HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA HỒ CHÍ MINH
HOÀNG VĂN KHẢI
GIẢI QUYẾT QUAN HỆ GIỮA LỢI ÍCH CÁ NHÂN
VÀ LỢI ÍCH XÃ HỘI TRONG ĐIỀU KIỆN KINH TẾ
THỊ TRƢỜNG Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SĨ
CHUYÊN NGÀNH: CHỦ NGHĨA DUY VẬT BIỆN CHỨNG
VÀ CHỦ NGHĨA DUY VẬT LỊCH SỬ
HÀ NỘI - 2019
Công trình đƣợc hoàn thành tại:
HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA HỒ CHÍ MINH
Người hướng dẫn khoa học: 1. PGS, TS Vũ Hồng Sơn
2. PGS, TS Đặng Quang Định
Phản biện 1: ……………………………………………
………………………………………….
Phản biện 2: ……………………………………………
....………………………………………..
Phản biện 3: ……………………………………………
…………………………………………..
Luận án sẽ đƣợc bảo vệ trƣớc Hội đồng chấm luận án cấp Nhà nƣớc
họp tại: Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh
với giải quyết vấn đề lao động, việc làm vùng Tây Nam bộ hiện nay Từ góc nhìn lợi ích của người nông dân”, Kỷ yếu Hội thảo khoa học
Vấn đề lao động, việc làm ở nông thôn vùng Tây Nam bộ đáp ứng yêu
cầu phát triển bền vững, Học viện Chính trị khu vực IV - Đề tài
KHCN-TNB.ĐT14-19/x20
9. Hoàng Văn Khải - Trần Văn Thắng (2019), “Giải quyết hài hòa quan
hệ giữa lợi ích cá nhân và lợi ích xã hội trong điều kiện kinh tế thị
trường ở Việt Nam hiện nay”, Tạp chí Lý luận Chính trị, (12).
10. Hoàng Văn Khải (2019), “Giải quyết hài hòa quan hệ lợi ích - động
lực quan trọng để thực hiện tư tưởng đại đoàn kết theo Di chúc của
Chủ tịch Hồ Chí Minh, Tạp chí Cộng sản, (931).
1
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Lợi ích là một trong những động lực hoạt động của con người, của sự
biến đổi xã hội và là một trong những vấn đề căn bản, có ý nghĩa quyết
định bản chất các mối quan hệ trong xã hội. Trong quá trình tồn tại và phát
triển xã hội, sự tác động lẫn nhau giữa các chủ thể lợi ích nhằm thỏa mãn
nhu cầu sẽ hình thành quan hệ lợi ích. Mối quan hệ giữa các lợi ích, đặc
biệt giữa lợi ích cá nhân và lợi ích xã hội tạo nên những vector thúc đẩy
hoạt động của con người và sự vận động của xã hội theo những chiều
hướng khác nhau, mạnh yếu khác nhau. Tuy nhiên, quan hệ lợi ích cá nhân
và lợi ích xã hội luôn nảy sinh vấn đề phức tạp, bởi lợi ích luôn biến đổi
theo sự biến đổi của nhu cầu xã hội. Cho đến hiện nay, ở tất cả các cấp độ
của lý luận về lợi ích nói chung và lợi ích cá nhân, lợi ích xã hội nói riêng
vẫn đặt ra những vấn đề cần phải nghiên cứu, nhất là trong bối cảnh kinh
tế thị trường, các loại lợi ích thể hiện vai trò của mình một cách đặc thù,
khác biệt so với các điều kiện xã hội khác.
2. Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu
2.1. Mục tiêu nghiên cứu
Trên cơ sở phân tích những vấn đề lý luận, thực trạng, nguyên nhân
và những vấn đề đặt ra trong việc giải quyết quan hệ giữa lợi ích cá nhân
và lợi ích xã hội trong điều kiện kinh tế thị trường ở Việt Nam hiện nay,
luận án đề xuất những giải pháp chủ yếu để giải quyết hài hòa quan hệ
giữa lợi ích cá nhân và lợi ích xã hội, góp phần thúc đẩy sự phát triển đất
nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa.
2.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Làm rõ những vấn đề lý luận về việc giải quyết quan hệ giữa lợi ích cá
nhân và lợi ích xã hội như khái niệm, nội dung, phương thức và các nhân tố
tác động.
- Phân tích thực trạng, nguyên nhân của những hạn chế và những vấn
đề đặt ra từ giải quyết quan hệ giữa lợi ích cá nhân và lợi ích xã hội trong
điều kiện kinh tế thị trường ở Việt Nam hiện nay.
- Đề xuất những giải pháp chủ yếu để giải quyết hài hòa quan hệ giữa
lợi ích cá nhân và lợi ích xã hội góp phần thúc đẩy sự phát triển đất nước
theo định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam hiện nay.
3. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
3.1. Đối tượng nghiên cứu
Nghiên cứu việc giải quyết quan hệ giữa lợi ích cá nhân và lợi ích xã
hội trong điều kiện kinh tế thị trường ở Việt Nam hiện nay.
3.2. Phạm vi nghiên cứu
- Về nội dung: Luận án nghiên cứu việc giải quyết quan hệ giữa lợi
ích cá nhân và lợi ích xã hội trong điều kiện kinh tế thị trường ở nước ta
hiện nay. Tuy nhiên, giải quyết quan hệ giữa lợi ích cá nhân và lợi ích xã
hội là vấn đề rất rộng, ở đây, luận án chỉ giới hạn nghiên cứu việc giải
quyết quan hệ giữa lợi ích cá nhân và lợi ích xã hội chủ yếu thông qua lợi
ích kinh tế trong lĩnh vực sở hữu và phân phối; chủ thể giải quyết quan hệ
lợi ích này chủ yếu là Đảng, Nhà nước và cá nhân. Luận án cũng chỉ giới
Luận án dựa trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện
chứng và chủ nghĩa duy vật lịch s để phân tích bản chất của lợi ích, điều
kiện hình thành, tồn tại, biến đổi và tính lịch s của lợi ích, lợi ích cá nhân,
lợi ích xã hội, quan hệ giữa lợi ích cá nhân và lợi ích xã hội...
Luận án s dụng các phương pháp phân tích và tổng hợp, phương
pháp so sánh, phương pháp tổng kết thực tiễn, phương pháp thống kê, các
phương pháp thu thập và
lý số liệu, thông tin (thứ cấp)... để phân tích
thực trạng việc giải quyết quan hệ giữa lợi ích cá nhân và lợi ích xã hội
trong điều kiện kinh tế thị trường ở Việt Nam hiện nay bằng các dẫn liệu
cụ thể.
6. Ý nghĩa của luận án
Những kết quả nghiên cứu của luận án có thể làm tài liệu tham khảo
cho những người làm công tác quản lý xã hội xây dựng và thực hiện tốt
các chủ trương, chính sách, pháp luật của Đảng, Nhà nước nhằm giải quyết
4
quan hệ giữa lợi ích cá nhân và lợi ích xã hội trong những điều kiện cụ thể
nhất định ở nước ta hiện nay. Cùng với đó, những nội dung này có thể làm
tài liệu tham khảo cho việc giảng dạy, nghiên cứu giảng dạy triết học, các
ngành khoa học xã hội và nhân văn tại các học viện, trường đại học, cao
đẳng, trường chính trị tỉnh (thành phố).
7. Kết cấu của luận án
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, luận án
gồm: 04 chương, 12 tiết.
Chƣơng 1
TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU
LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI
lợi ích cá nhân, lợi ích xã hội và lợi ích kinh tế và phân tích các vấn đề liên
quan được nêu trong luận án.
1.1.3. Những công trình nghiên cứu về quan hệ và giải quyết
quan hệ giữa lợi ích cá nhân và lợi ích xã hội
Đây là nội dung chưa có công trình chuyên biệt nào đề cập tới, song
đã có một số công trình đã đề cập tới ở nhiều mức độ, khía cạnh khác
nhau, tiêu biểu như: cuốn sách Góp phần nghiên cứu quan hệ lợi ích của
tác giả Nguyễn Linh Khiếu; công trình Quan hệ giữa cá nhân và xã hội
trong điều kiện kinh tế thị trường ở Việt Nam hiện nay của tác giả Trần
Văn Phòng; bài viết Mối quan hệ biện chứng giữa lợi ích công cộng và lợi
ích cá nhân của Tang Shan Qing (Trung Quốc); bài viết Đổi mới nhận
thức về mâu thuẫn và Vấn đề mâu thuẫn trong giai đoạn cách mạng mới ở
nước ta của tác giả Phạm Ngọc Quang; công trình Quản trị xung đột lợi
ích - các lý thuyết và vấn đề đặt ra ở Việt Nam hiện nay tác giả Hoàng Văn
Luân; công trình Bàn về mâu thuẫn xung đột lợi ích hiện nay tác giả Hồ Bá
Thâm… Qua các công trình này đã gợi mở để chúng tôi đưa ra những nội
dung, phương thức của việc giải quyết quan hệ giữa lợi ích cá nhân và lợi
ích xã hội trong điều kiện nước ta hiện nay.
1.1.4. Những công trình nghiên cứu về các nhân tố ảnh hƣởng tới
việc giải quyết quan hệ giữa lợi ích cá nhân và lợi ích xã hội
Các công trình nêu trên ít nhiều đều đã đề cập tới các nhân tố ảnh
hưởng tới việc giải quyết quan hệ giữa lợi ích cá nhân và lợi ích xã hội,
song có thể kể đến một số công trình khác nữa như: bài viết Mối quan hệ
giữa trách nhiệm cá nhân và trách nhiệm nhà nước trong điều kiện kinh tế
thị trường ở Việt Nam hiện nay của tác giả Lê Thi và nhất là công trình
Quan hệ giữa cá nhân và xã hội trong điều kiện kinh tế thị trường ở Việt
Nam hiện nay của tác giả Trần Văn Phòng đã phác thảo các nhân tố ảnh
hưởng tới việc giải quyết quan hệ giữa cá nhân và xã hội trong điều kiện
kinh tế thị trường ở nước ta hiện nay. Đây là những gợi mở hữu ích cho
bản thân hữu Trung Quốc của tác giả Minxin Pei; bài viết Chủ nghĩa cá
nhân - nguy cơ của một đảng cầm quyền và hướng khắc phục của tác giả
Nguyễn Văn Huyên…
Đi vào đánh giá thực trạng của phương thức giải quyết quan hệ giữa
lợi ích cá nhân và lợi ích xã hội ở những khía cạnh cụ thể trên một số
phương diện như sở hữu, phân phối đã có nhiều công trình đã đề cập tới,
tiêu biểu như: Bài viết Thực hiện công bằng xã hội ở Việt Nam hiện nay:
mâu thuẫn và phương pháp giải quyết của Nguyễn Tấn Hùng và Lê Hữu
Ái; công trình Biến đổi của quan hệ sản xuất ở Việt Nam từ năm 1986 đến
nay: Thực trạng và những vấn đề đặt ra của tác giả Lê Thị Vinh…
Có thể nói, những công trình nêu trên đã phác họa nên một số khía
cạnh cụ thể của thực trạng giải quyết quan hệ giữa lợi ích cá nhân và lợi
ích xã hội ở nước ta. Trên cơ sở đó, luận án đã có những phân tích, luận
giải cụ thể để đánh giá kết quả tích cực đạt được, hạn chế, nguyên nhân và
nêu một số vấn đề đặt ra trong việc giải quyết quan hệ giữa lợi ích cá nhân
và lợi ích xã hội trong điều kiện kinh tế thị trường ở Việt Nam hiện nay,
nhất là trong lĩnh vực sở hữu và phân phối, thông qua phương thức tác
động của các chủ thể lợi ích.
1.3. NHỮNG NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN GIẢI PHÁP ĐỂ GIẢI
QUYẾT QUAN HỆ GIỮA LỢI ÍCH CÁ NHÂN VÀ LỢI ÍCH XÃ HỘI
Các công trình nghiên cứu nêu trên đều đã đưa ra một số các quan
điểm có tính định hướng và giải pháp giải quyết các quan hệ lợi ích trên
một số phương diện cụ thể. Mỗi công trình đưa ra một số giải pháp không
hoàn toàn giống nhau, song khái quát lại có thể thấy các công trình này
đều thống nhất ở khía cạnh cho rằng cần đưa ra các giải pháp kết hợp các
7
như các khía cạnh cụ thể là các mâu thuẫn liên quan đến lợi ích nhóm,
lĩnh vực đất đai, thu nhập, việc làm… trong điều kiện kinh tế thị trường
hay trong bối cảnh công nghiệp hóa, đô thị hóa và hội nhập quốc tế...
Thứ tư, các công trình trên cũng đã đưa ra các gợi mở về những giải
pháp để giải quyết quan hệ giữa lợi ích cá nhân và lợi ích xã hội, nhưng
chủ yếu đề cập qua việc giải quyết hài hòa quan hệ giữa cá nhân và xã hội.
Các công trình cũng đã đi vào phân tích, đề xuất các giải pháp ở những
góc độ khá cụ thể như: thực hiện đa dạng trong sở hữu, thực hiện phân
phối hợp lý, thực hiện an sinh xã hội, phúc lợi xã hội; đảm bảo hài hòa của
8
các chủ thể như nông dân, công nhân trong quá trình công nghiệp hóa,
hiện đại hóa và đô thị hóa...
1.4.2. Một số vấn đề luận án cần tiếp tục giải quyết
Tuy nhiên, bên cạnh những giá trị đã đạt được, các công trình nêu
trên cũng có những mặt chưa được làm rõ, chúng tôi mong sẽ bổ sung, làm
sâu sắc thêm ở công trình của mình những nội dung sau:
Thứ nhất, làm rõ thêm một số vấn đề lý luận về lợi ích cá nhân,
những biểu hiện phức tạp của lợi ích cá nhân không chính đáng (lợi ích
nhóm xấu, nhân danh lợi ích khác để tư lợi cá nhân) và những biểu hiện
đa dạng, yêu cầu của thực hiện lợi ích xã hội trong điều kiện hiện nay.
Cùng với đó, luận án phân tích nội dung và phương thức giải quyết quan
hệ giữa lợi ích cá nhân và lợi ích xã hội trong điều kiện kinh tế thị trường
ở Việt Nam hiện nay ở lĩnh vực sở hữu và phân phối (lợi ích kinh tế)
thông qua các chủ trương, chính sách, pháp luật của Đảng, Nhà nước.
Thứ hai, phân tích các nhân tố ảnh hưởng tới việc giải quyết quan hệ
giữa lợi ích cá nhân và lợi ích xã hội nhất là trong điều kiện kinh tế thị
trường ở Việt Nam hiện nay. Đó là các nhân tố như kinh tế thị trường và hội
CÁ NHÂN VÀ LỢI ÍCH XÃ HỘI TRONG ĐIỀU KIỆN KINH TẾ THỊ
TRƢỜNG Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
2.1.1. Khái niệm lợi ích, lợi ích cá nhân, lợi ích xã hội
2.1.1.1. Lợi ích
Thứ nhất, về khái niệm, bản chất của lợi ích
Lợi ích là cái phản ánh quan hệ nhu cầu giữa các chủ thể và dùng để
thỏa mãn nhu cầu của các chủ thể xã hội (cá nhân, tập đoàn, giai cấp, tầng
lớp...) trong những điều kiện lịch s - xã hội nhất định. Nói cách khác, lợi
ích là tất cả những gì chủ thể (cá nhân, tập thể, toàn xã hội) có thể chiếm
hữu hoặc cần phải có (cần sở hữu). Lợi ích là đối tượng thỏa mãn nhu cầu.
Thứ hai, về vai trò của lợi ích
Lợi ích có vai trò quan trọng đối với sự phát triển xã hội. Với tính
cách là lợi ích cụ thể của một con người, lợi ích là động cơ thúc đẩy hay
“động cơ tư tưởng”, là nguyên nhân của những trạng thái căng thẳng thôi
thúc chủ thể hoạt động thực hiện lợi ích đó để thỏa mãn nhu cầu. Lợi ích
chính là nhân tố quan trọng nhất trong chuỗi quy định nhân quả dẫn dắt sự
hoạt động của con người: Nhu cầu - lợi ích - mục đích - hoạt động. Với
tính cách là mâu thuẫn và quá trình giải quyết mâu thuẫn giữa các loại lợi
ích của chủ thể và giữa lợi ích của các chủ thể khác nhau, lợi ích là động
lực của sự phát triển.
Thứ ba, về phân loại lợi ích
Dựa trên những căn cứ khác nhau, các nhà nghiên cứu đã chia lợi ích
thành nhiều loại khác nhau: dựa vào các lĩnh vực của đời sống xã hội: chia
thành lợi ích kinh tế, lợi ích văn hoá, lợi ích chính trị.... khái quát hơn là
lợi ích vật chất và lợi ích tinh thần; dựa vào phạm vi hoạt động của chủ
thể: chia thành lợi ích cá nhân, lợi ích tập thể, lợi ích giai cấp, lợi ích toàn
xã hội, lợi ích quốc gia, lợi ích nhân loại... khái quát hơn là lợi ích riêng và
lợi ích chung; dựa vào thời gian tồn tại của lợi ích: chia thành lợi ích trước
mắt và lợi ích lâu dài; dựa vào tầm quan trọng của lợi ích: chia thành lợi
thuẫn với lợi ích chung của nhân loại tiến bộ.
2.1.1.4. Bản chất và đặc trưng của kinh tế thị trường ở Việt Nam
hiện nay
Bản chất của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở
Việt Nam chính là nền kinh tế nhiều thành phần theo định hướng xã hội
chủ nghĩa. Những đặc trưng cốt lõi đó là: Nền kinh tế thị trường định
hướng xã hội chủ nghĩa Việt Nam là nền kinh tế vận hành đầy đủ, đồng bộ
theo các quy luật của kinh tế thị trường, đồng thời bảo đảm định hướng xã
hội chủ nghĩa phù hợp với từng giai đoạn phát triển của đất nước. Đó là nền
kinh tế thị trường hiện đại và hội nhập quốc tế; có sự quản lý của Nhà nước
pháp quyền xã hội chủ nghĩa, do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo, nhằm
mục tiêu "dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh.
2.1.2. Nội dung của giải quyết quan hệ giữa lợi ích cá nhân và
lợi ích xã hội trong điều kiện kinh tế thị trƣờng ở Việt Nam hiện nay
Thực chất của việc giải quyết quan hệ giữa lợi ích cá nhân và lợi ích
xã hội trong điều kiện kinh tế thị trường ở Việt Nam hiện nay là quá trình
11
tác động vào việc nhận thức và thực hiện lợi ích của cá nhân và xã hội, tạo
ra sự hài hòa, thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước. Giải
quyết quan hệ giữa lợi ích cá nhân và lợi ích xã hội một cách hài hòa, tạo
động lực cho sự phát triển xã hội trên cơ sở các nội dung sau:
Thứ nhất, giải quyết tốt lợi ích cá nhân chính đáng tạo cơ sở, điều
kiện để giải quyết lợi ích xã hội. Trong quá trình sống, nhu cầu của mỗi cá
nhân được phản ánh trong ý thức, biến thành mục đích, thành động cơ tư
tưởng và chính động cơ tư tưởng đó trực tiếp thúc đẩy mỗi cá nhân hành
động để đạt được lợi ích nhằm thỏa mãn nhu cầu cá nhân, qua đó tham gia,
đóng góp vào sự phát triển chung của xã hội trên các lĩnh vực của đời sống.
12
thức khác nhau và sự vi phạm lợi ích có thể dẫn đến sự đối kháng và thù
địch giữa các chủ thể lợi ích. Việc giải quyết các quan hệ lợi ích, trong đó
có quan hệ giữa lợi ích cá nhân và lợi ích xã hội theo u hướng nào, tính
chất, mức độ ra sao lại tùy thuộc vào nhân tố chủ quan, đó chính là các chủ
thể lợi ích (Đảng, Nhà nước, cá nhân). Trong đó, chủ thể quan trọng nhất
trong việc giải quyết quan hệ giữa lợi ích cá nhân và lợi ích xã hội trong
điều kiện kinh tế thị trường ở Việt Nam hiện nay chính là Đảng Cộng sản
Việt Nam và Nhà nước xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
2.1.3.2. Về phương thức tác động tới việc giải quyết quan hệ giữa
lợi ích cá nhân và lợi ích xã hội trong điều kiện kinh tế thị trường ở Việt
Nam hiện nay
Phương thức chủ yếu để giải quyết quan hệ giữa lợi ích cá nhân và lợi
ích xã hội trong điều kiện kinh tế thị trường ở Việt Nam hiện nay, được thể
hiện trên những khía cạnh sau:
Một là, thông qua các đường lối, chính sách, pháp luật về sở hữu để
giải quyết các nội dung trong quan hệ lợi ích giữa cá nhân và xã hội (chủ thể
sở hữu, hình thức sở hữu, đối tượng sở hữu, phạm vi và quy mô của sở hữu,
quyền lợi và nghĩa vụ của các chủ thể sở hữu, mối tương quan giữa các chủ
thể sở hữu…).
Hai là, thông qua các đường lối, chính sách, pháp luật về phân phối
để giải quyết các nội dung trong quan hệ lợi ích giữa cá nhân và xã hội về
phân phối (bao gồm phân phối: điều kiện sản xuất và kết quả sản xuất).
Thứ ba, thông qua năng lực thực thi chính sách trên thực tế của các
chủ thể lợi ích (nhất là chủ thể Nhà nước) và mức độ tham gia thực hiện
các chính sách của các chủ thể lợi ích khác.
Để đảm bảo sự tác động của các nhân tố chủ quan vào giải quyết
quan hệ giữa lợi ích cá nhân và lợi ích xã hội một cách hài hòa, theo đúng
nhập quốc tế tạo cơ sở để các chủ thể lợi ích thực hiện lợi ích một cách
tích cực, hiệu quả, thúc đẩy sự phát triển xã hội.
Thứ hai, nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội
nhập quốc tế tạo cơ sở để lành mạnh hóa các quan hệ kinh tế, quan hệ sở
hữu, quan hệ phân phối qua đó tạo lập tiền đề để giải quyết hài hòa quan
hệ giữa lợi ích cá nhân và lợi ích xã hội.
2.2.1.2. Những tác động tiêu cực từ mặt trái của kinh tế thị trường
tới việc giải quyết quan hệ giữa lợi ích cá nhân và lợi ích xã hội
Thứ nhất, mặt trái của kinh tế thị trường thúc đẩy nhanh quá trình phân
hóa giàu - nghèo, phân tầng xã hội và có u hướng tuyệt đối hóa lợi ích vật
chất, hiệu quả kinh tế, có thể làm méo mó quan hệ lợi ích giữa cá nhân và xã
hội theo hướng tiêu cực, mâu thuẫn lợi ích giữa cá nhân và xã hội ngày càng
phức tạp.
Thứ hai, mặt trái của kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế là môi
trường tốt để tạo ra những hiện tượng “lợi ích nhóm”, “tư bản thân hữu”
hay việc nhân danh xã hội chủ nghĩa để thực hiện lợi ích cá nhân gây
những tổn hại trực diện tới việc giải quyết hài hòa quan hệ giữa lợi ích cá
nhân và lợi ích xã hội, tạo ra những hành vi gây tổn hại đến lợi ích giữa
các chủ thể.
2.2.2. Chủ trƣơng, đƣờng lối, chính sách, pháp luật của Đảng, Nhà
nƣớc trong giải quyết lợi ích kinh tế, nhất là trong sở hữu và phân phối
Nhân tố này có thể tác động tới việc giải quyết quan hệ giữa lợi ích cá
nhân và xã hội chủ nghĩa theo cách nó có thể tạo môi trường công bằng,
xây dựng cơ chế để tạo động lực để kích thích hoạt động của các chủ thể
lợi ích nhằm đạt được các mục tiêu phát triển nhất định.
14
2.2.3. Nhận thức của xã hội và các chủ thể lợi ích
trong xã hội, đồng bào vùng sâu, vùng xa, biên giới hải đảo được quan tâm
đúng mức, tỷ lệ hộ nghèo giảm, an sinh xã hội và phúc lợi xã hội được
thực hiện tốt...
Lợi ích cá nhân dần dần được chú ý một cách thỏa đáng trong việc
giải quyết quan hệ lợi ích cá nhân và xã hội chủ nghĩa được thể hiện ở
nhiều phương diện, song rõ nhất trong những thay đổi về sở hữu, chủ thể
sở hữu tư nhân được thừa nhận và tạo điều kiện phát triển, phát triển nền
kinh tế nhiều thành phần, các vấn đề khác liên quan đến lợi ích cá nhân
15
được quan tâm như: thực hiện tốt chính sách óa đói, giảm nghèo, thực
hiện tốt các chương trình phát triển nông nghiệp - nông dân - nông thôn,
đầu tư cho vùng sâu, vùng a, thực hiện tốt phúc lợi xã hội và an sinh xã
hội, quan tâm đến những đối tượng chính sách, người yếu thế trong xã
hội...
Thứ hai, lợi ích xã hội bước đầu được thực hiện tốt đã tạo tiền đề,
điều kiện để lợi ích cá nhân chính đáng được thực hiện
Những kết quả tích cực trong phát triển kinh tế - xã hội cùng việc
thực hiện tốt các chính sách an sinh xã hội và phúc lợi xã hội trong những
năm qua đã tạo lập những giá trị mới của xã hội, tạo lập sự công bằng về
cơ hội trong việc hưởng thụ, tiếp cận các giá trị xã hội, tăng cơ hội phát
triển; tạo thêm các động lực phát triển cho các chủ thể khi các quyền và lợi
ích hợp pháp trên các lĩnh vực, nhất là trên lĩnh vực kinh tế được pháp luật
công nhận, bảo bộ; đào tạo lao động được tăng cường, số việc làm được
tạo ra ngày càng tăng; kết cấu hạ tầng dần hoàn thiện, an ninh - trật tự xã
hội được củng cố...
Thứ ba, từng bước khắc phục được tư duy tuyệt đối hóa lợi ích xã hội
trong việc giải quyết quan hệ giữa lợi ích cá nhân và lợi ích xã hội
kinh tế.
Hai là, sự thay đổi chủ trương, chính sách, pháp luật của Đảng, Nhà
nước về phân phối đã có tác động rất lớn đến việc giải quyết quan hệ giữa lợi
ích cá nhân và lợi ích xã hội ở nước ta hiện nay. Từ khi đổi mới đến nay,
Đảng, Nhà nước đã có những thay đổi chủ trương, chính sách về phân phối
một cách hợp lý hơn. Tại Đại hội IX, Đảng chỉ rõ: Kinh tế thị trường định
hướng xã hội chủ nghĩa thực hiện phân phối chủ yếu theo kết quả lao động
và hiệu quả kinh tế; đồng thời phân phối theo mức đóng góp các nguồn lực
khác vào sản xuất, kinh doanh và thông qua phúc lợi xã hội. Về chủ thể phân
phối, đã ác định rõ vai trò của ba chủ thể phân phối là Nhà nước, doanh
nghiệp và thị trường, trong đó, thị trường là một kênh phân phối nguồn lực
hiệu quả, phân phối thu nhập quan trọng và góp phần đắc lực vào phân phối
cơ hội phát triển cho mọi chủ thể kinh tế tự do làm giàu trong lĩnh vực mà
pháp luật không cấm nhằm tối đa hóa lợi ích riêng của mình, đồng thời góp
phần phát triển kinh tế - xã hội. Về khách thể phân phối, không chỉ là phân
phối về thu nhập, mà đó còn là phân phối nguồn lực, cơ hội phát triển, phân
phối phát triển. Đó còn là sự đa dạng về hình thức phân phối như Đại hội XII
khẳng định đó là: phân phối theo lao động, phân phối theo mức đóng góp
vốn và các nguồn lực khác vào sản xuất kinh doanh, phân phối thông qua
phúc lợi xã hội, phân phối thông qua hệ thống an sinh xã hội.
3.1.2. Những hạn chế và nguyên nhân của việc giải quyết quan hệ
giữa lợi ích cá nhân và lợi ích xã hội trong điều kiện kinh tế thị trƣờng
ở Việt Nam hiện nay
3.1.2.1. Những hạn chế của việc giải quyết quan hệ giữa lợi ích cá
nhân và lợi ích xã hội trong điều kiện kinh tế thị trường ở Việt Nam hiện nay
Thứ nhất, tình trạng nhân danh lợi ích xã hội để vi phạm lợi ích cá
nhân chính đáng của nhân dân lao động vẫn tồn tại và tiềm ẩn nhiều vấn đề
phức tạp. Biểu hiện của tình trạng này đó là những hiện tượng tham ô, tham
nhũng, lãng phí, những biểu hiện của “lợi ích nhóm” tiêu cực, hay “tư bản
thân hữu”... trong rất nhiều lĩnh vực của xã hội, nhất là trong sở hữu, quản lý
(một số huyện, ã lên đến 50%), cả nước có khoảng 1% số người vẫn trong
tình trạng thiếu đói. Một số nội dung của an sinh xã hội (chính sách bảo đảm
việc làm, thu nhập và giảm nghèo; chính sách bảo hiểm xã hội; chính sách
trợ giúp xã hội nhằm hỗ trợ đột xuất và thường uyên cho người dân; chính
sách dịch vụ xã hội cơ bản) và phúc lợi xã hội chưa được thực hiện tốt, vẫn
diễn ra “nghịch lý an sinh xã hội”, thể hiện đặc biệt rõ qua việc so sánh tỷ
trọng trợ cấp an sinh xã hội mà các hộ gia đình giàu và nghèo nhận được.
Ở khía cạnh khác, mặc dù, Đảng ta khẳng định: các chủ thể thuộc các
thành phần kinh tế bình đẳng, hợp tác và cạnh tranh theo pháp luật, tuy nhiên
có thể thấy lĩnh vực kinh tế tư nhân còn gặp nhiều khó khăn trong việc tiếp
cận các nguồn lực, thậm chí gặp những rào cản trong quá trình phát triển
(nhiều thủ tục hành chính còn rườm rà, nhận thức về kinh tế tư nhân còn
chưa thông suốt, tình trạng tham nhũng, tham ô, sách nhiễu đối với kinh tế tư
nhân còn nhiều...). Chính vì vậy, trong năm 2018, số doanh nghiệp tư nhân
18
thành lập mới chưa đáp ứng nhu cầu đề ra, hoạt động của kinh tế tư nhân dù
có những khởi sắc, nhưng chưa tương ứng với tiềm năng, lợi thế của thành
phần kinh tế này đối với quá trình phát triển đất nước.
3.1.2.2. Nguyên nhân của những hạn chế trong việc giải quyết
quan hệ giữa lợi ích cá nhân và lợi ích xã hội trong điều kiện kinh tế thị
trường ở Việt Nam hiện nay
Thứ nhất, quan điểm, chính sách về sở hữu, phân phối còn bất cập
Đó là việc ác định thành phần kinh tế chủ đạo chứa đựng những mâu
thuẫn, việc ác định chế độ sở hữu, hình thức sở hữu, thành phần kinh tế/khu
vực kinh tế bất cập, thiếu thống nhất. Đi cùng với nó là cơ chế quản lý kinh
tế yếu kém ở một số lĩnh vực, khu vực kinh tế, nhất là đối với doanh nghiệp
nhà nước…
19
điều đó có thể tạo mâu thuẫn, ung đột với các chủ thể lợi ích khác. Các
chủ thể nhận thức, trong khi nhận thức, giải quyết lợi ích này không đặt nó
trong một trạng thái vận động, có quan hệ mật thiết với các lợi ích khác, bỏ
quên lợi ích khác. Do vậy, vấn đề đặt ra đối với chủ thể lợi ích, chủ thể
giải quyết quan hệ lợi ích đó là phải nhận thức đúng để x lý hài hòa quan
hệ lợi ích này, tạo ra một trạng thái cân bằng năng động, thúc đẩy việc
thỏa mãn các lợi ích. Vấn đề đặt ra này xuất hiện trong tất cả các chủ thể
giải quyết quan hệ giữa lợi ích cá nhân và lợi ích xã hội, song biểu hiện rõ
nét ở chủ thể cá nhân, doanh nghiệp và Nhà nước.
3.2.2. Hệ thống chính sách chủ yếu tác động tới việc giải quyết lợi ích
giữa cá nhân và xã hội về sở hữu còn nhiều mâu thuẫn, thiếu thống nhất
Một trong những vấn đề đặt ra hiện nay trong việc giải quyết quan hệ
giữa lợi ích cá nhân và lợi ích xã hội đó là hệ thống chính sách chủ yếu tác
động tới việc giải quyết quan hệ lợi ích này còn nhiều mâu thuẫn, thiếu
tính thống nhất, trong đó thể hiện rõ nhất trong quá trình thực thi quan
điểm, chính sách về phát triển kinh tế tư nhân hay mức độ phù hợp, thích
ứng của những chính sách liên quan đến sở hữu vào thực tiễn cuộc sống.
Cùng với đó, nhiều chính sách liên quan đến sở hữu khác chậm thay đổi,
không tổ chức thực hiện được, đưa chính sách vào cuộc sống chậm trễ,
không kịp thời, bản thân chính sách chưa hợp lý, nhất là các chính sách
trong lĩnh vực bồi thường, giải phóng mặt bằng khi Nhà nước thu hồi đất
thực hiện các dự án phát triển kinh tế - xã hội...
3.2.3. Phƣơng thức chủ yếu tác động tới việc giải quyết lợi ích
giữa cá nhân và xã hội về phân phối còn nhiều bất cập, chậm thay đổi
Nhiều chính sách trong lĩnh vực phân phối còn có những bất cập,
chưa hoàn thiện, chậm thay đổi so với yêu cầu của thực tiễn. Trên thực tế,
nhiều chính sách đúng nhưng không thực hiện được trên thực tế, như chính
sách tiền lương không thực hiện được, tiền lương chưa đáp ứng nhu cầu
Ba là, nâng cao ý thức trách nhiệm của cán bộ, đảng viên, các cấp ủy
đảng, chính quyền góp phần định hướng, giải quyết quan hệ lợi ích giữa cá
nhân và xã hội.
Thứ hai, nâng cao nhận thức đối với chủ thể cá nhân, tập trung ở vấn
đề nhận thức và hành động liên quan đến lợi ích kinh tế căn bản là thu
nhập, việc làm, đào tạo nghề và chuyển đổi hoạt động sản xuất, kinh doanh.
Một là, thực hiện đào tạo nghề cho lao động cả nước, đáp ứng yêu cầu
đào tạo lao động của thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa.
Hai là, nâng cao nhận thức, quan tâm đào tạo, chuyển đổi ngành nghề
cho người dân, người nông dân, nhất là ở những nơi thực hiện việc thu hồi
đất để phục vụ các dự án phát triển kinh tế - xã hội, an ninh - quốc phòng,
mục đích quốc gia.
Ba là, nâng cao nhận thức đối với công nhân về thu nhập, việc làm,
gắn nội dung tuyên truyền với các vấn đề liên quan đến lợi ích thiết thực
khác và đời sống của người công nhân.
4.2. TIẾP TỤC HOÀN THIỆN CHÍNH SÁCH VỀ SỞ HỮU, PHÂN PHỐI
NHẰM ĐẢM BẢO CÔNG BẰNG VÀ TỔ CHỨC THỰC HIỆN TỐT TRÊN
THỰC TẾ ĐỂ GIẢI QUYẾT QUAN HỆ GIỮA LỢI ÍCH CÁ NHÂN VÀ LỢI
ÍCH XÃ HỘI
Thứ nhất, tiếp tục hoàn thiện thể chế về sở hữu, chế độ phân phối,
phát triển các thành phần kinh tế, các loại hình doanh nghiệp tạo điều
kiện bình đẳng giữa các chủ thể lợi ích
21
Một là, cần tiếp tục thực hiện nhất quán một chế độ pháp lý kinh
doanh cho các doanh nghiệp, không phân biệt hình thức sở hữu, thành
phần kinh tế.
nhân, tập thể.
Ba là, hoàn thiện những quy định liên quan làm căn cứ giải quyết tốt
và có hiệu quả quan hệ lợi ích giữa cá nhân - tập thể và nhà nước.
Thứ tư, thực hiện các giải pháp đảm bảo công khai, minh bạch nhằm
ngăn chặn những hành vi tiêu cực như tham ô, tham nhũng, lợi ích nhóm
22
Đối với các cơ quan quản lý và các doanh nghiệp nhà nước cần thực
hiện thực chất các biện pháp công khai về tự chủ, nâng cao năng lực, hiệu
quả s dụng tài sản công, phát huy tốt trách nhiệm giải trình, thực hiện tốt
các biện pháp công khai tài chính, minh bạch tài sản, thu nhập của cán bộ,
công chức, viên chức... Trên phạm vi toàn xã hội, cần phải tiến tới một xã
hội minh bạch, trên cơ sở quản lý tốt việc sở hữu tài sản của mỗi cá nhân,
xây dựng một xã hội hạn chế dùng tiền mặt, quản lý chặt chẽ các nguồn
tiền trong thanh toán; công khai, minh bạch các thông tin liên quan đến đời
sống kinh tế - xã hội của địa phương, đất nước, nhất là các thông tin về
quy hoạch đất đai, giá cả đền bù đất đai khi Nhà nước thu hồi đất,... Mặt
khác, cần tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa,
lý nghiêm minh những
trường hợp vi phạm tội tham ô, tham nhũng, lãng phí, buôn lậu, trốn thuế,
hàng giả, hàng kém chất lượng... đây là những hành vi phá hoại nghiêm
trọng các quan hệ lợi ích, gây tổn hại tới cả lợi ích cá nhân và các mục tiêu
của lợi ích xã hội.
4.3. KHUYẾN KHÍCH CÁ NHÂN THỰC HIỆN LỢI ÍCH CHÍNH ĐÁNG
CỦA MÌNH ĐỒNG THỜI THỰC HIỆN LỢI ÍCH XÃ HỘI
Thứ nhất, tiếp tục thực hiện tốt và cụ thể h a các quan điểm của
Đảng, chính sách của Nhà nước làm giàu hợp pháp