KINH TẾ QUỐC TẾ L ớp: QLKT 2015 1 H ạ
Long
LỜI MỞ ĐẦU
Chúng ta đều biết rằng toàn cầu hóa là một xu thế tất yếu khách quan
của xã hội, xuất phát từ bản thân quá trình phát triển của thế giới với những
yếu tố tác động cơ bản là sự phát triển của lực lượng sản xuất , của khoa học
công nghệ và kinh tế thị trường. Trong vòng một thập kỷ qua, Việt Nam đã
thực hiện chính sách mở cửa nền kinh tế với phương châm đa phương hóa, đa
dạng hóa trong quan hệ kinh tế quốc tế, từng bước hội nhập với nền kinh t ế
thế giới và khu vực. Một trong những hoạt động thương mại giúp chúng ta mở
rộng quan hệ với các nước, đồng thời thúc đẩy nền kinh tế trong nước phát
triển là hoạt động xuất nhập khẩu hàng hóa.
Kim ngạch hàng hóa xuất nhập khẩu tăng từng năm đã nâng cao mức
sống cho toàn dân, đưa đất nước thoát khỏi tình trạng đói nghèo, nâng vị thế
của đất nước lên tầm cao mới. Xuất khẩu, nhập khẩu luôn tồn tại song song
với nhau và có vai trò quan trọng như nhau đối với nền kinh tế đất nước.
Trong đó, lĩnh vực nhập khẩu thể hiện mức độ phát triển của đất nước, phản
ánh mức sống của người dân, một đất nước có đời sống và mức thu nhập của
người dân càng cao sẽ càng có nhiều hoạt động nhập khẩu hàng hoá. Để tìm
hiểu kỹ hơn về vấn đề này, em xin chọn chuyên đề: “ Phân tích các công cụ
quản lý hàng hóa nhập khẩu, liên hệ với thực tiễn của Việt Nam trong xu
hướng hội nhập quốc tế.” để làm bài tập lớn môn kinh tế quốc tế.
Đối tượng của đề tài là các công cụ, chính sách,… của Nhà nước đối với
vấn đề nhập khẩu hàng hóa. Đề tài chủ yếu tập trung vào việc quản lý hàng
nhập khẩu, từ đó tìm hiểu xem bằng các công cụ quản lý Nhà nước tác động
như thế nào đối với tình hình nhập khẩu của đất nước.
1
Long
Để thực hiện các mục tiêu của chính sách thương mại quốc tế của mỗi
quốc gia người ta sử dụng nhiều công cụ và nhiều biện pháp khác nhau: Các
công cụ và biện pháp mang tính chất kinh tế , các công cụ và biện pháp mang
tính chất hành chính, các công cụ và biện pháp mang tính chất kỹ thuật. Dưới
đây sẽ đề cập đến nội dung và hình thức của một số công cụ được áp dụng
phổ biến trong thực tế.
2.1. Công cụ thuế quan
Thuế quan là một loại thuế đánh vào mỗi đơn vị hàng hoá xuất khẩu hay
nhập khẩu của mỗi quốc gia. Thuế quan bao gồm thuế quan xuất kh ẩu và
thuế quan nhập khẩu .
Thuế quan nhập khẩu là một loại thuế đánh vào mỗi đơn vị hàng nhập
khẩu, theo đó người mua trong nước phải trả cho những hàng hoá nhập khẩu
một khoản lớn hơn mức mà người xuất khẩu ngoại quốc nhận được.
Theo đó, Thuế nhập khẩu làm cho giá cả của hàng hóa nhập khảu sẽ cao
hơn mức giá cả quốc tế của hàng hóa đó, hay là làm cho giá cả của các mặt
hàng tương tự sản xuất trong nước thấp hơn một cách tương đối.
Thuế quan có thể được tính với nhiều hình thức khác nhau: Tính theo một
đơn vị vật chất của hàng hoá, hoặc là tính theo giá trị hàng hoá… Thuế quan
hỗn hợp là thuế quan vừa tính theo một tỷ lệ phần trăm so với giá trị hàng hoá
vừa cộng với một mức thuế tính theo một đơn vị vật chất của hàng hoá.
Thuế quan là một công cụ lâu đời nhất của chính sách thương mại quốc
tế và là một phương tiện truyền thống để làm tăng nguồn thu cho ngân sách
Nhà nước. Không những thế, thuế quan còn có vai trò quan trọng trong việc
bảo hộ các ngành công nghiệp non trẻ mới được hình thành chưa có khả năng
cạnh tranh trên thị trường thế giới.
2.2. Công cụ phi thuế
3
KINH TẾ QUỐC TẾ L ớp: QLKT 2015 1 H ạ
Long
Hiện nay, công cụ này không còn được sử dụng nhưng khi nghiên cứu, nó
vẫn được xem xét như một trong những công cụ hữu hiệu để quản lý hàng
nhập khẩu.
2.2.2. Hạn chế xuất khẩu tự nguyện
Biện pháp này cũng là một hình thức của hàng rào mậu dịch phi thuế quan
. Hạn chế xuất khẩu tự nguyện là một biện pháp hạn chế xuất khẩu, mà theo
đó một quốc gia nhập khẩu đòi hỏi quốc gia xuất khẩu phải hạn chế bớt
lượng hàng xuất khẩu sang nước mình một cách tự nguyện nếu không họ sẽ
áp dụng biện pháp trả đũa kiên quyết.
Khi thực hiện hạn chế xuất khẩu tự nguyện nó cũng có tác động kinh tế
như một hạn ngạch xuất khẩu tương đương.Tuy nhiên hạn ngạch xuất khẩu
mang tính chủ động và thường là biện pháp tự bảo vệ thị trường trong nước
hoặc nguồn tài nguyên trong nước, còn hạn chế xuất khẩu tự nguyên thực ra
lại mang tính miễn cưỡng và gắn với những điều kiện nhất định. Hình thức
này thường áp dụng cho các quốc gia có khối lượng xuất khẩu quá lớn ở một
số mặt hàng nào đó.
2.2.3. Những quy định về tiêu chuẩn kỹ thuật
Đây là những quy định về tiêu chuẩn vệ sinh, đo lường an toàn lao động ,
bao bì đóng gói, đặc biệt là các tiêu chuẩn về vệ sinh thực phẩm, vệ sinh
phòng dịch đối với động và thực vật tươi sống, tiêu chuẩn về bảo vệ môi
trường sinh thái đối với các máy móc, thiết bị và dây chuyền công nghệ…
Những quy định này xuất phát từ các đòi hỏi thực tế của đời sống xã hội
và phản ánh trình độ phát triển đạt được của nền văn minh nhân loại. Tuy
nhiên trên thực tế người ta thường khéo léo sử dụng các quy định này một
cách thiên lệch giữa các công ty trong nước và các công ty nước ngoài và biến
5
sự rõ rệt nhưng cũng tiềm ẩn cho thấy một số xu hướng mới rất đáng quan
tâm.Việt Nam cũng đưa ra những giải pháp để thích ứng với nền kinh tế thế
giới.Và vấn đề được quan tâm nhiều nhất là tình hình xuất nhập khẩu.
7
1.Tình hình nhập khẩu của Việt Nam giai đoạn từ 20092015
1.1. Đánh giá chung
Theo số liệu thống kê mới nhất của Tổng cục Hải quan, tổng kim ngạch
xuất nhập khẩu hàng hóa cả nước trong tháng 6 đầu năm 2015 đạt 28,79 tỷ
USD, tăng nhẹ 0,5% so với tháng trước. Trong đó xuất khẩu là 14,33 tỷ
USD tăng 4,6% so với tháng trước và nhập khẩu là 14,47 tỷ USD, giảm 3,2%
và kết quả là trong tháng 6, cán cân thương mại hàng hóathâm hụt 140 triệu
USD.
Như vậy, trong nửa đầu của năm 2015, tổng kim ngạch xuất nhập khẩu
hàng hóa của Việt Nam đạt hơn 158,6 tỷ USD, tăng 13% so với cùng kỳ năm
trước. Trong đó, xuất khẩu đạt 77,77 tỷ USD, tăng 9,3% và nhập khẩu đạt
80,84 tỷ USD, tăng 16,7% dẫn đến thâm hụt cán cân thương mại hàng hóa
trong 6 tháng đầu năm 2015 ở mức 3,07 tỷ USD.
Biểu đồ 1: Kim ngạch xuất khẩu, nhập khẩu và tốc độ tăng xuất khẩu, nhập khẩu
6 tháng đầu năm của giai đoạn 2009– 2015
Nguồn: Tổng cục Hải quan
KINH TẾ QUỐC TẾ L ớp: QLKT 2015 1 H ạ
Long
1.2. Nhập khẩu theo loại hình doanh nghiệp
Châu Á vẫn là thị trường lớn nhất nhập khẩu hàng hóa của nước ta trong
6 tháng đầu năm 2015 với 38,12 tỷ USD; tiếp theo là châu Mỹ với 19,72 tỷ
USD; châu Âu là 16,53 tỷ USD; châu Đại Dương là 1,74 tỷ USD và châu Phi là
1,67 tỷ USD. Ở chiều ngược lại, trị giá nhập khẩu hàng hóa từ các nước Châu
Á đạt mức 66,53 tỷ USD chiếm gần 83% tổng kim ngạch nhập khẩu hàng hóa
của cả nước; với châu Mỹ, châu Âu, châu Đại Dương và châu Phi lần lượt là
6,5 tỷ USD; 5,3 tỷ USD; 1,21 tỷ USD và 0,94 tỷ USD.
Trung Quốc là thị trường nhập khẩu lớn nhất cung cấp hàng hóa vào Việt
Nam trong 4 tháng đầu năm 2015 với trị giá là 24,22 tỷ USD, tăng 23,2% so với
cùng kỳ năm 2014. Nhập khẩu từ thị trường Hàn Quốc cũng đạt mức khá cao
với 17,73 tỷ USD, tăng 31%, tiếp theo là ASEAN với 11,91 tỷ USD tăng 5,3%…
Hàn Quốc là thị trường nhập khẩu lớn thứ 2 của Việt Nam. Nhập khẩu
năm 2009 là 1879,9 triệu USD, năm 2004 là 3698 triệu USD. Đồng thời, Việt
Nam luôn luôn ở vị thế nhập siêu ngày một lớn với Hàn Quốc: năm 2009 là
1.123,3 triệu USD, đến năm 2014 là 2792,1 triệu USD, lớn nhất trong các nước
và vùng lãnh thổ.
Đài Loan là thị trường nhập khẩu lớn thứ 3 của Việt Nam. Năm 2009 là
2.694,3 triệu USD, năm 2014 là 3.618,5 triệu USD.
Thái Lan là thị trường nhập khẩu lớn thứ 4 của Việt Nam với kim ng ạch
năm 2014 lên đến 1858 triệu USD và nhập siêu từ đây cũng đã lên đến 1.367,1
triệu USD, lớn thứ 5 trong các nước và vùng lãnh thổ.
Singapore là thị trường nhập khẩu lớn thứ 5, hiện đã vượt mức 1,2 tỷ
USD. Nhập siêu từ đây cũng lớn thứ 5, lên tới 613,6 triệu USD.
Mỹ là thị trường nhập khẩu đứng thứ 6 với kim ngạch 1127,4 triệu USD.
Trong quan hệ buôn bán với Mỹ, Việt Nam luôn luôn ở vị thế xuất siêu, với
KINH TẾ QUỐC TẾ L ớp: QLKT 2015 1 H ạ
Long
tháng là gần 1,8 tỷ USD, giảm 11,8% so với tháng trước. Tính đến
hết tháng 6/2015, cả nước nhập khẩu 11,19 tỷ USD nhóm hàng này, tăng
35% so với cùng kỳ năm trước; trong đó nhập khẩu của khu vực FDI
là 10,33 tỷ USD, tăng 36,2% và nhập khẩu của khu vực doanh nghiệp trong
nước là 864 triệu USD, tăng 22,1/span>%. Hàn Quốc tiếp tục là đối tác lớn
nhất cung cấp nhóm hàng này cho Việt Nam với trị giá nhập khẩu là 3,3 tỷ
USD, tăng 32,9%; tiếp theo là các thị trường: Trung Quốc: 2,37 tỷ USD, tăng
16,8%; Nhật Bản: 1,1 tỷ USD, tăng 60,5% Singapo: 1,07 tỷ USD, giảm 4,9%...
so với cùng kỳ năm 2014.
Điện thoại các loại và linh kiện: kim ngạch nhập khẩu trong tháng
đạt gần 861 triệu USD, đưa kim ngạch nhập khẩu mặt hàng này
trong 6 tháng/2015 lên 5,22 tỷ USD, tăng 32,1% so với cùng kì năm 2014.
Việt Nam nhập khẩu nhóm hàng này trong 6 tháng đầu năm chủ yếu từ
các thị trường: Trung Quốc đạt 3,35 tỷ USD, tăng 18,2% và chiếm 64,18% kim
ngạch nhập khẩu của cả nước; Hàn Quốc đạt gần 1,48 tỷ USD, tăng 57,6%…
so vớicùng kì năm 2014.
Sắt thép các loại: lượng nhập khẩu trong tháng là 1,64 triệu tấn, trị giá
đạt gần 854 triệu USD, tăng nhẹ 26,6% về lượng và 27,1% về trị giá so với
tháng trước. Tính trong 6 tháng/2015, lượng sắt thép cả nước nhập về là
KINH TẾ QUỐC TẾ L ớp: QLKT 2015 1 H ạ
Long
6,9 triệu tấn, trị giá là 3,82 tỷ USD, tăng 38,6% về lượng và tăng 14,1% về trị
giá so với cùng kỳ năm 2014.
Sắt thép các loại nhập khẩu vào Việt Nam trong 6 tháng qua từ Trung
Quốc là 4,1 triệu tấn, tăng mạnh 77,3%; Nhật Bản: 1,2 triệu tấn, tăng 8,7 %;
Hàn Quốc: 838 nghìn tấn, tăng 33,5%; Đài Loan: 568 nghìn tấn, tăng 4,7%... so
với 6tháng/2014.
Việt Nam nhập khẩu mặt hàng sản phẩm chất dẻo từ Hàn Quốc trong
nửa đầu năm 2015 là 514 triệu USD, tăng 39,4% so với cùng kỳ năm 2014;
Trung Quốc là 513 triệu USD, tăng 33,7%; Nhật Bản là 299 triệu USD tăng
4,1%,…
Nguyên phụ liệu ngành dệt may da giày: Trị giá nhập khẩu trong tháng 6
giảm khá so với tháng 5.Trị giá nhập khẩu nhóm hàng này trong tháng là 1,65
tỷ USD, giảm 14,7% so với tháng trước. Tính đến hết 6 tháng/2015, cả
nước nhập khẩu 9,1 tỷ USD nhóm hàng này, tăng 8,5% so với cùng kỳ năm
2014. Trong đó, trị giá vải nhập khẩu là 4,98 tỷ USD, tăng 8,9%; nguyên phụ
liệu: 2,5 tỷ USD, tăng 10,3%; bông là 856 triệu USD, tăng 8,1% và xơ
sợi: 758 triệu USD, tăngnhẹ 0,3%.
Trong 6 tháng/2015, Việt Nam nhập khẩu nhóm mặt hàng này chủ yếu từ
Trung Quốc với 3,7 tỷ USD, tăng 13,5%; tiếp theo là Hàn Quốc: 1,37 tỷ USD,
giảm 2,5%; Đài Loan: 1,19 tỷ USD, tăng 6,6%…so với cùng kỳ năm trước.
Thức ăn gia súc và nguyên liệu: trong tháng 6/2015, kim ngạch nhập
khẩu đạt 260 triệu USD, nâng tổng kim ngạch nhập khẩu mặt hàng này trong
6 tháng đầu năm đạt 1,68 tỷ USD, tăng 4,4% so với cùng kỳ năm 2014.
Tính đến hết tháng 6/2015, nhập khẩu thức ăn gia súc và nguyên liệu từ
Áchentina đạt gần 638 triệu USD, tăng 21,1%; từ Hoa Kỳ là 293 triệu USD,
tăng 22,8% so với cùng kỳ 2014.
KINH TẾ QUỐC TẾ L ớp: QLKT 2015 1 H ạ
Long
Ô tô nguyên chiếc: Lượng nhập khẩu giảm so với tháng trước nhưng
vẫn đứng ở mức cao. Lượng nhập khẩu trong tháng 6/2015 là 9,68 nghìn
chiếc, giảm 9,8%, trị giá là 307 triệu USD, giảm 6,1% so với tháng trước.
Trong 6 tháng/2015, cả nước nhập về hơn 55,35 nghìn chiếc ô tô nguyên chiếc
các loại, trong đó lượng ô tô tải là 21,7 nghìn chiếc, tăng mạnh 106,7%, xe 9
thuật, tiếp cận công nghệ nguồn của thế giới.
Trị giá nhập khẩu tăng và xu hướng tăng tỷ trọng tư liệu sản xuất là kết
quả tất yếu của tăng cường xuất khẩu .Tuy nhiên, tốc độ tăng cao của nhóm
nguyên nhiên vật liệu cũng cho thấy sự phụ thuộc của hàng xuất khẩu vào
nguyên liệu nhập khẩu còn khá lớn.
Tỷ trọng nhập khẩu các mặt hàng chủ yếu cũng có những thay đổi.
Xăng dầu nguyên phụ liệu may mặc, da giầy và sắt thép vẫn là ba mặt hàng
có kim ngạch nhập khẩu lớn nhất. Nhập khẩu các mặt hàng phân bón có xu
hướng chững lại hoặc giảm, trong khi đó nhu cầu nhập khẩu ô tô những năm
gần đây tăng khá nhanh. Tốc độ tăng nhập khẩu nguyên phụ liệu dệt may, da
giày ( 170% )cũng như tương đương tốc độ tăng xuất khẩu hai mặt hàng này
( 172% ).
2.2 Những thuận lợi và khó khăn:
2.1 Thuận lợi:
Lợi ích lớn nhất của việc gia nhập WTO là thị trường xuất nhập khẩu
hàng hoá của Việt Nam được mở rộng, ngoài việc duy trì và mở rộng thị
trường truyền thống và thị trường xuất nhập khẩu lớn của thế giới như Mỹ,
EU và Nhật Bản, hàng loạt thị trường nhỏ, thị trường xa cũng đã rộng cửa cho
doanh nghiệp Việt Nam như các quốc gia thuộc khu vực Trung Đông. Trong
KINH TẾ QUỐC TẾ L ớp: QLKT 2015 1 H ạ
Long
hơn 200 nước và vùng lãnh thổ có quan hệ buôn bán với Việt Nam, thì Việt
Nam có vị thế xuất siêu đối với 159 nước và vùng lãnh thổ, trong đó xuất siêu
lớn là Mỹ, Australia, Anh, Philippines, Đức, Bỉ… nhập khẩu còn ở vị thế nhập
siêu đối với 47 nước và vùng lãnh thổ, trong đó nhiều nhất là Đài Loan, Hàn
Quốc, Trung Quốc, Singapore, Thái Lan, Hồng Kông, Thụy Sĩ, Ấn Độ,
Kuwait…, gia tăng giá trị ( khối lượng, kim ngạch) xuất khẩu cho hàng hóa
tổ chức này nhằm bảo vệ lợi ích của người tiêu dùng nói chung và của các
doanh nghiệp Việt Nam nói riêng. Nhờ các chính sách tự do hoá thương mại,
xoá bỏ độc quyền ngoại thương, mở rộng quyền kinh doanh xuất nhập khẩu
là bước đột phá tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp thuộc mọi thành
phần kinh tế tham gia hoạt động ngoại thương, đẩy nhanh tăng trưởng xuất
khẩu trên cả nước. Sản phẩm ngành dệt may là một ví dụ, chế độ hạn ngạch
đã được bãi bỏ cho các nước thành viên. Về thuế quan, các nước thành viên
dành cho nhau mức thuế theo Qui chế Tối huệ quốc (khoảng 5%). Thị phần
của Việt Nam trên thị trường quốc tế do đó sẽ được mở rộng. Khả năng cạnh
tranh, cơ hội làm ăn của doanh nghiệp Việt Nam cũng ngày càng phát triển.
Các doanh nghiệp Việt Nam trong hai năm sau hội nhập WTO đã chuyển từ
chỗ thụ động chờ khách hàng tới đưa mẫu và mua hàng tại nhà máy, đã tiến
sang chủ động tiếp cận thị trường thế giới như đi ra nước ngoài dự hội chợ,
tham quan, chủ động thiết kế mẫu mã chào hàng, thiết lập hệ thống kho trực
tiếp bán hàng vào siêu thị nước ngoài...
2.2 Khó khăn:
Về cơ cấu:
Những điểm yếu đối với hàng xuất khẩu của Việt Nam, hàng loạt vấn
đề đã bộc lộ rất rõ. Phần lớn hàng xuất khẩu đều ở dạng thô và sơ chế; hàng
công nghiệp chưa có thương hiệu trên thị trường thế giới, tỷ lệ gia công rất
cao…nhất là hàng may mặc và giày dép; tính cạnh tranh thấp vì chất lượng và
mẫu mã kém, giá đầu vào cao, chi phí cho xuất khẩu rất lớn ở khâu thu gom
KINH TẾ QUỐC TẾ L ớp: QLKT 2015 1 H ạ
Long
hàng hóa và vận tải, tiêu cực phí ở các khâu vận tải và thủ tục hải quan,
thuế…
Trong khi đó, các mặt hang nhập khẩu chủ yếu vẫn là máy móc, thiết bị,
chuẩn kỹ thuật đòi hỏi Doanh Nghiệp sự đầu tư bổ sung. Ngoài ra, người ta
đã cho biết rằng có những khó khăn khi thâm nhập vào thị trường một số quốc
gia Đông Âu. Các tiêu chuẩn kỹ thuật đặt ra là không rõ ràng, làm việc theo
cảm tính, có dấu hiệu tham nhũng. Điều này làm phát sinh thêm thời gian và
chi phí giao dịch cho các Doanh Nghiệp.
Sự cạnh tranh của các Doanh Nghiệp Xuất Khẩu cùng mặt hàng của Việt
Nam và cũng như của các quốc gia trong khu vực.
Việc Việt Nam gia nhập WTO muộn hơn các quốc gia khác là một bất lợi
lớn trong quan hệ với các khách hàng và chính quyền các quốc gia Xuất Khẩu.
Các rào cản thương mại dần dỡ bỏ, thuế đánh vào các sản phẩm Nhập
Khẩu giảm nên làm gia tăng mức độ cạnh tranh trên thị trường nội địa.
Trong thời gian qua giá nguyên vật liệu liên tục tăng. Một số loại nguyên
vật liệu phục vụ sản xuất phải Nhập Khẩu, phụ thuộc sự biến động giá cả
của thị trường thế giới.
Do giá dầu tăng nên chi phí vận tải gia tăng, đặc biệt cước phí vận
chuyển hàng Xuất Khẩu bằng đường biển tăng mạnh.
Mặc dù thủ tục hành chính có liên quan đến Xuất Nhập Khẩu đã được
cải thiện theo hướng đơn giản hơn nhiều, các Doanh Nghiệp vẫn còn gặp
nhiều khó khăn và những chi phí khi sử dụng các dịch vụ công.
3. Giải pháp và kiến nghị.
KINH TẾ QUỐC TẾ L ớp: QLKT 2015 1 H ạ
Long
Nhìn chung, trong tình hình hiện tại, những biện pháp chiến lược mà Nhà
nước đề ra là tương đối phù hợp với tình hình hiện tại. Vì chưa đánh giá được
hết những tác động của việc gia nhập WTO, Nhà nước cần thực hiện các biện
pháp trước mắt để dần nâng cao khả năng cạnh tranh, đứng vững trên thị
trường và khai thác các cơ hội giao thương nước ngoài. Một số bài học kinh
KẾT LUẬN
Nhìn chung tình hình nhập khẩu hàng hóa của Việt Nam đã có những diễn
biến không hoàn toàn đúng hướng. Tổng kim ngạch nhập khẩu tăng nhanh,
nhập siêu lớn và khả năng để đạt được những mục tiêu kế hoạch đã đề ra là
khó thực hiện được. Nhập khẩu tăng có cả mặt tích cực và tiêu cực. Nhập
khẩu nhiều đáp ứng nhu cầu sản xuất trong nước từ đó thúc đẩy tăng trưởng
kinh tế. Đối với một nước đang phát triển như VIệt Nam hiện nay thì tình
trạng nhập siêu là không thế tránh khổi. Tuy nhiên, nhập khẩu quá nhiều sẽ là
một mặt yếu của nên kinh tế nếu nó kéo dài mãi. Do đó, mục tiêu hiện nay
của nước ta là giảm nhập siêu và tiến tới cân bằng cán cân thương mại. Để
đạt mục tiêu đó đòi hỏi 1 hệ thống các giải pháp phải được áp dụng một cách
hiệu quả đồng bộ. Trong những kế hoạch nhập khẩu của những năm tiếp
theo cần chú trọng hơn nữa công tác dự báo, phân tích thị trường, phải đặt
KINH TẾ QUỐC TẾ L ớp: QLKT 2015 1 H ạ
Long
việc xây dựng các mục tiêu nhập khẩu trong mối liên hệ chặt chẽ với tăng
trưởng và xuất khẩu hơn nữa. Bên cạnh đó cần chú trọng các biện pháp để
kiềm chế nhập siêu trong tầm kiểm soát, đặt ra các chế tài chặt chẽ hơn trong
việc quản lý nhập khẩu, đảm bảo tính khả thi và hợp lý hơn của kế hoạch
nhập khẩu. Qua đó góp phần vào tăng trưởng kinh tế, tăng nhập khẩu giúp cho
việc hội nhập mạnh mẽ, hiệu quả hơn.
Do thời gian nghiên cứu có hạn, trình độ hiểu biết vấn đề còn nhiều hạn
chế, còn thiếu kiến thức chuyên sâu và hoạt động thực tiễn nên bài viết của
em không thể tránh khỏi thiếu sót. Em rất mong nhận được sự góp ý của các
thầy cô, của các bạn.
Em xin cảm ơn!