Đảng bộ tỉnh lâm đồng lãnh đạo phát triển kinh tế du lịch từ năm 2006 đến năm 2015 - Pdf 56

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT

Chữ viết đầy đủ
Chính trị quốc gia
Công nghiệp hóa, hiện đại hóa
Hội đồng nhân dân
Kinh tế du lịch
Kinh tế - xã hội
Nhà xuất bản
Nông nghiệp và Phát triển nông thôn
Ủy ban nhân dân
Văn hóa, Thể thao và Du lịch

Chữ viết tắt
CTQG
CNH, HĐH
HĐND
KTDL
KT-XH
Nxb
NN&PTNT
UBND
VH, TT&DL


MỤC LỤC
MỞ ĐẦU
Chương 1: CHỦ TRƯƠNG VÀ SỰ CHỈ ĐẠO CỦA ĐẢNG BỘ

Trang
3


kinh tế du lịch (2011 - 2015)
Chương 3: NHẬN XÉT VÀ KINH NGHIỆM
3.1. Nhận xét quá trình Đảng bộ tỉnh Lâm Đồng lãnh đạo

54
66

phát triển kinh tế du lịch (2006 - 2015)
3.2. Kinh nghiệm từ quá trình Đảng bộ tỉnh Lâm Đồng lãnh

66

đạo phát triển kinh tế du lịch (2006 - 2015)
KẾT LUẬN
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC

78
92
94
105


MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Đời sống vật chất và tinh thần ngày càng được nâng cao, điều này đã khiến
cho du lịch trở thành một nhu cầu không thể thiếu trong cuộc sống của con
người. Ngày nay, ở nhiều quốc gia, du lịch đã trở thành một ngành kinh tế quan
trọng, những lợi ích mà ngành du lịch mang lại là vô cùng to lớn, không chỉ dưới

Những năm qua, nguồn thu nhập từ KTDL đã góp phần thúc đẩy cơ cấu
kinh tế của tỉnh Lâm Đồng chuyển dịch theo hướng tích cực, tỉ trọng dịch vụ
trong GDP ngày một tăng cao. Tuy nhiên, việc phát triển KTDL của Tỉnh vẫn
còn một số hạn chế như: tốc độ phát triển vẫn chưa tương xứng với tiềm năng
và thế mạnh vốn có của địa phương. Sự tăng trưởng của KTDL còn chưa thực
sự bền vững; lượng khách khách quốc tế còn thấp; một số dự án đầu tư cho
phát triển KTDL chậm tiến độ và hiệu quả chưa cao. Mặt khác, Lâm Đồng
còn thiếu các sản phẩm du lịch mới, hấp dẫn; việc hợp tác, kết nối các tour,
tuyến du lịch với các địa phương khác và giữa các doanh nghiệp kinh doanh
du lịch chưa thực sự chặt chẽ…
Từ thực tiễn trên, việc nghiên cứu quá trình Đảng bộ tỉnh Lâm Đồng lãnh đạo
phát triển KTDL trên địa bàn, đánh giá kết quả, rút ra những kinh nghiệm để vận
dụng trong thời gian tới là vấn đề có ý nghĩa rất quan trọng đối với Đảng bộ và
nhân dân tỉnh Lâm Đồng. Với những ý nghĩa đó, tác giả lựa chọn đề tài: “Đảng bộ
tỉnh Lâm Đồng lãnh đạo phát triển kinh tế du lịch từ năm 2006 đến năm 2015”
làm luận văn Thạc sĩ Lịch sử chuyên ngành Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam.
2. Tình hình nghiên cứu có liên quan đến đề tài
Trong những năm qua, du lịch là lĩnh vực nhận được sự quan tâm đặc biệt
của Đảng, Nhà nước, các địa phương, các cơ quan lãnh đạo, quản lý và nhiều nhà
khoa học. Vì vậy đã có nhiều công trình nghiên cứu về du lịch dưới nhiều góc độ
khác nhau, có thể chia thành các nhóm như sau:
* Nhóm công trình nghiên cứu chung về phát triển
du lịch và kinh tế du lịch trên phạm vi cả nước
Cuốn sách Du lịch và kinh doanh du lịch của tác giả Trần Nhạn [32], giới
thiệu khái quát lý luận về du lịch và những hoạt động kinh doanh trong lĩnh
vực du lịch. Trong đó, tác giả đã tập trung làm rõ những tính chất, đặc điểm

4




5


thời kỳ đổi mới (1986 - 2001), làm rõ quá trình phát triển về lý luận của Đảng
trong lĩnh vực phát triển kinh tế du lịch; phân tích rõ các yếu tố tác động đến
việc hình thành chủ trương của Đảng lãnh đạo phát triển kinh tế du lịch; phân
tích, luận giải quá trình lãnh đạo phát triển kinh tế của Đảng trong 15 năm kể
từ khi thực hiện công cuộc đổi mới; những thành tựu, hạn chế trong quá trình
lãnh đạo của Đảng và đúc kết được các kinh nghiệm có giá trị khoa học về
thực tiễn Đảng lãnh đạo phát triển kinh tế du lịch.
Ngoài ra còn một số công trình như: Phát triển nhanh và bền vững du
lịch Việt Nam của tác giả Đỗ Quang Trung [73]; Bàn về thu hút vốn đầu tư
phát triển nghành du lịch tại Việt Nam của tác giả Trần Xuân Cảnh [07]; Phát
triển du lịch trong tầm nhìn mới của tác giả Dương Vũ [104]; Để du lịch thực
sự là nghành kinh tế mũi nhọn của tác giả Bích Nhung [34]; Du lịch Việt Nam
trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế của tác giả Phạm Hưng [26]; Sự phát
triển du lịch dưới đường lối đổi mới của Đảng cộng sản Việt Nam của tác giả
Trần Đức Thanh [51]; Phát triển du lịch Việt Nam trong tình hình mới của tác
giả Võ Thị Thắng [53]; Để du lịch Việt Nam không mãi là tiềm ẩn của tác giả
Phạm Hạnh [22]... Các tác giả đã phân tích những điều kiện để Việt Nam có
thể trở thành một nước phát triển mạnh về du lịch. Chỉ rõ việc phát triển du lịch
không chỉ mang lại hiệu quả kinh tế cao mà còn góp phần làm lành mạnh xã
hội thúc đẩy các ngành kinh tế khác phát triển, giữ vững chủ quyền quốc gia,
quốc phòng, an ninh, tạo ra nhiều việc làm, nâng cao đời sống của nhân dân...
Để du lịch Việt Nam phát triển tương xứng với tiềm năng và thế mạnh vốn có,
các tác giả đều nêu cao tầm quan trọng của công tác tuyên truyền, quảng bá,
xúc tiến du lịch, cho rằng ngành du lịch cần phải được quan tâm đồng bộ và
thiết thực hơn nữa.
* Nhóm công trình nghiên cứu về phát triển du lịch và kinh tế du lịch

trung làm rõ những tiềm năng, thế mạnh để phát triển kinh tế du lịch ở tỉnh
Thanh Hóa. Xuất phát từ những chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà Nước,
luận văn đã đi sâu vào phân tích phương hướng, biện pháp của Đảng bộ tỉnh
Thanh Hóa về phát triển du lịch từ năm 2001 đến năm 2010; đánh giá những
thành công, hạn chế, đúc kết những kinh nghiệm trong quá trình lãnh đạo của
Đảng bộ tỉnh Thanh Hóa về phát triển du lịch giai đoạn 2001 - 2010.
Một số bài viết như: Để du lịch trở thành ngành kinh tế động lực
trong phát triển KT-XH ở tỉnh Ninh Bình của tác giả Trần Hữu Nam [30];

7


Đưa du lịch Tiền Giang thành ngành kinh tế động lực của tác giả Trần Ngọc
[31]; Kỷ yếu Phát triển du lịch bền vững từ thực tiễn của các tỉnh, thành phía
Nam, của Tỉnh ủy Bình Phước [70]... đã góp phần hệ thống hoá các quan điểm,
chủ trương của Đảng bộ một số tỉnh về phát triển du lịch và lãnh đạo phát triển
kinh tế du lịch trong thời kỳ mới; đánh giá, phân tích những thành tựu, hạn chế,
trong quá trình các Đảng bộ lãnh đạo phát triển kinh tế du lịch; đề xuất nhiều
giải pháp và phương hướng phát triển kinh tế du trong thời gian tiếp theo.
* Nhóm công trình nghiên cứu về phát triển du lịch và kinh tế du lịch
ở tỉnh Lâm Đồng
Luận án Hoàn thiện quản lý nhà nước về du lịch trên địa bàn tỉnh Lâm
Đồng của tác giả Nguyễn Tấn Vinh [103], trình bày hệ thống hoá công tác
quản lý nhà nước về du lịch; đánh giá thực trạng công tác quản lý nhà nước về
du lịch trên địa bàn tỉnh Lâm Đồng. Thông qua kết quả phát triển kinh tế du
lịch, luận án đánh giá những thành công hạn chế, đề ra các phương hướng và
giải pháp hoàn thiện quản lý nhà nước về du lịch để đưa ngành du lịch Lâm
Đồng thực sự trở thành ngành kinh tế động lực của Tỉnh.
Luận văn Giải pháp phát triển ngành du lịch Lâm Đồng đến năm 2020
của tác giả Trần Thị Hồng Nhạn [33], phân tích tổng quan về du lịch ở Lâm

Như vậy, các nghiên cứu về phát triển du lịch và KTDL trên phạm vi cả
nước cũng như từng địa phương cụ thể, thời gian gần đây nhìn chung là
phong phú, đa dạng, với nhiều cách tiếp cận và phạm vi đề cập khác nhau.
Tuy nhiên, chưa có công trình nào nghiên cứu một cách độc lập, có hệ thống
về quá trình Đảng bộ tỉnh Lâm Đồng lãnh đạo phát triển KTDL dưới gốc độ
khoa học Lịch sử Đảng. Vì vậy, đây là một “khoảng trống” khoa học để tác
giả quyết định lựa chọn vấn đề “Đảng bộ tỉnh Lâm Đồng lãnh đạo phát triển
kinh tế du lịch từ năm 2006 đến năm 2015” làm đề tài luận văn Thạc sĩ Lịch
sử, chuyên ngành Lịch sử Đảng cộng sản Việt Nam.
3. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu
* Mục đích nghiên cứu
Làm sáng tỏ quá trình Đảng bộ tỉnh Lâm Đồng lãnh đạo phát triển
KTDL từ năm 2006 đến năm 2015; trên cơ sở đó, đúc kết một số kinh nghiệm
có giá trị tham khảo, vận dụng vào quá trình lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh trong
thời gian tới.

9


* Nhiệm vụ nghiên cứu
Làm rõ những yếu tố tác động đến sự lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh Lâm
Đồng về phát triển KTDL từ năm 2006 đến năm 2015.
Hệ thống hóa, luận giải chủ trương và quá trình Đảng bộ tỉnh Lâm
Đồng chỉ đạo phát triển KTDL từ năm 2006 đến năm 2015.
Nhận xét và đúc kết một số kinh nghiệm từ quá trình Đảng bộ tỉnh Lâm
Đồng lãnh đạo phát triển KTDL từ năm 2006 đến năm 2015.
4. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
* Đối tượng nghiên cứu
Nghiên cứu hoạt động lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh Lâm Đồng về phát
triển KTDL từ năm 2006 đến năm 2015.

Luận văn chủ yếu sử dụng phương pháp lịch sử và phương pháp lôgíc,
ngoài ra còn sử dụng các phương pháp khác như: phân tích, tổng hợp, thống
kê, so sánh để làm rõ các nội dung của luận văn.
6. Ý nghĩa của luận văn
Luận văn góp phần tổng kết hoạt động lãnh đạo phát triển KTDL
của Đảng bộ tỉnh Lâm Đồng; góp thêm các luận cứ khoa học cho việc bổ
sung, phát triển chủ trương của Đảng bộ tỉnh về phát triển KTDL trong
thời gian tiếp theo.
Những kinh nghiệm được đúc kết trong luận văn có thể tham khảo và
vận dụng vào thực tiễn phát triển TKDL ở tỉnh Lâm Đồng và một số địa
phương khác trong cả nước.
Luận văn có thể làm tài liệu tham khảo trong nghiên cứu, giảng dạy Lịch
sử Đảng cộng sản Việt Nam ở các cơ sở giáo dục đào tạo trong cả nước.
7. Kết cấu của luận văn
Luận văn gồm: Mở đầu, 3 chương (7 tiết), kết luận, danh mục tài liệu
tham khảo, phụ lục và danh mục các công trình nghiên cứu của tác giả.

11


Chương 1
CHỦ TRƯƠNG VÀ SỰ CHỈ ĐẠO CỦA ĐẢNG BỘ TỈNH LÂM ĐỒNG
VỀ PHÁT TRIỂN KINH TẾ DU LỊCH (2006 - 2010)
1.1. Những yếu tố tác động đến quá trình Đảng bộ tỉnh Lâm Đồng
lãnh đạo phát triển kinh tế du lịch (2006 - 2010)
1.1.1. Quan niệm kinh tế du lịch và vị trí, vai trò của nó đối với tỉnh
Lâm Đồng
* Quan niệm kinh tế du lịch
Ngay từ khi KTDL trở thành nhân tố quan trọng trong phát triển kinh tế, thì
quan niệm KTDL cũng được quan tâm nghiên cứu và kiến giải với nhiều cách

đảm bảo an sinh xã hội, bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa, bảo vệ môi
trường... Chính vì vậy, toàn xã hội đều có trách nhiệm đóng góp, hỗ trợ, đầu tư
phát triển KTDL.
* Vị trí, vai trò của việc phát triển kinh tế du lịch đối với tỉnh Lâm Đồng
Thứ nhất, phát triển kinh tế du lịch sẽ góp phần quan trọng vào phát
triển kinh tế - xã hội của địa phương, tạo thêm việc làm cho người lao động
Xét ở phạm vi trong nước, từng địa phương cũng như ở Lâm Đồng, phát
triển KTDL sẽ đóng góp quan trọng cho thu nhập quốc dân. Hoạt động KTDL
sẽ làm tăng thu nhập của dân cư, kéo theo cấu trúc chi tiêu cũng có sự thay
đổi và phát triển. Mặt khác, phát triển KTDL không chỉ thu hút nguồn vốn của
các thành phần kinh tế ở địa phương, mà còn có khả năng thu hút nguồn vốn
các thành phần ở trong nước và nước ngoài thông qua liên doanh, liên kết,
đầu tư trực tiếp... qua đó góp phần tăng nguồn thu ngân sách cho địa phương,
tạo điều kiện cho chính quyền địa phương đầu tư cơ sở hạ tầng.
Phát triển KTDL sẽ kéo theo sự phát triển của các ngành nghề khác, vì
sản phẩm du lịch mang tính liên ngành, liên vùng, có liên quan đến nhiều
ngành nghề khác nhau. Mặt khác, du khách đến Lâm Đồng tạo ra thị trường
tiêu thụ sản phẩm lớn cho địa phương. Điều này sẽ kích thích mạnh mẽ các
ngành kinh tế khác, đặc biệt là nông nghiệp, chế biến nông sản và các sản
phẩm tiểu thủ công nghiệp... phát triển theo.

13


Kinh tế du lịch là ngành kinh tế tổng hợp, phát triển KTDL không những
tạo thêm việc làm trực tiếp cho những người lao động trực tiếp trong ngành
mà còn tạo thêm nhiều việc làm gián tiếp có liên quan, qua đó thu hút một
phần lao động dôi dư của Tỉnh có công ăn, việc làm, tăng thêm thu nhập đặc
biệt là đối với những người lao động là đồng bào dân tộc ở vùng sâu, vùng xa.
Thứ hai, phát triển kinh tế du lịch góp phần giải quyết các vấn đề văn

Hơn nữa, để đáp ứng nhu cầu của khách du lịch, đòi hỏi ngành du lịch và các
doanh nghiệp du lịch phải có chiến lược bảo vệ tài nguyên thiên nhiên, xây
dựng các khu bảo tồn thiên nhiên, các rừng quốc gia nhằm mục đích vừa tổ
chức các hoạt động nghỉ ngơi giải trí, vừa bảo vệ cảnh quan tự nhiên có giá trị
và các nguồn gen quý...
1.1.2. Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của tỉnh Lâm Đồng tác động
đến việc phát triển kinh tế du lịch
* Điều kiện tự nhiên
Vị trí địa lý, địa hình: Lâm Đồng là tỉnh miền núi ở phía Nam Tây
Nguyên và phía bắc vùng Đông Nam Bộ. Phía bắc giáp tỉnh Đăk Lăk và Đăk
Nông, phía đông giáp Khánh Hòa và Ninh Thuận, phía nam giáp tỉnh Bình
Thuận, phía Tây và Tây Nam giáp các tỉnh Bình Phước, Đồng Nai (Phụ lục 1).
Lâm Đồng nằm trên ba cao nguyên (cao nguyên Bảo Lộc, cao nguyên Di
Linh và cao nguyên Đà Lạt) ở độ cao trung bình từ 800 - 1000m so với mặt
nước biển. Địa hình chủ yếu là bình sơn nguyên, núi cao đồng thời cũng có
những thung lũng nhỏ, bằng phẳng. Địa hình phân bố theo quy luật giảm dần
độ cao từ đông bắc xuống tây nam, chia căt nhau bởi các sườn dốc có độ
chênh lệch khá cao từ 400 - 500m. Đặc điểm này đã gây nên những biến đổi
về khí hậu, thảm thực vật, thổ nhưỡng… và tạo nên những cảnh quan thiên
nhiên phong phú, đa dạng ở các tiểu vùng.
Với vị trí địa lý và địa hình như vậy, Lâm Đồng có nhiều điều kiện để phát
triển KTDL: thứ nhất, vùng Đông Nam Bộ là vùng kinh tế năng động, sẽ là thị
trường lớn đầu tư và cung cấp khách du lịch nội địa và là đầu cầu tiếp nhận
khách quốc tế cho Lâm Đồng; thứ hai, Tây Nguyên là vùng giàu tài nguyên
thiên nhiên, văn hóa bản địa độc đáo được nhà nước ưu tiên có các chính sách

15


đặc thù riêng để hỗ trợ phát triển KT - XH, đặc biệt là du lịch; thứ ba, Lâm Đồng



là nơi tập trung nhiều loài động, thực vật của Tây Nguyên (chiếm khoảng
70%) với những loài thực vật đặc trưng như thông hai lá dẹt, thông năm lá, pơ
mu, thông đỏ, các loài cây thuộc họ Dầu, họ Mộc lan, họ Na. Bên cạnh đó,
nơi đây còn là nôi của các loài cây họ Phong lan quý hiếm như Hoàng thảo,
Hài, Lan gấm, Lan nến. Về động vật, Lâm Đồng cũng là nơi cư trú của nhiều
bộ thú quan trọng như Bộ Linh trưởng, Bộ Móng guốc, Bộ Cánh da, Bộ ăn
sâu bọ... Chỉ tính riêng tại Vườn quốc gia BiDoup - Núi Bà huyện Lạc Dương
đã có tới 1.468 loài thực vật thuộc 161 họ, 673 chi trong đó có 91 loài đặc
hữu, 62 loài quý hiếm được ghi trong sách đỏ Việt Nam; động vật rừng có 382
loài, 95 họ thuộc 27 bộ, trong đó có 36 loài ghi trong sách đỏ Việt Nam. Rừng
Lâm Đồng đã tạo nên một quần thể, có sức thu hút khách du lịch trong và
ngoài nước đến thăm quan, thám hiểm và nghiên cứu.
Tài nguyên thủy văn: Lâm Đồng là khu vực đầu nguồn của 7 hệ thống
sông suối lớn, nằm trong hệ thống sông Đồng Nai, có nguồn nước rất phong
phú, mạng lưới sông suối khá dày, mật độ trung bình 0,6 km/km 2. Phần lớn
sông suối chảy từ hướng Đông Bắc xuống Tây Nam. Do đặc điểm địa hình
đồi núi và chia cắt, nên hầu hết các sông suối ở đây đều có lưu vực khá nhỏ,
ghềnh thác hùng vĩ, bên cạnh đó cũng có những hồ nước nổi tiếng trữ tình,
thơ mộng (Phụ lục 8), là điều kiện để Tỉnh khai thác phát tiển du lịch.
* Điều kiện kinh tế - xã hội
Dân cư: Dân số của tỉnh Lâm Đồng tính đến cuối năm 2015 là 1.273.088
người, mật độ dân số đạt 130 người/km2, trong đó dân số sống tại thành thị
khoảng 496.157 người, dân số sống tại nông thôn khoảng 776.931 người. Gồm
43 dân tộc, trong đó người Kinh chiếm khoảng 77%, người K’Ho chiếm 12%,
người Mạ chiếm 2,5%, người Nùng chiếm 2%, người Tày chiếm 2%, người
Hoa chiếm 1,5%, người Chu Ru chiếm 1,5% còn lại là các dân tộc khác.
Giáo dục - đào tạo: Giáo dục Lâm Đồng đạt mức trung bình cả nước. Từ
năm 2006, Tỉnh đã hoàn thành phổ cập trung học cơ sở. Hiện nay, trên địa bàn

hoàn mỹ và có sức hấp dẫn đặc biệt. Về nhân tố này, trước hết phải kể đến các
công trình kiến trúc tôn giáo như: Nhà thờ Con Gà, Nhà thờ Cam Ly, Chùa Linh
Sơn, Chùa Linh Phước, Thiền viện Trúc lâm… xen kẽ với đó là các công trình

18


kiến trúc có giá trị như: Dinh Bảo Đại (gồm: Dinh I, Dinh II, Dinh III), Biệt điện
Trần Lệ Xuân, Ga Đà Lạt… Một điều khác biệt ở Đà Lạt, là nơi đây có tới hàng
trăm ngôi biệt thự cổ nằm rải rác trên những đồi thông khắp thành phố, với những
nét kiến trúc mang đặc trưng phong cách Pháp, tạo cho du khách một cảm giác
mới lạ khi đến với thành phố này.
Lễ hội, văn hóa dân gian: Du khách đến với Lâm Đồng, ngoài việc được
thưởng ngoạn các danh thắng nổi tiếng, khí hậu mát mẻ, còn có dịp ghé thăm các
buôn làng của đồng bào các dân tộc ít người như: K’ho, Churu, M’nông, Mạ… và
tìm hiểu các phong tục tập quán, các lễ hội truyền thống, đặc sắc của dân tộc Tây
Nguyên như: Lễ hội cồng chiêng, Lễ cúng cơm mới, Lễ hội đâm trâu… Ngoài các
lễ hội truyền thống trên, trong những năm gần đây một số lễ hội khác được tổ chức
hết sức công phu và dần trở thành lễ hội truyền thống của Tỉnh như: Lễ hội văn hóa
trà, Festival Hoa Đà Lạt thu hút một lượng lớn du khách trong nước và quốc tế đến
thăm quan, tìm hểu.
Nghề thủ công truyền thống: Lâm Đồng cũng là nơi tập trung các làng
nghề thủ công truyền thống như: nghề dệt thổ cẩm (các huyện Lạc Dương,
Đức Trọng, Cát Tiên, Bảo Lâm, Bảo Lộc), nghề thêu móc (thành phố Đà Lạt,
Bảo Lộc, huyện Đức Trọng, Bảo Lâm); nghề ươm tơ, dệt lụa (huyện Lâm Hà,
Di Linh, thành phố Bảo Lộc) hay các nghề thủ công bị thất truyền đang được
khôi phục như: nghề chạm bút lửa (Đà Lạt); xâu chuỗi hạt cườm đá (Lạc
Dương); đúc vòng tay, vòng cổ của người S’rê... Thành phố Đà Lạt cũng là
nơi tập trung nhiều nghệ nhân nghề thêu (XQ), nghề chạm khắc gỗ tinh xảo...
đã tạo ra hàng trăm loại sản phẩm lưu niệm có giá trị mà bất cứ du khách nào

thành ngành kinh tế quan trọng” [8, tr.89]. Trên cơ sở đó, trong nhiệm kỳ VI
Tỉnh đã có Nghị quyết số 02/NQ-TU, Về một số chủ trương quản lý, khai thác
danh lam thắng cảnh và di tích lịch sử văn hóa trên địa bàn. Trong nhiệm kỳ
khóa VII (2001), Tỉnh tiếp tục có Nghị quyết số 03/NQ-TU (2001), Về phát
triển kinh tế du lịch giai đoạn 2001 - 2005 và định hướng đến năm 2010. Đồng
thời đã tập trung chỉ đạo các cấp, các ngành, các doanh nghiệp, cá nhân kinh
doanh du lịch trên địa bàn triển khai thực hiện có hiệu quả.
Thứ hai, hệ thống cơ sở hạ tầng phục vụ phát triển kinh tế du lịch bước

20


đầu được chú trọng đầu tư, mở rộng
Từ trước năm 2006, cùng với quá trình đầu tư phát triển KT - XH, thì hệ
thống hạ tầng, kỹ thuật như: Giao thông, điện, nước, thông tin liên lạc... đã
được Đảng bộ tỉnh quan tâm đầu tư phát triển. Theo số liệu báo cáo hạ tầng
du lịch năm 2005, hệ thống giao thông đường bộ được đầu tư đều khắp,
đường ô tô đã đến được 97% các điểm du lịch, sân bay Liên Khương đã mở
tuyến bay thẳng từ Đà Lạt đến Hà Nội và ngược lại góp phần tăng lượng
khách từ Hà Nội và các tỉnh phía Bắc. Tỉnh cũng đã không ngừng nâng cấp,
xây mới khách sạn, nhà nghỉ phục vụ khách du lịch. Năm 2001, toàn Tỉnh có
400 cơ sở lưu trú với tổng số 4.800 phòng đến năm 2005 số lượng cơ sở lưu
trú tăng lên 690 cơ sở, với tổng số 8000 phòng. Tốc độ tăng trưởng trung bình
đạt 12,63% về cơ sở lưu trú và 15,81% về số phòng. Cơ sở vật chất, trang
thiết bị các cơ sở lưu trú cơ bản được cải tiến, nâng cấp và bổ sung thêm các
dịch vụ. Các khu, điểm du lịch, dịch vụ du lịch cũng đã được Tỉnh quan tâm
đầu tư, nâng cấp và cải tạo nên đã có chuyển biến tích cực cả về số lượng và
chất lượng.
Thứ ba, công tác quản lý nhà nước trên lĩnh vực du lịch ngày càng được
củng cố và đi vào hoạt động hiệu quả

động bước đầu cũng đã được Đảng bộ tỉnh quan tâm đào tạo, bồi dưỡng.
* Nguyên nhân ưu điểm
Thứ nhất, có sự nỗ lực, chủ động, sáng tạo của Đảng bộ, chính quyền các
ban ngành và địa phương của Tỉnh trong việc lãnh đạo, chỉ đạo, tổ chức thực
hiện phát triển KTDL.
Thứ hai, hoạt động KTDL ngày càng được các doanh nghiệp và người
dân quan tâm và tham gia đầu tư, góp phần đẩy mạnh xã hội hóa KTDL.
Thứ ba, Lâm Đồng là tỉnh có nguồn tài nguyên du lịch tự nhiên và tài
nguyên du lịch nhân văn phong phú, đa dạng, có sức hấp dẫn cao đối với du
khách trong nước và quốc tế. Trong những năm qua, việc phát triển KTDL ở tỉnh
Lâm Đồng đã nhận được sự lãnh đạo, chỉ đạo thường xuyên và có hiệu quả của
Đảng, Nhà nước, các bộ, ngành Trung ương cũng như sự liên kết, hợp tác tích cực
của các địa phương trên cả nước.
* Hạn chế

22


Thứ nhất, KTDL phát triển chưa vững chắc, chưa tương xứng với tiềm
năng của địa phương và còn tụt hậu so với nhiều địa phương khác trong cả nước.
Là ngành kinh tế tổng hợp, nhưng quá trình phát triển chưa có sự phối hợp
chặt chẽ giữa các cấp, các ngành và địa phương. Đầu tư cho phát triển KTDL
còn hạn chế, cơ cấu đầu tư chưa hợp lý, dẫn đến tình trạng phát triển chưa cân
đối: chủ yếu mới tập trung phát triển hạ tầng, vật chất kỹ thuật chưa chú trọng
đầu tư để tạo ra các dịch vụ, các sản phẩm du lịch mới.
Thứ hai, chất lượng các sản phẩm du lịch chưa đáp ứng được nhu cầu thị
hiếu của du khách, loại hình sản phẩm còn nghèo nàn, khả năng cạnh tranh
thấp. Hầu hết các khu du lịch, điểm du lịch còn khai thác ở dạng tự nhiên,
chưa chú trọng đầu tư tôn tạo.
Thứ ba, chất lượng nguồn nhân lực phục vụ trong lĩnh vực KTDL còn

phải đồng thời đạt hiệu quả trên nhiều mặt: kinh tế, chính trị, văn hóa, an ninh
chính trị, trật tự an toàn xã hội, bảo vệ môi trường sinh thái, giữ gìn và phát
huy truyền thống, bản sắc văn hóa dân tộc và nhân phẩm con người Việt
Nam...” [2, tr.2]. Đại hội X (2006) của Đảng tiếp tục đặt ra yêu cầu: “Kết hợp
kinh tế - xã hội với quốc phòng, an ninh theo phương châm: phát triển kinh tế
- xã hội là nền tảng để bảo vệ Tổ quốc; ổn định chính trị, củng cố quốc phòng,
an ninh vững mạnh là điều kiện để phát triển kinh tế - xã hội” [17, tr.227].
Đây là quan điểm nhất quán của Đảng trong phát triển các ngành kinh tế nói
chung và phát triển KTDL trong giai đoạn 2006 - 2010.
Hai là, phát triển kinh tế du lịch phải đặt trong mối quan hệ liên ngành,
liên vùng và xã hội hóa cao
Đây là quan điểm được khẳng định trong Chỉ thị 46-CT/TW của Ban Bí
thư: “Du lịch là ngành kinh tế tổng hợp có tính liên ngành, liên vùng và xã hội
hóa cao” [2, tr.2]. Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 2001 - 2010 của Đảng
đặt ra yêu cầu: “Liên kết chặt chẽ các ngành liên quan đến hoạt động du lịch
để đầu tư phát triển...” [3, tr.187]. Quan điểm này khẳng định KTDL là ngành
kinh tế tổng hợp, có sự liên kết chặt chẽ giữa các ngành, giữ các vùng và gắn
chặt với đời sống xã hội.
Ba là, phát triển du lịch trở thành ngành kinh tế mũi nhọn của nền kinh
tế quốc dân

24


Quan điểm này được nêu rõ trong Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội
2001 - 2010 của Đảng: “Phát triển du lịch thật sự trở thành một ngành kinh
tế mũi nhọn” [3, tr.187], và tiếp tục được Đảng khẳng định trong Đại hội X
(2006). Đây là quan điểm định hướng lâu dài, là chìa khóa để phát triển
KTDL, cũng như khẳng định vị trí, vai trò quan trọng của KTDL.
* Mục tiêu


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status