi khuẩn bằng cách sản sinh ra oxy nguyên tử siêu hoạt tính trên bề mặt
của hạt bạc:
2Ag
+
+ O
-2
→ 2Ag
0
+ O
0
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 11
Theo một số nhà khoa học Nga, hiện nay có nhiều lý thuyết về cơ chế tác
dụng diệt vi khuẩn của ion bạc đã được đề xuất, trong đó lý thuyết hấp phụ
với axit nucleic dẫn đến thay đổi cấu trúc DNA của vi sinh vật.
(Lansdown A.B.G, 2006).
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 12
Tác động gián tiếp lên phân tử DNA bằng cách tăng số lượng các gốc tự
do dẫn đến làm giảm hoạt tính của các hợp chất chứa oxy hoạt động.
Ngoài ra, còn có ý kiến cho rằng bạc không tác động trực tiếp lên DNA
của tế bào, mà gián tiếp làm tăng số lượng các gốc tự do dẫn đến làm giảm
nồng độ các hợp chất oxy hoạt tính trong tế bào, làm rối loạn các quá trình
oxy hóa cũng như phosphoryl hóa trong tế bào vi khuẩn. Cũng có quan niệm
rằng một trong những nguyên nhân của tác dụng kháng khuẩn phổ rộng là sự
ức chế quá trình vận chuyển qua màng của các ion Na
+
và Ca
2+
bởi ion bạc.
Ion bạc còn thể hiện rõ khả năng diệt nhiều chủng virus và nấm. (Савадян Э.
Ш et al, 1989).
Một số nhà khoa học nhận định rằng ion bạc có khả năng vô hiệu hóa
các loài virus gây bệnh đậu mùa, bệnh cúm A-1, B, adenovirus và HIV, cho
hiệu quả điều trị tốt đối với các bệnh virus Marburg, virus bệnh đường ruột
(enterit) và virus bệnh chó dại. Tuy nhiên, để có thể vô hiệu hóa hoàn toàn
virus bacteriophag đường ruột N163, virus Koksaki serotyp A-5, A-7, A-14
cần đến nồng độ bạc cao hơn (0,5 – 5,0mg/lít) so với trường hợp xử lý
Escherichia, Salmonella, Shigellia và các loài virus đường ruột khác (0,1 –
0,2 mg/lít) ( Григорьева Л. В, 1973).
Số liệu công bố của Kulskii A.L. cho thấy khả năng diệt nấm của ion
bạc. Tại nồng độ 0,1mg/lít bạc thể hiện rõ khả năng diệt nấm. Với mật độ 10
5
Mỹ EPA đưa ra khái niệm liều chuẩn RFD (reference dose) là lượng bạc được
phép hấp thụ mỗi ngày mà không tác động xấu cho sức khỏe trong suốt cuộc
đời. Liều chuẩn được EPA chấp nhận là 5µg/kg/ngày. Như vậy, một người có
trọng lượng 70kg được phép tiếp nhận vào người tối đa 350µg bạc mỗi ngày.
Nồng độ bạc tối đa cho phép trong nước uống của Mỹ là 100µg/lít (EPA
1991). Nếu mỗi ngày uống 2lít nước thì con người nhận vào 200µg bạc, các
loại thực phẩm ăn vào mỗi ngày chiếm trung bình 90µg và phần còn lại dành
cho việc khác không quá 60µg. Vì vậy ngày nay nhiều phương pháp điều trị
có sử dụng bạc trước đây đã được hủy bỏ: bệnh động kinh – cho uống dung
dịch nitrat bạc, bệnh giang mai – tiêm ven dung dịch arsphenamin bạc; nhiều
bệnh nhiễm trùng – cho uống keo bạc. Và gần đây Mỹ đã cấm bán không kê
đơn tất cả các loại thuốc chứa bạc.
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 14
Theo Vainar A. I. bạc là một nguyên tố vi lượng cần thiết cho sự hoạt
động của các tuyến nội tiết, não và gan, tuy nhiên với nồng độ cho phép
không được vượt quá 0,05mg/lít dịch cơ thể. Theo số liệu của tác giả này,
khẩu phần cho người mỗi ngày trung bình 80µg ion bạc. Tổng hàm lượng bạc
trong cơ thể người và động vật được xác định là 0,2mg/kg trọng lượng khô,
trong đó não, các tuyến nội tiết, gan, thận và xương chứa hàm lượng cao nhất.
Khi có mặt ion bạc cường độ phosphoryl hóa oxy hóa trong các ty thể não
cũng như hàm lượng axit nucleic tăng lên đáng kể giúp cải thiện chức năng
não. Khi ngâm các mô khác nhau vào dung dịch sinh lý có nồng độ ion bạc
0,001mg/lít mức độ hấp thụ oxy của mô não tăng 24%, cơ tim – 20%, gan –
36%, thận – 25%. Nhưng nếu tăng nồng độ Ag+ lên 0,01mg/lít thì mức độ
hấp thụ oxy của các mô đó giảm xuống rõ ràng. Điều đó chứng tỏ các ion bạc
đã tham gia vào việc điều chỉnh quá trình trao đổi năng lượng.
Brugdunov và cộng sự công bố kết quả nghiên cứu lâm sàng khi cho
bệnh nhân uống nước ion bạc thay nước uống với nồng độ 30 – 50 mg/lít
cứu xác nhận, người ta vẫn có thể tìm thấy trong các tài liệu công bố một số ý
kiến không đồng quan điểm về tính năng sát khuẩn và độc tính của nano bạc.
Một số ý kiến điển hình được dẫn ra dưới đây.
Theo Đại bách khoa toàn thư y học Liên Xô (T.23, 190-192, XB lần III),
bạc là chất độc tế bào, là sinh chất ngoại lai (xenobiotic), và theo quy định của
Bộ Y tế Nga có độc tính bậc II, tương đương Pb. Cũng theo số liệu công bố
này, gan là cơ quan chịu trách nhiệm bài tiết lượng bạc hấp thụ ra khỏi cơ thể
với thời gian bán bài tiết 50 ngày, và dưới tác dụng lâu dài của bạc có thể xuất
hiện bệnh đường tiêu hóa, gan to
Các nhà khoa học Singapore đã khảo sát độc tính của nano bạc trên ấu
trùng của loài cá cảnh (stripped danio) và đi đến kết luận rằng, phụ thuộc vào
nồng độ đưa vào, nano bạc là một chất độc tiềm tàng đối với cơ thể. Sau khi
đưa nano bạc vào não của ấu trùng các nhà khoa học này đã phát hiện thấy
những khuyết tật trầm trọng trong quá trình phát triển của ấu trùng gây ảnh
hưởng xấu đến hệ thần kinh trung ương, làm rối loạn nhịp tim và quá trình hô
hấp.Tuy nhiên các tác giả đã không chỉ ra nồng độ nano bạc cụ thể (Asharani
P. V et al, 2008).
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 16
Ủy ban khoa học về thuốc và thiết bị y tế của Mỹ SCMPD (Sci.
Committee on Med. Products and Devices) ngày 27-6-2000 đã công bố văn
bản chính thức cấm sử dụng bạc làm thuốc uống cho người, chỉ được áp dụng
tại chỗ trên da hoặc trên niêm mạc. Tuy nhiên trong khi đó Khối EEC lại ra
văn bản Annex IV 94/36 E 174 cho phép sử dụng kim loại này làm chất tạo
màu cho thực phẩm, đồng thời một số sản phẩm thực phẩm chức năng hiện
đang được lưu hành ở Mỹ cho phép người sử dụng uống vào người mỗi ngày
≤ 0,03 mg bạc.
1.2.4. Các ứng dụng của nano bạc trong chế tạo vật liệu xử lý nước
Ứng dụng của nano bạc trong chế tạo vật liệu xử lý nước cũng đã được