Nghiên cứu Y học
Y Học TP. Hồ Chí Minh * Phụ Bản Tập 23 * Số 4 * 2019
ĐẶC ĐIỂM ÂM LỜI NÓI CỦA TRẺ BỊ RỐI LOẠN ÂM LỜI NÓI ĐẾN KHÁM
TẠI BỆNH VIỆN NHI ĐỒNG 1 VÀ TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y KHOA PHẠM
NGỌC THẠCH TỪ THÁNG 1 ĐẾN THÁNG 6 NĂM 2018
Hoàng Văn Quyên*, Trà Thanh Tâm**, Nguyễn Thị Thu Hương**, Trần Thị Minh Diễm**,
Cao Phương Anh**
TÓM TẮT
Mục tiêu: Mô tả đặc điểm lâm sàng âm nời nói của trẻ bị rối loạn âm lời nói ở độ tuổi từ 4 đến 7 tuổi
đang can thiệp tại bệnh viện Nhi đồng 1 và Phòng khám đa khoa thuộc Trường Đại học Y khoa Phạm Ngọc
Thạch thành phố Hồ Chí Minh từ tháng 1 đến tháng 6 năm 2018.
Phương pháp nghiên cứu: Hồi cứu trên bộ số liệu thứ cấp đó là 65 hồ sơ bệnh án chuyên khoa Âm ngữ
trị liệu Một nghiên cứu, mô tả lại các đặc điểm âm lời nói của trẻ được thể hiện trong hồ sơ bệnh án chuyên
khoa.
Kết quả: Ghi nhận được có đến 5/9 quy trình âm vị xuất hiện. Đó là các quy trình tắc hóa, trượt hoá,
thay âm hầu, sau hóa và trước hóa. Những quy trình còn lại là mất phụ âm đầu 19/65, mũi hóa 9/65, giảm
âm hữu thanh 2/65.
Kết luận: Nghiên cứu đã cung cấp cho chúng ta một bức tranh về những lỗi phát âm và các quy trình
âm vị được tìm thấy trong lời nói của trẻ Việt Nam nói tiếng Việt. Vấn đề rối loạn âm lời nói có thể ảnh
hưởng đến chất lượng giao tiếp, chất lượng học tập của trẻ đặc biệt là chất lượng của môn học đọc - viết tại
trường tiểu học.
Từ khóa: âm lời nói, rối loạn âm lời nói, quy trình âm vị, tính dễ hiểu
ABSTRACT
SPEECH SOUND CHARACTERISTICS OF CHILDREN WITH SPEECH SOUND DISORDERS AT
CHILDREN’S HOSPITAL 1 AND UNIVERSITY OF MEDICINE PHAM NGOC THACH FROM JANUARY 2018
TO JUNE 2018
Hoang Van Quyen, Tra Thanh Tam, Nguyen Thi Thu Huong, Tran Thi Minh Diem, Cao Phương Anh
Y Học TP. Hồ Chí Minh * Phụ Bản Tập 23 * Số 4 * 2019
Nghiên cứu Y học
gia giáo dục thực hiện tại nhiều cơ sở y tế và cơ sở
giáo dục. Tuy nhiên để nâng cao tính hiệu quả can
thiệp lời nói cho trẻ một cách khoa học và hiệu quả
kinh tế, với vai trò là Nhà trị liệu về lời nói, bắt buộc
chúng ta cần phải thực hiện lượng giá lời nói một cách
thật chính xác và khoa học. Điều này, đòi hỏi Nhà
chuyên môn như chúng ta cần có một công cụ lượng
giá về âm lời nói của trẻ em. Rất tiếc đến thời điểm
này cho chúng ta và cho chính bản thân trẻ bị rối loạn
âm lời nói là hiện tại Việt Nam chưa thể có được một
bộ công cụ lượng giá chuẩn về âm lời nói của trẻ em
Việt Nam nói tiếng Việt.
Mục tiêu nghiên cứu
Mô tả về đặc điểm lâm sàng âm lời nói, tính dễ
hiểu lời nói đối với cộng sự giao tiếp và độ mức độ
nghiệm trọng lời nói của trẻ em từ 4 tuổi đến 7 tuổi từ
tháng 01/2018 đến 15/06/2018.
Phân tích dữ liệu hồi cứu trên bộ số liệu thứ cấp
Phân tích bộ số liệu thứ cấp bằng phần mềm
SPSS về các thông tin bao gồm tiền sử, bệnh sử bản
thân và gia đình trẻ, các bệnh lý kèm theo, các mốc
phát triển, các yếu tố nguy cơ, cấu trúc đầu mặt cổ và
kết quả kiểm tra thính lực trên 65 hồ sơ bệnh án của
thuần với phần trăm phụ âm trẻ phát âm đúng dưới
60%. Phần trăm phụ âm của trẻ phát âm đúng được
tính bằng phần trăm của tổng số phụ âm trẻ phát âm
đúng trên tổng số phụ âm được kiểm tra (Percent
Consonants Correct: PPC), Shriberg LD và cộng sự
(1997)(8).
Trẻ đều có thính lực bình thường, kết quả được
ghi nhận trên kết quả kiểm tra thính lực ở hai tai, được
báo cáo từ bài kiểm tra thính lực của Bác sĩ tai mũi
họng, Nhà Thính học của Bệnh viện Nhi Đồng 1 và
Med-el Việt Nam; không có trường hợp nào có bất
thường về cấu trúc đầu mặt cổ - hầu họng hoặc không
có các bệnh lý khác kèm theo như: bại não, chẻ vòm,
rối loạn ngôn ngữ, rối loạn phổ tự kỷ, dính thắng lưỡi,
chậm ngôn ngữ hay chậm phát triển toàn bộ
Đối tượng nghiên cứu
Trẻ ở độ tuổi từ 4 đến 7 tuổi.
Tiêu chuẩn chọn bệnh
Trẻ nói tiếng Việt ở độ tuổi từ 4 đến 7 tuổi
thông qua bộ số liệu thứ cấp đó là 65 hồ sơ bệnh án
chuyên khoa Âm ngữ trị liệu đã và đang can thiệp.
Tiêu chuẩn loại trừ
Loại trừ các bệnh lý khác đi kèm được thể hiện
trong hồ sơ bệnh án như tim bẩm sinh, đa dị tật, chậm
phát triển hoặc các rối loạn phát triển khác đi kèm.
Phương pháp nghiên cứu
Thiết kế nghiên cứu
Nghiên cứu hồi cứu thông qua bộ số liệu thứ cấp
đó là 65 hồ sơ bệnh án chuyên khoa Âm ngữ trị liệu.
/f, v/ chuyển thành âm tắc /b/ và /z, s,
/ thành /k/.
Trong đó mẫu /
/ thành /k/, ví dụ: sách cách có
45/65 trẻ; mẫu /f/ thành /b/, ví dụ: pháo báo có
45/65 trẻ.
Trượt xảy ra với các phụ âm /v,
/ chuyển
thành /w/ và /l, d/ thành /j/. Trong đó mẫu /v/ /w/,
ví dụ viết wiết có 45/65 trẻ.
Thay âm hầu xảy ra với các phụ âm / th,
, f/
chuyển thành /h/. Trong đó mẫu /
//h/, ví dụ: khỉ
hỉ có 45/65 trẻ, mẫu /th //h/ ví dụ thỏ hỏ có
45/65 trẻ.
Trước hóa xảy ra với 16/65 trẻ. Phụ âm mặt lưỡi
được thay cho âm gốc lưỡi /c/ thay cho /k/, vd: chá
cá; /
-/ thay cho /ŋ-/, vd: nhà ngà.
Có 7/65 trường hợp phụ âm gốc lưỡi /ŋ-/ được
thay cho âm họng /h/ khi theo sau /h/ là âm đệm /-/.
Sau hóa được phân chia thành hai nhóm căn cứ
trên sự dịch chuyển của vị trí cấu âm
Nhóm thứ nhất sau hóa đến ngạc là các âm đầu
lưỡi - lợi thành âm mặt lưỡi /
, t, d, th/ thành âm
/c/;
Nhóm thứ hai là sau hóa đến lưỡi gà như là các
âm đầu lưỡi thành âm gốc lưỡi /t, c,
Trước hóa
Sau hóa
Sau hóa đến ngạc
Sau hóa đến lưỡi gà
Mất phụ âm đầu
Mũi hóa
Răng hóa
Giảm tính hữu thanh
Mất phụ âm cuối
n = 65
45
45
45
12
3
12
27
19
12
9
2
3
Theo Campbell và cộng sự(1) nếu gia đình có
người gặp khó khăm về lời nói, ngôn ngữ thì nguy cơ
trẻ bị rối loạn âm lời nói càng cao. Trong bài viết này
chúng ta thấy được có 14% tiền sử gia đình có người
gặp vấn đề về ngôn ngữ, phù hợp với tác giả được nêu
trên. Bà mẹ có trình độ học vấn thấp cũng có sự liên
Giới nam/nữ
Tiền sử gia đình có người có vấn đề ngôn
ngữ
Trình độ giáo dục của bà mẹ dưới cấp 3
Tỉ lệ
Và 3/65 trường hợp mất phụ âm cuối ví dụ mình
3:1 (42 nam/23 nữ)
mì. Điều này cũng phù hợp với hệ thống phụ âm
14% (9/65)
cuối trong tiếng Việt chỉ gồm có 6 âm /m, n, ŋ, p, t, k/.
26% (17/65)
Ngoài ra, kết quả ghi nhận được như vừa nêu có lẽ
cũng cũng phù hợp với đặc điểm cấu tạo âm tiếng
Bảng 4. Kết quả khảo sát Tính dễ hiểu trong phạm vi ngữ cảnh (n = 65) (Intelligibility in Context Scale, theo
McLeod S 2011)(6)
Mức độ
Nội dung
200
Trung Độ lệch chuẩn Always (Luôn
bình (M)
(SD)
luôn) (5)
M
SD
con bạn hay không?
Họ hàng gia đình bạn
có hiểu con bạn hay
không)?
Bạn của con bạn có
hiểu bé hay không?
Những người quen
khác có hiểu con bạn
hay không?
Giáo viên của con bạn
có hiểu con bạn hay
không?
Những người lạ có
hiểu con bạn hay
không?
Nghiên cứu Y học
3,65
0,94
8
12,0
32
49,0
13
18,0
4
0,4
19
29,0
29
44,0
7
10,0
6
0,9
3,62
1,25
15
23
30
51,0
7
10,0
6
0,9
24
36,0
16
24,0
0
0,0
0
0,0
2,75
0,97
0 (0,0)
17
41,0
23
35,0
17
26,0
8
12,0
phạm vi ngữ cảnh, điểm trung bình lời nói của trẻ đối
với cha mẹ 3,65; với các thành viên trong gia đình là
3,22; với họ hành của trẻ là 3,12; với bạn bè của cha
mẹ là 2,95; với giáo viên của trẻ là 4,14 và cuối cùng
đối với bạn của trẻ chỉ đạt 2,75. Khá điển hình so với
nghiên cứu của McLeod S(4) nghiên cứu trên 120 trẻ ở
độ tuổi tiền học đường tại Úc. Xét các yếu tố rủi ro về
trì hoãn lời nói không rõ nguồn gốc, nghiên cứu này
cho thấy giới tính nam chiếm tỉ lệ 3:1 với 44/65 trẻ;
bệnh sử gia đình có người có vấn đề về ngôn ngữ, lời
nói là 9/65 trẻ chiếm tỉ lệ 14%; về trình độ giáo dục
của các bà mẹ tốt nghiệp dưới cấp 3 có 17/65 trẻ
chiếm tỉ lệ 26%. So với kết quả từ nghiên cứu của
Campbell TF(1) thì yếu tố giới tính, yếu tố bệnh sử gia
đình và yếu tố trình độ giáo dục của bà mẹ hoàn toàn
tương đồng.
Hạn chế
Chỉ nghiên cứu được trẻ em nói giọng miền Nam,
nên các quy trình âm vị tìm thấy có thể chưa đại diện
cho quy trình âm vị của tất cả các trẻ có rối loạn âm
lời nói nói tiếng Việt. Nghiên cứu chỉ nhằm mô tả các
đặc điểm của các phụ âm đầu và phụ âm cuối trong hệ
thống âm vị tiếng Việt bỏ qua phần khảo sát nguyên
âm và thanh điệu.
Bộ lượng giá phát âm từ đơn bằng hình ảnh của
Bệnh viện Nhi Đồng 1 chưa được chuẩn hoá mặc dù
được cải biên trên nền tảng của Bộ trắc nghiệm đánh
giá khả năng phát âm - âm tiết của trẻ nói tiếng Việt.
Mặt khác, trẻ trong lô nghiên cứu hồi cứu đã có
cứu và can thiệp. Chắc chắn sẽ góp phần nâng cao
tính chuyên nghiệp và tính hiệu quả trong công việc
can thiệp của các chuyên gia y tế - giáo dục khi làm
việc với trẻ em bị rối loạn âm lời nói tại Việt Nam.
Đặc biệt giúp phụ huynh rút ngắn thời gian can thiệp
và giảm được chi phí can thiệp cho trẻ. Cao hơn nữa
điều mà chúng tôi muốn hướng tới đó là nâng cao
chất lượng cuộc sống cho trẻ em bị rối loạn âm lời nói
sau khi được can thiệp.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1.
2.
3.
4.
5.
6.
7.
8.
KHUYẾNNGHỊ
Trong tương lai gần nhất, Thành phố Hồ Chí
Minh cần sớm có bộ công cụ lượng giá âm lời nói
toàn diện cho trẻ em Việt Nam nói tiếng Việt ở miền
Nam.
Shriberg LD (1992). Articulation testing versus conversational speech
sampling. Journal of Speech and Hearing Research, 35:259-273.
Shriberg LD, Austin D, Lewis, BA, McSweeny JL, Wilson DL (1997).
The Percentage of Consonants Correct (PCC) metric: Extensions and
reliability data. Journal of Speech, Language, and Hearing Research,
40(4):708-722.
Tang G, Barlow J (2006). Characteristics of the sound systems of
monolingual Vietnamese – Speeking Children with phonological
impairment. Research. Clinical Linguistics & Phonectics, 20(6):423445.
Ngày nhận bài báo:
Ngày phản biện nhận xét bài báo:
Ngày bài báo được đăng:
13/06/2019
21/06/2019
10/08/2019
Hội Nghị Nhi Khoa Mở Rộng BV. Nhi Đồng 2 2019