Luận án tiến sĩ Lịch sử: Đảng bộ tỉnh Lâm Đồng lãnh đạo phát triển nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao từ năm 2004 đến năm 2015 - Pdf 58

LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận án là công trình nghiên cứu độc  
lập của riêng tác giả. Các tài liệu, số liệu trong luận án là  
trung  thực,  chính  xác  và   có  nguồn  gốc  xuất  xứ   rõ  ràng, 
không trùng lặp với các công trình khoa học đã được công  
bố.
  
TÁC GIẢ LUẬN ÁN

NCS Nguyễn Quang Nam

 

                                    

                            



MỤC LỤC
Trang
LỜI CAM ĐOAN
MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
MỞ ĐẦU
Chương 1 TỔNG   QUAN   TÌNH   HÌNH   NGHIÊN   CỨU   CÓ   LIÊN 
QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI

1.1.
1.2.


Đảng bộ tỉnh Lâm Đồng chỉ đạo đẩy mạnh phát triển 
nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao (2010 ­ 2015)
NHẬN XÉT VÀ KINH NGHIỆM

5
11
11
23
30
30
49
84
84
98
132

Nhận xét quá trình Đảng bộ tỉnh Lâm Đồng lãnh đạo phát  
triển nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao (2004 ­ 2015)
132
4.2. Những kinh nghiệm chủ  yếu  từ  quá trình Đảng bộ 
tỉnh Lâm Đồng lãnh đạo phát triển nông nghiệp  ứng 
dụng công nghệ cao (2004 ­ 2015)
153
KẾT LUẬN 
167
DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH CỦA TÁC GIẢ ĐàCÔNG BỐ CÓ 
LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN
170
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
171

CNH,HĐH
CNSH
HTX
KH­CN
KH­KT
KT­XH
NN&PTNT
UBND


MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Nông   nghiệp,   nông   dân   và   nông   thôn   đóng   vai   trò   to   lớn   trong   sự 
nghiệp  đấu tranh gi ải phóng dân tộc và kiến thiết đất nướ c. Đả ng ta 
khẳng định: Nông nghiệp, nông dân, nông thôn có vị trí chiến lượ c trong 
sự  nghiệp CNH,HĐH, xây dựng và bảo vệ  Tổ  quốc, là cơ  sở  và lực 
lượ ng  quan  trọng   để   phát  triển  KT­XH   bền  vững,  gi ữ  v ững  ổn  đị nh 
chính trị, đảm bảo an ninh ­ quốc phòng, giữ  gìn, phát huy bản sắc dân 
tộc và bảo vệ môi trườ ng sinh thái của đất nướ c. Dướ i ánh sáng  đường 
lối đổi mới của Đảng, nền nông nghiệp nước ta đã có sự chuyển biến sâu  
sắc và toàn diện từ  sản xuất đến chuyển dịch cơ  cấu cây trồng, vật nuôi, 
đưa Việt Nam từ  một nước thiếu lương thực, phải nhập khẩu hàng năm 
trở  thành quốc gia có nhiều mặt hàng nông sản xuất khẩu hàng đầu thế 
giới. Nhờ  đó, đời sống của ngườ i nông dân từng bướ c đượ c  ổ n đị nh và 
không ngừng đượ c cải thiện, diện mạo nông thôn từng bướ c đượ c thay  
đổi theo hướ ng tích cực, góp phần quan tr ọng vào sự   ổn đị nh và phát  
triển  đất nướ c. Tuy vậy, n ền nông nghiệp nướ c ta vẫn còn tiềm  ẩn  
nhiều yếu tố chưa  bền vững; năng suất, chất lượng nông sản và hiệu quả 
sản xuất vẫn còn nhiều hạn chế; sản xuất manh mún với cách thức tổ 
chức sản xuất  lạc hậu vẫn là gam màu chủ   đạo trong bức tranh  nông 

triển vượt bậc, năng suất, chất lượng và hiệu quả  kinh tế  trong sản xuất  
nông nghiệp tăng gấp nhiều lần so với phương pháp canh tác truyền thống, 
đưa Lâm Đồng trở  thành một trong những địa phương dẫn đầu về  nông 
nghiệp ứng dụng công nghệ cao của cả nước. Thành tựu từ  quá trình phát 


triển nông nghiệp  ứng dụng công nghệ  cao đã tạo nên bước “đột phá” 
trong phát triển kinh tế, “lan tỏa” sâu rộng đến các lĩnh vực chính trị, xã 
hội, quốc phòng, an ninh và làm thay đổi tập quán canh tác của người nông  
dân; là nhân tố  cơ  bản đưa Lâm Đồng thoát nghèo và trở  thành một tỉnh 
giàu   mạnh   ở   khu   vực   Tây   Nguyên.   Tuy   vậy,   quá   trình   phát   triển   nông  
nghiệp theo hướng  ứng dụng công nghệ  cao  ở  Lâm Đồng vẫn còn nhiều  
hạn chế, thách thức đến tính bền vững trong phát triển kinh tế  của địa 
phương.
Do đó, nghiên cứu về  quá trình lãnh đạo phát triển nông nghiệp  ứng 
dụng công nghệ cao của Đảng bộ tỉnh Lâm Đồng, làm rõ những thành tựu 
cũng như những hạn chế trong hoạch định chủ trương và chỉ đạo thực tiễn 
của Đảng bộ  về  phát triển nông nghiệp  ứng dụng công nghệ  cao, tìm ra 
những nguyên nhân và đúc kết những kinh nghiệm để  vận dụng vào hiện 
tại là rất cần thiết, có ý nghĩa lý luận và mang tính thực tiễn sâu sắc.
Với những lý do trên, nghiên cứu sinh chọn đề  tài   Đảng bộ  tỉnh Lâm  
Đồng lãnh đạo phát triển nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao từ năm 2004  
đến năm 2015 làm luận án tiến sĩ chuyên ngành Lịch sử Đảng Cộng sản Việt 
Nam.
2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu
Làm sáng tỏ  quá trình Đảng bộ  tỉnh Lâm Đồng lãnh đạo phát triển 
nông nghiệp  ứng dụng công nghệ  cao từ  năm 2004 đến năm 2015; trên 
cơ  sở  đó, đúc kết những kinh nghiệm chủ  yếu có giá trị  tham khảo, vận 
dụng vào quá trình lãnh đạo của Đảng bộ hiện nay.

triển nông nghiệp  ứng dụng công nghệ cao giai đoạn 2011 ­ 2015 trên địa  


10
bàn tỉnh Lâm Đồng. Tuy nhiên, để đảm bảo tính hệ thống và đạt được mục 
đích nghiên cứu, luận án có đề cập những vấn đề cơ bản liên quan đến quá 
trình ứng dụng KH­CN vào sản xuất nông nghiệp trước năm 2004.
4. Cơ sở lý luận, thực tiễn và phương pháp nghiên cứu
Cơ sở lý luận
Luận án được thực hiện dựa trên cơ  sở  lý luận  là  chủ  nghĩa Mác  ­ 
Lênin, tư  tưởng Hồ  Chí Minh; quan điểm, chủ  trương của Đảng về  phát 
triển kinh tế nông nghiệp và ứng dụng KH­CN vào sản xuất nông nghiệp.
Cơ sở thực tiễn 
Luận án dựa vào thực tiễn hoạt động lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh Lâm  
Đồng về phát triển nông nghiệp ứng dụng công nghệ  cao và kết quả quan 
sát, khảo sát thực tế ở một số địa phương, cơ sở sản xuất nông nghiệp ứng 
dụng công nghệ  cao trên địa bàn tỉnh Lâm Đồng. Ngoài ra, luận án còn sử 
dụng kết quả nghiên cứu thực tế của một số công trình, đề tài khoa học có 
liên quan  ở  tỉnh Lâm Đồng cũng như  một số  địa phương trên phạm vi cả 
nước.
Phương pháp nghiên cứu
Luận án chủ yếu sử dụng phương pháp lịch sử và phương pháp logic,  
ngoài ra còn sử  dụng phương pháp thống kê, phân tích, so sánh, tổng hợp,  
khảo sát thực tế để làm rõ các nội dung của luận án. 
Phương pháp lịch sử  được sử  dụng trong toàn bộ  luận án  nhằm phân 
kỳ  thời gian, làm rõ bối cảnh lịch sử  tác động, trình bày quá trình hoạch 
định chủ trương và chỉ đạo của Đảng bộ tỉnh Lâm Đồng về phát triển nông 
nghiệp ứng dụng công nghệ cao theo diễn tiến thời gian.
Trên   cơ   sở   phươ ng   pháp   lịch   sử,   luận   án   sử   dụng   kết   hợp   với  
phươ ng pháp logic để  làm rõ bướ c phát triển tư  duy trong nhận th ức và  


12
cao từ năm 2004 đến năm 2015; làm rõ nguyên nhân và đúc kết những kinh  
nghiệm để vận dụng vào hiện tại.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn
Ý nghĩa lý luận
Luận   án   góp   phần   tổng   k ết,   làm   sáng   tỏ   tính   tất   y ếu   và  chủ 
tr ươ ng c ủa Đả ng  về  phát tri ển nông nghi ệp  ứng d ụng công nghệ  cao 
(qua th ực t ế  ở t ỉnh Lâm Đồ ng).
Kết quả  nghiên cứu của luận án  sẽ  góp  thêm luận cứ  khoa học  cho 
việc bổ  sung, phát triển chủ  trương của Đảng về  phát triển nông nghiệp 
ứng dụng công nghệ cao trong thời kỳ mới.
Ý nghĩa thực tiễn 
Luận án cung cấp cho Đảng bộ tỉnh Lâm Đồng những kinh nghiệm đối với 
quá trình đẩy mạnh phát triển nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao trong thời kỳ 
mới. 
Góp thêm những kinh nghiệm từ thực tiễn phát triển nông nghiệp ứng 
dụng công nghệ cao ở Lâm Đồng ­ “điểm sáng” về nông nghiệp ứng dụng 
công nghệ cao của cả nước để các địa phương tham khảo.
Luận án là tài liệu tham khảo cho công tác tuyên truyền, nghiên cứu, 
giáo dục lịch sử  Đảng  Cộng sản Việt Nam cũng như  lịch sử  địa phương 
(tỉnh Lâm Đồng) trong thời kỳ đổi mới.
7. Kết cấu của luận án
Luận án gồm: Mở  đầu,  4  chương (8  tiết), kết luận, danh mục các 
công trình nghiên cứu của tác giả, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục.

Chương 1


13

những thành tựu “kỳ diệu” trên là do Israel đã chú trọng ứng dụng công nghệ 
trong nông nghiệp. Một trong những thành tựu nổi bật là công nghệ tưới nhỏ 
giọt của Simcha Blass. Nhờ công nghệ tưới nhỏ giọt và nhà lưới mà người 
Israel đã biến sa mạc Negev thành những cánh đồng và khu rừng xanh tươi.  
Cùng với yếu tố công nghệ, nông trang (kibbuzt) là yếu tố đặc thù và có vai 
trò quan trọng đối với sự phát triển của nông nghiệp Israel.
Danel   Walker   (2017),  Phát   triển   nông   nghiệp   công   nghệ   cao   ở 
Austraulia và một số  đề  xuất cho Việt Nam [8]. Tác giả  làm rõ vai trò của 
việc  ứng dụng tiến bộ  KH­CN  đối với thúc  đẩy tăng trưởng nền nông 
nghiệp Austraulia. Trong những thành tựu về KH­CN, tác giả đặc biệt phân 
tích về vai trò của việc ứng dụng công nghệ thông tin và truyền thông trong  
sản xuất nông nghiệp để dần hình thành nền “nông nghiệp kỹ thuật số” [8,  
tr.208]; vai trò của ứng dụng công nghệ di truyền trong tạo ra các giống cây  
trồng, vật nuôi có khả  năng kháng bệnh cao. Theo tác giả, để  đẩy mạnh 
nghiên cứu và  ứng dụng, chuyển giao tiến bộ  KHCN vào sản xuất nông 
nghiệp, cần phải có sự hợp tác giữa Chính phủ, các doanh nghiệp và các tổ 
chức xã hội dân sự trong đầu tư phát triển và chia sẻ chi phí.
  Phát triển nông nghiệp  ứng dụng công nghệ  cao  ở  các nước Đông 
Dương   có   bài   viết  Tăng   cường   chính   sách   phát   triển   nông   nghiệp   ở  
Campuchia  của tác giả  Chou  Chadary, bài viết  Một số  chính sách và biện  
pháp thúc đẩy phát triển nông thôn dựa vào nông nghiệp công nghệ cao ở Lào 
của tác giả  Bounthong Bouahom được in trong cuốn Kỷ yếu Hội thảo quốc  
tế  về đẩy mạnh phát triển nông thôn tại tiểu vùng Mê­Kông dựa trên nông  
nghiệp công nghệ  cao và du lịch bền vững  [201]  do Viện Hàn lâm Khoa 
học xã hội Việt Nam tổ chức tại tỉnh Lâm Đồng vào năm 2015. Các tác giả 
đã khẳng định, nông nghiệp có vai trò “chủ đạo” trong quá trình phát triển KT­


15
XH của Lào và Campuchia. Trên cơ sở nhận thức vai trò của ứng dụng công 

nghiệp ở Bỉ có vai trò rất lớn các cơ quan và viện nghiên cứu nông nghiệp. Đặc  
biệt, sản xuất nông nghiệp của Bỉ có tính chuyên canh cao và chỉ tập trung sản 
xuất các loại cây trồng mang tính đặc trưng, có thế mạnh để hướng đến xuất 
khẩu như hoa thu hải đường, đỗ quyên, azaleas.
Nông nghiệp Hàn Quốc và Đài Loan đã có bước phát triển vượt bậc nhờ 
Chính phủ  đẩy mạnh  ứng dụng công nghệ  cao, nhất là CNSH. Chính phủ 
Hàn Quốc lựa chọn phát triển CNSH “làm khâu đột phá” [67, tr.84]. Nét nổi 
bật mang tính đặc thù trong tổ chức sản xuất nông nghiệp ở Hàn Quốc là chú 
trọng phát triển mô hình  HTX  đa mục tiêu. Ngoài yếu tố  công nghệ, thành 
công của nông nghiệp công nghệ cao Đài Loan có vai trò đặc biệt quan trọng 
của Nhà nước thông qua công tác xây dựng và quản lý quy hoạch. Nhà nước  
không chỉ quy hoạch mang tầm chiến lược mà còn chú ý đến từng việc nhỏ 
như: nhà lưới cao cấp trồng các loại hoa có giá trị cao thì dựng nhà kính màu 
đen, cây ăn trái thì màu xanh, rau thì nhà màng phủ ni lông màu trắng. Thống  
nhất quy  ước như  trên đã tạo nên sự  dễ  dàng trong điều tra, quy hoạch các  
loại cây trồng.
Nông nghiệp Nhật Bản: Mặc dù là một quốc gia có diện tích bình quân 
đầu người thấp nhất thế  giới (0,036 ha/người) nhưng Nhật Bản trở thành 
nước có nền nông nghiệp phát triển cao với nhiều cây trồng, vật nuôi có giá 
trị. Để có kỳ tích trên, Nhật Bản đã chú trọng đầu tư, ứng dụng công nghệ 
cao trong nông nghiệp, đặc biệt là ứng dụng công nghệ thông tin. Nhật Bản 
coi “công nghệ thông tin là khâu đột phá ứng dụng công nghệ cao” [67, tr.92] 
và đã áp dụng nó trong rất nhiều các công đoạn của sản xuất nông nghiệp. 
Nông  nghiệp Thái  Lan: Nhờ  chính  sách của Chính  phủ  về  khuyến 
khích hỗ trợ thành lập các trung tâm nghiên cứu, ứng dụng tiến bộ về  KH­
KT trong nông nghiệp và đầu tư CNSH trong chọn, tạo giống cây trồng vật 


17
nuôi có ưu thế, nông nghiệp Thái Lan đã cho ra đời nhiều nông sản có chất  

dụng tổng hợp theo một quy trình khép kín, hoàn chỉnh, nhằm khai thác hiệu  
quả nhất tài nguyên tự  nhiên (đất đai, khí hậu) và tiềm năng của giống để 
đạt năng suất và chất lượng sản phẩm cao nhất một cách bền vững” [203, 
tr.111]. 
Nghiên cứu về thực trạng và giải pháp phát triển nông nghiệp ứng dụng 
công nghệ  cao  ở  Việt Nam còn có  Phạm Văn Hiển (2014),  Phát triển nông  
nghiệp công nghệ cao ở Việt Nam: Kết quả ban đầu và những khó khăn cần  
tháo gỡ [30]; Trần Thanh Quang (2016), Về phát triển nông nghiệp công nghệ  
cao ở nước ta [64]. Trên cơ sở đánh giá hiệu quả từ các mô hình sản xuất và  
vai trò “đầu tàu” của khu nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao [64, tr.84], tác 
giả  Trần Thanh Quang đã đề  xuất các giải pháp về công tác quy hoạch, bồi 
dưỡng nguồn nhân lực, tăng cường đầu tư cho hoạt động KH­CN trong nông 
nghiệp, hoàn thiện cơ chế, chính sách, đẩy mạnh cải cách hành chính, mở rộng 
liên kết hợp tác quốc tế, phát triển thị  trường và thực hiện chính sách “dồn 
điền, đổi thửa” nhằm thúc đẩy tích tụ ruộng đất, tăng cường xây dựng kết cấu  
hạ tầng nông thôn.
Bàn về chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước về phát triển nông 
nghiệp ứng dụng công nghệ cao có các công trình tiêu biểu của Đỗ  Phú Hải 
(2015), Đánh giá chính sách quốc gia nhằm thúc đẩy nông nghiệp công nghệ  
cao và du lịch dựa vào nông nghiệp Việt Nam [201]; Đỗ Phú Hải (2016), Về 
chính sách phát triển nông nghiệp công nghệ cao ở  nước ta [29]. Các công 
trình trên đã khái quát chính sách của Nhà nước về  phát triển nông nghiệp 
ứng dụng công nghệ  cao. Đánh giá tổng thể  chính sách quốc gia về  nông  
nghiệp  ứng dụng công nghệ  cao, tác giả  cho rằng: quan điểm phát triển 


19
chưa khai thác lợi thế so sánh của từng vùng sinh thái; chưa xây dựng được  
các khu nông nghiệp  ứng dụng công nghệ  cao làm hạt nhân công nghệ  để 
nhân rộng; chưa xã hội hóa tối đa đầu tư  xây dựng các khu và vùng nông 

nghệ cao và sản phẩm nông nghiệp chủ đạo của vùng như  sản xuất lúa, rau 
màu, cây ăn quả và nuôi trồng thủy sản. Trong đó, thành tựu nổi bật trong phát  
triển nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao ở vùng Đồng bằng sông Cửu Long 
là đã phát huy vai trò của các Viện, Trung tâm nghiên cứu, ứng dụng và chuyển 
giao KH­CN ở các địa phương trong vùng. Nhờ thế, đã thu hút ngày càng nhiều 
người nông dân và doanh nghiệp đầu tư phát triển nông nghiệp ứng dụng công 
nghệ cao. Tuy vậy, sản xuất nông nghiệp ứng dụng công nghệ  cao vẫn còn 
nhiều yếu tố hạn chế và chưa bền vững. Từ thực trạng trên, công trình đã đề 
ra 8 giải pháp đồng bộ nhằm đẩy mạnh phát triển nông nghiệp ứng dụng công 
nghệ cao của vùng trong giai đoạn tiếp theo. 
Nghiên cứu về phát triển nông nghiệp ứng dụng công nghệ  cao trên địa 
bàn Tây Nguyên có công trình của Phạm Đức Nghiệm (2011), Đổi mới phương  
thức chuyển giao công nghệ phát triển nông, lâm nghiệp vùng Tây Nguyên  [57]. 
Tác giả đã làm rõ vị trí kinh tế mũi nhọn của ngành nông nghiệp, phác họa thực 
trạng việc ứng dụng và chuyển giao KH­CN cũng như giá trị sản xuất các loại  
cây trồng, vật nuôi chủ yếu ở Tây Nguyên. Trên cơ sở đó, tác giả đã đề xuất 
những giải pháp nhằm đẩy mạnh quá trình ứng dụng khoa học vào sản xuất  
nông nghiệp, trong đó đặc biệt nhấn mạnh giải pháp “từng bước hình thành các 
cụm, khu nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao gắn với các vùng chuyên canh” 
[57, tr.154]. Tác giả  Nguyễn Duy Mậu (2016),  Tiềm năng phát triển du lịch  
nông nghiệp công nghệ cao trên địa bàn Tây Nguyên ­ Việt Nam [54] đã đánh 
giá tiềm năng, thế mạnh phát triển kinh tế du lịch nói chung, loại hình du lịch 


21
nông nghiệp công nghệ  cao nói riêng của khu vực Tây Nguyên, nhất là tỉnh  
Lâm Đồng. Theo tác giả, trong điều kiện hội nhập “phát triển du lịch nông 
nghiệp công nghệ cao là hình thức xuất khẩu nông sản tại chỗ hiệu quả nhất, 
đồng thời quảng bá nông sản qua con đường du lịch là con đường ngắn nhất  
để vào thị trường thế giới” [54, tr.54]. 

Nghiên cứu về phát triển nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao ở tỉnh 
Nghệ  An có  bài viết của Hồ  Đức Phớc (2016), “Hướng đi mới cho nông  
nghiệp Nghệ An” [62]. Tác giả đã đánh giá thực trạng việc ứng dụng KH­
CN vào sản xuất nông nghiệp và thực hiện đề  án phát triển nông nghiệp  
công nghệ  cao trên địa bàn tỉnh Nghệ  An. Đặc biệt, nhờ   ứng dụng công 
nghệ  cao của Công ty TH, giá trị  sản xuất trên một đơn vị  diện tích đất  
nông  nghiệp   đã   tăng  gấp  10   lần  so   với  trước   đây.   Tuy   vậy,   nền   nông 
nghiệp Nghệ  An vẫn còn lạc hậu. Vì thế, theo tác giả, để phát triển nông 
nghiệp theo hướng hiện đại hóa, Nghệ An cần tăng hàm lượng công nghệ 
trong sản xuất nông nghiệp và đẩy mạnh thu hút đầu tư nước ngoài.
Nghiên cứu về phát triển nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao ở các tỉnh 
thuộc khu vực Tây Nguyên có các tác giả Thanh Hường (2016), “Ứng dụng  
công nghệ cao để gia tăng giá trị ngành nông nghiệp ” [47]; Đức Diệu (2014), 
“Liên kết hợp tác, xu thế tất yếu để  phát triển nông nghiệp công nghệ cao” 
[19]; Dương Nương (2016), “Kon Tum: Phát triển nông nghiệp ứng dụng công  
nghệ cao gắn với chế biến” [59]. Các tác giả đã khái quát những tiềm năng, lợi 
thế  của các tỉnh Đắc Lắc, Đắc Nông và Kon Tum, khẳng định sự  cần thiết 
ứng dụng công nghệ cao trong sản xuất nông nghiệp, đồng thời đề ra các giải 
pháp nhằm phát triển nông nghiệp  ở  các  địa phương theo hướng công nghệ 
cao.  
1.1.2.3. Các công trình nghiên cứu về  phát triển nông nghiệp  ứng dụng  
công nghệ cao ở tỉnh Lâm Đồng


23
Nghiên cứu về  chủ  trương và thực trạng phát triển nông nghiệp  ứng  
dụng công nghệ cao trên địa bàn tỉnh Lâm Đồng có Huỳnh Phong Tranh (2009), 
Lâm Đồng ứng dụng công nghệ cao, phát triển nông nghiệp bền vững  [134]. 
Tác giả đã phân tích làm rõ những thành tựu bước đầu và những yếu kém 
còn tồn tại sau 5 năm thực hiện chủ  trương của Tỉnh  ủy Lâm Đồng về 

công nghệ  cao và du lịch bền vững khu vực Mê Kông [201] còn chỉ  rõ: sự 
phát triển của nông nghiệp  ứng dụng công nghệ  cao trên địa bàn Đà Lạt ­  
Lâm Đồng đã tạo ra tiềm năng phát triển loại hình du lịch mới ­ du lịch  
canh nông. Theo tác giả, với lợi thế trung tâm du lịch nổi tiếng, lại là trung  
tâm sản xuất nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao đứng đầu cả nước nên  
Đà Lạt ­ Lâm Đồng có tiềm năng rất lớn để  phát triển “du lịch canh nông 
có tầm cỡ khu vực và quốc tế” [201, tr.253]. 
Về sự tác động của mô hình nông nghiệp ứng dụng công nghệ  cao đến  
thực hiện Chương trình quốc gia về xây dựng nông thôn mới, tác giả Hạ Long  
(2016), Năm cách làm mới, hiệu quả trong xây dựng nông thôn mới thực chất,  
vững chắc ở tỉnh Lâm Đồng [50] đã phân tích làm rõ những điểm sáng tạo trong 
lãnh đạo, chỉ  đạo thực hiện chương trình xây dựng nông thôn mới  ở  Lâm 
Đồng. Nổi bật trong những cách làm mới góp phần đưa Lâm Đồng “trở thành 
lá cờ  đầu xây dựng nông thôn mới của Tây Nguyên” [50, tr.76] là nhờ  địa 
phương đã không phát triển nông nghiệp theo phương thức sản xuất truyền 
thống mà lựa chọn nông nghiệp sạch  ứng dụng công nghệ  cao theo hướng  
hàng hóa để  phát triển. Tác giả  còn nhấn mạnh: “Ứng dụng công nghệ  cao  
trong sản xuất nông nghiệp thực sự không còn là những mô hình trình diễn nhỏ 
lẻ mà đang dần trở thành một tập quán canh tác trên diện rộng của người nông 
dân Lâm Đồng” [50, tr.73]. 
Dưới góc độ  luận giải tác động với  ứng phó biến đổi khí hậu, tác giả 
Huy Sơn (2016), Lâm Đồng: Phát triển nông nghiệp công nghệ cao ­ giải pháp  


25
chống hạn hiệu quả [77] đã phân tích làm rõ nguyên nhân cơ bản nhất mà nền 
nông nghiệp Lâm Đồng không chịu tác động bởi nạn hạn hán nghiêm trọng trên 
địa bàn Tây Nguyên năm 2015 là nhờ  địa phương đẩy mạnh  ứng dụng công 
nghệ cao vào sản xuất, đặc biệt là công nghệ nhà kính và tưới nước tiết kiệm. 
Nghiên cứu về ứng dụng công nghệ cao đối với một số cây trồng vật nuôi  

cá tầm giống. 
Nghiên cứu về  các doanh nghiệp nông nghiệp công nghệ  cao  ở  Lâm  
Đồng có Nguyễn Đình Sơn (2016), Kết quả ứng dụng công nghệ cao tại Công  
ty cổ phần công nghệ sinh học Rừng hoa Đà Lạt và định hướng phát triển công  
nghệ cao trong thời gian tới [135]. Tác giả đã làm rõ những bước phát triển đột 
phá trong sản xuất cây giống và trồng hoa công nghệ  cao trong nhà kính của  
doanh nghiệp, nhất là từ khi ứng dụng công nghệ cao vào sản xuất. Từ thành 
công của doanh nghiệp, tác giả cho rằng: Ứng dụng công nghệ cao vào sản xuất 
nông nghiệp mang lại hiệu quả kinh tế rất lớn, là hướng đi mới trong sản xuất 
nông nghiệp.
Về  HTX có bài viết của HTX dịch vụ nông nghiệp tổng hợp Anh Đào 
(2016), Kinh nghiệm sản xuất rau công nghệ cao của hợp tác xã Anh Đào ­ Đà  
Lạt [135]. Bài viết đã khái lược quá trình phát triển nhanh chóng của HTX Anh 
Đào sau hơn 10 năm hoạt động. Nhờ đẩy mạnh ứng dụng công nghệ cao vào  
sản xuất và cơ chế quản lý hiệu quả nên chất lượng sản phẩm và hiệu quả 
sản   xuất   kinh   doanh   của  HTX  tăng   trưởng   cao   (bình   quân   đạt   500   triệu 
đồng/ha/năm). Trên cơ  sở  đó, bài viết đã rút ra kinh nghiệm: sản xuất công 
nghệ cao là hướng đi tích cực, song cần lựa chọn phù hợp về đối tượng cây 
trồng, công nghệ áp dụng, quy mô, khả năng đầu tư, điều kiện KT­XH của địa 
phương. 
1.2. Khái quát kết quả chủ yếu của các công trình đã được công bố 
và những vấn đề đặt ra luận án tiếp tục giải quyết



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status