Lêi c¶m ¬n
Sự dạy dỗ tận tình của các Thầy, Cô trong bộ môn Thuỷ
văn của Khoa Khí tượng Thuỷ văn và Hải Dương học trong 2
năm qua cùng các đồng nghiệp trong Viện Khoa học Khí tượng
Thuỷ văn và Môi trường, Bộ Tài nguyên và Môi trường và ở khoa
Khí tượng Thủy văn và Hải dương học đã tạo điều kiện cho tôi
hoàn thành luận văn này.
Tác giả xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ vô cùng quý báu
đó của các Thầy, Cô, các bạn đồng nghiệp và đặc biệt là PGS.TS
Nguyễn Thanh Sơn, người hướng dẫn khoa học đã giúp đỡ tôi
trong suốt quá trình thực hiện luận văn.
Xin chân thành cảm ơn PGS.TS Lã Thanh Hà và toàn thể
cán bộ Trung tâm Nghiên cứu Thủy văn và Tài nguyên nước
Viện Khoa học Khí tượng Thuỷ văn và Môi trường, những người
đã tâm huyết tạo mọi điều kiện để tác giả có thể hoàn thành luận
văn một cách tốt nhất.
Tác giả xin cảm ơn nhóm thực hiện Đề tài QGTĐ.10.06 đã
cung cấp những tài liệu quý giá giúp học viên trong quá trình
thực hiện luận văn.
Trong thời gian thực hiện luận văn, tác giả còn nhận được
rất nhiều sự giúp đỡ trong các lĩnh vực khác nhau kể cả trong và
ngoài chuyên môn mà ở đây không thể kể ra hết được. Tác giả xin
chân thành bày tỏ lời cảm ơn sâu sắc.
Cuối cùng tôi xin chân thành cảm ơn gia đình, bạn bè và
đặc biệt là các bạn học viên khóa 20082010 đã tận tình trao đổi,
đóng góp và động viên tôi rất nhiều để giúp đỡ tôi hoàn thành
được luận văn này.
Hà Nội, tháng 12/2010
tính khoa học và thực tiễn nhằm góp phần giải quyết bài toán trên đối với các
nhà quản lý tài nguyên nước trên địa bàn Thủ đô để đưa ra được những quyết
định chiến lược phát triển đúng đắn.
Cấu trúc, nội dung của luận văn gồm 3 chương, không kể mở đầu, kết
luận, tài liệu tham khảo và phụ lục.
Mở đầu (tính cấp thiết, mục tiêu, nghiên cứu, phương hướng giải
quyết,...)
Chương 1. Tổng quan lưu vực nghiên cứu
Chương 2. Tổng quan về các nghiên cứu có liên quan
Chương 3. Mô phỏng ảnh hưởng của biến đối khí hậu tới tài nguyên
3
nước.
Kết luận và kiến nghị
4
CHƯƠNG 1
TỔNG QUAN LƯU VỰC NGHIÊN CỨU
1.1. ĐẶC ĐIỂM ĐỊA LÝ TỰ NHIÊN LƯU VỰC SÔNG NHUỆ ĐÁY
1.1.1 Vị trí địa lý
Lưu vực sông Đáy Nhuệ nằm ở hữu ngạn sông Hồng trong phạm vi từ
200 đến 21020' vĩ độ Bắc và từ 1050 đến 106030' kinh độ Đông, với tổng diện tích
tự nhiên là 7665 km2, bao gồm một phần Thủ đô Hà Nội, Hoà Bình, Hà Nội, Hà
Nam, Nam Định, Ninh Bình. Giới hạn của lưu vực như sau:
-
cửa Hát Môn đến cửa Đáy trướ c khi đổ ra biển Đông). Sông Đáy chả y qua
5
đị a phận các tỉnh Hà Nội, Hà Nam, Ninh Bình và Nam Đị nh. Tọa độ đị a lý:
20033’ đến 21019’ vĩ độ Bắc và 105017’ đến 105050’ kinh độ Đông. [5,7]
6
1.1.2 Địa hình, địa mạo
Nằm trên vùng châu thổ sông Hồng, khu vực nghiên cứu nằm trải dài theo
phương vĩ tuyến, chịu ảnh hưởng của nhiều đới cấu trúc địa chất khác nhau,
khiến cho địa hình có sự phân hoá tương phản thể hiện rõ nét theo hướng Tây
Đông và hướng BắcNam. Xét về mặt cấu trúc ngang đi từ Tây sang Đông có thể
chia địa hình khu vực nghiên cứu thành vùng chính như sau:
7
Hình 1.1. Bản đồ lưu vực hệ thống sông Nhuệ Đáy
a) Vùng đồi núi
Địa hình núi phân bố ở phía Tây và Tây Nam và chiếm khoảng 30% diện
tích, có hướng thấp dần từ Đông Bắc xuống Tây Nam ra biển và thấp dần từ Tây
sang Đông. Phần lớn là các dãy núi thấp có độ cao trung bình 400 600m được
cấu tạo bởi các đá trầm tích lục nguyên, cacbonat; chỉ một vài khối núi có độ cao
trên 1.000m được cấu tạo bởi đá trầm tích phun trào như khối núi Ba Vì có đỉnh
cao 1.296m, khối núi Viên Nam có đỉnh cao 1.031m và cấu tạo bởi đá xâm nhập
granit như khối núi Đồi Thơi (Kim Bôi Hoà Bình) có đỉnh cao 1.198m. Địa hình
núi trong khu vực cũng có sự phân dị và mang những đặc trưng hình thái khác
sét và cát pha, xen kẽ có các lớp cát mịn, cát chảy hoặc bùn. Các lỗ khoan thăm dò
địa chất và các giếng khoan khai thác nước ngầm cho thấy cấu tạo địa chất từ
trên xuống dưới gồm các lớp sau: sét pha và đất sét lẫn cát dày 2 ÷ 16 m; bùn hữu
cơ – bùn cát dày 1,3 ÷ 6 m (10m); tầng cát đá cuội, đá dăm hạt to dày 50 ÷ 90m.
b) Thổ nhưỡng
Do nằm trong vùng đồng bằng châu thổ sông Hồng nên đất trong khu vực
chủ yếu là đất phù sa của hệ thống sông Hồng và sông Đáy bồi đắp nên. Mặc dù
được bao bọc bởi các đê sông Hồng, sông Đáy song hầu như hàng năm phần lớn
diện tích đất canh tác ít nhiều đều được tưới bằng nước phù sa lấy từ các cống
tự chảy hoặc các trạm bơm. Quá trình bồi tụ, hình thành và phát triển của các
nhóm đất ở từng khu vực khác nhau đã tạo nên sự đa dạng về loại hình đất trong
hệ thống. Song nhìn chung chúng đều là loại đất ít chua và chua có hàm lượng
mùn và các chất dinh dưỡng ở mức độ trung bình đến nghèo. Những khu vực cao
ven sông Hồng, sông Đáy đất có thành phần cơ giới nhẹ chủ yếu là đất cát hoặc
pha cát khá chua và nghèo chất dinh dưỡng. Các vũng trũng ven sông Nhuệ, Duy
Tiên, Châu Giang đất có thành phần cơ giới nặng hơn chủ yếu là loại đất thịt
nặng và sét nhẹ ít chua và giàu các chất dinh dưỡng hơn. Khu vực nghiên cứu có
5 loại đất: đất phù sa, đất xám có tầng loang, đất phù sa glây, đất xám feralit và
đất glây chua.
Đất phù sa chiếm diện tích lớn nhất của toàn bộ lưu vực, tập trung chủ
yếu ở phía Đông, phía Bắc và Đông Bắc. Đất phù sa thích hợp cho trồng cây
nông nghiệp như lúa nước, hoa màu. Phía Tây là nơi tập trung nhiều đất xám
feralit thích hợp cho trồng cây công nghiệp ngắn và dài ngày, cây ăn quả.[8]
1.1.4. Thảm thực vật
Hiện nay rừng đầu nguồn đang bị khai thác, tàn phá nghiêm trọng làm giảm
diện tích rừng tự nhiên và đa dạng sinh học bị giảm sút [8].
Do lưu vực sông Nhuệ Đáy có địa hình đa dạng, với các vùng đồi, núi và
9
Mùa có mưa phùn (tháng III và IV hàng năm) là thời kỳ ẩm ướt nhất còn
10
nửa đầu mùa đông (tháng XII và tháng I hàng năm), do ảnh hưởng gió mùa Đông
Bắc khô hanh nên là thời kỳ khô nhất của năm.
Độ ẩm không khí trong khu vực nghiên cứu khá lớn, trung bình năm dao
động trong khoảng 84 86%. Diễn biến của lượng bốc hơi phụ thuộc vào diễn
biến của nhiệt độ và độ ẩm không khí. Lượng bốc hơi tháng bình quân nhiều
năm dao động trong khoảng 60 100 mm. Tháng có lượng bốc hơi lớn nhất
trong năm là tháng VII, tới 98 mm. Thời kỳ khô hanh đầu mùa đông cũng là thời
kỳ có lượng bốc hơi lớn, trung bình dao động trong khoảng 90 95 mm.
Tốc độ gió ở khu vực không lớn lắm.Tốc độ gió trung bình của tháng lớn
nhất (tháng IV) cũng chỉ khoảng 2,5m/s còn của tháng nhỏ nhất (tháng I) rất
thấp, chỉ 1,5m/s. Tuy nhiên, tốc độ gió mạnh nhất có thể đạt tới trên 40 m/s.
Bảng 1.2 thể hiện tốc độ gió mạnh đo được tại trạm Láng ứng với các xác suất
xuất hiện khác nhau. Hướng gió luôn thay đổi theo thời gian trong năm nhưng
chủ đạo là các hướng Đông Nam và Đông Bắc.
Khu vực nghiên cứu nằm trong vùng mưa trung bình của đồng bằng Bắc
Bộ. Lượng mưa năm bình quân nhiều năm ở đây đạt khoảng 1650 mm. Mỗi năm
trung bình có khoảng trên dưới 150 ngày có mưa. Lượng mưa phân phối rất
không đều theo thời gian trong năm. Một năm hình thành hai mùa mưa và khô rất
rõ rệt.
Mùa mưa thường kéo dài 5 tháng, từ tháng V đến tháng X với tổng lượng
mưa chiếm tới xấp xỉ 83% tổng lượng mưa năm. Tháng mưa nhiều nhất thường
là VII hoặc VIII với lượng mưa chiếm tới trên 18% tổng lượng mưa năm. Ba
tháng liên tục có mưa lớn nhất trong năm là VII, VIII, IX. Tổng lượng mưa của
ba tháng này chiếm tới trên 49% tổng lượng mưa năm.
Mùa khô thường kéo dài 7 tháng, từ tháng XI đến tháng IV năm sau với
tổng lượng mưa chỉ chiếm khoảng 17% lượng mưa của cả năm. Tháng ít mưa
V đến tháng X chiếm 8085% lượng mưa cả năm . Mùa khô từ tháng XI đến
tháng IV năm sau.
Lượng nước mùa lũ ở hầu hết các sông chiếm từ 70 80% lượng nước
năm. Trong mùa cạn, mực nước và lưu lượng nước nhỏ. Lượng dòng chảy trong
7 tháng mùa cạn chỉ chiếm khoảng 20 25% lượng dòng chảy cả năm. Ngoài các
nhánh sông lớn chi phối chế độ thủy văn trên hệ thống, sông Đáy còn nhận nước
từ các sông tiêu, sông tưới qua các cống La Khê, Ngoại Độ…Các sông này
thường phải đóng lại khi có phân lũ trong thời gian dài, ngắn tùy thuộc vào thời
gian lũ. Sông Đáy có vị trí rất quan trọng, nó vừa là đường thoát nước chính của
sông Hồng, vừa là đường tiêu lũ của bản thân lưu vực sông Đáy [7].
1.2. ĐẶC ĐIỂM ĐỊA LÝ TỰ NHIÊN LƯU VỰC SÔNG NHUỆ ĐÁY TRÊN
ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HÀ NỘI
12
Trên địa bàn thành phố Hà Nội lưu vực sông Đáy trên địa bàn thành phố Hà
Nội có diện tích là 1900km2, lưu vực sông Nhuệ có diện tích khoảng 653km 2.
Giới hạn của lưu vực sông NhuệĐáy trên địa bàn Hà Nội như sau: phía Bắc và
phía Đông được bao bởi đê sông Hồng kể từ ngã ba Trung Hà tới cửa Ba Lạt với
chiều dài khoảng 242 km, phía Tây Bắc giáp sông Đà từ Ngòi Lát tới Trung Hà
với chiều dài khoảng 33 km, phía Tây giáp Hòa Bình, phía Nam giáp Hà Nam.
Xét về mặt cấu trúc ngang đi từ Tây sang Đông có thể chia địa hình khu
vực nghiên cứu thành vùng chính như sau:
a) Vùng đồi núi. Địa hình núi phân bố ở phía Tây và Tây Nam, chiếm
khoảng 30% diện tích, có hướng thấp dần từ Đông Bắc xuống Tây Nam ra biển
và thấp dần từ Tây sang Đông. Địa hình đồi núi được tách ra với địa hình núi và
đồng bằng độ chênh cao
1.800mm. Hữu ngạn của lưu vực mưa khá lớn (X > 1800mm), nhất là vùng đồi núi
phía Tây (X >2000mm). Trung tâm mưa lớn nhất ở thượng nguồn sông Tích thuộc
núi Ba Vì (X=22004000mm). Ph ầ n t ả ng ạn l ưu vự c l ư ợng mưa tươ ng đối
nh ỏ (X=15001800mm), nhỏ nhất ở th ượng nguồn sông Đáy, sông Nhuệ
(X=1500mm), và lại tăng dần ra phía biển (18002000mm).
Khu vực ô trũng đầm lầy về mùa mưa, thường xuyên bị úng ngập, đặc
biệt những khu vực nằm trong vùng phân lũ của sông Đáy, bởi vậy mỗi khi có
báo động III hoặc phân lũ thì bị ngập nước ở độ sâu từ 1 4m.
Trên toàn lưu vực, mùa mưa bắt đầu từ tháng IVV và kết thúc vào tháng X
XI, tập trung tới 7090% lượng mưa cả năm.
15
Bảng 1.1. : Lượng mưa bình quân năm lưu vực sông Nhuệ Đáy
từ 19711997
STT
Tên trạm
Lượng mưa bình quân năm (mm)
1
Sơn Tây
1809
2
Hà Nội
1656
Chế độ nhiệt phân hoá khá rõ rệt theo đai cao trong khu vực nghiên cứu.
Nhiệt độ trung bình năm ở vùng thấp đạt từ 25 27oC, ở vùng đồi núi phía Tây và
Tây Bắc nhiệt độ trung bình năm xấp xỉ 24oC.
Lượng bức xạ tổng cộng trung bình hàng năm là 122,8 kcal/cm2 và nhiệt độ
không khí trung bình hàng năm từ 15240C. Mùa đông gió có hướng thịnh hành là
Đông Bắc, tần suất đạt 60 70%. Một số nơi do ảnh hưởng của địa hình, hướng gió
đổi thành Tây Bắc và Bắc, tần suất đạt 25 40%. Mùa hè các tháng V, VI, VII
hướng gió ổn định, thịnh hành là Đông và Đông Nam, tần suất đạt khoảng 60 70%.
Tháng VIII hướng gió phân tán, hướng thịnh hành nhất cũng chỉ đạt tần suất 20
25%. Các tháng chuyển tiếp hướng gió không ổn định, tần suất hướng thay đổi
trung bình từ 10 15%.
Bốc hơi là một trong những thành phần chính của cán cân nhiệt và cán cân
nước. Lượng bốc hơi từ bề mặt trải trên lưu vực chủ yếu quyết định bởi tiềm năng
nhiệt và ẩm. Do đó, sự phân bố của lượng bốc hơi năm phụ thuộc vào sự phân bố
không gian của nhiệt và ẩm. Ngoài yếu tố mưa, yếu tố bốc hơi từ bề mặt lưu vực
cũng tham gia trực tiếp vào cán cân nước, ảnh hưởng rõ rệt tới sự hình thành dòng
chảy. Do nền nhiệt độ trên lưu vực cao làm cho quá trình bốc hơi trên lưu vực diễn
ra đều khá lớn. Lượng bốc năm dao động trong khoảng 9001000mm. Do chịu ảnh
hưởng của biển độ ẩm tương đối trung bình hàng năm của lưu vực là 7580%, lớn
nhất vào đầu mùa mưa, và thấp nhất trong mùa khô.
Mạng lưới sông ngòi khu vực nghiên cứu tương đối phát triển, mật độ
lưới sông đạt 0,7 1,2km/km2. Lưu vực có dạng dài, hình nan quạt, gồm các sông
16
chính:
thiên nhiên như đất, nước, rừng và khoảng sản cũng như không phù hợp với tốc
17
độ tăng của nền kinh tế. Điều đó dẫn đến những luồng di chuyển dân cư lao
động từ vùng này sang vùng khác, cũng là nguyên nhân gây mâu thuẫn, xung đột
trong việc khai thác, sử dụng tài nguyên trong vấn đề tìm kiếm việc làm.
Bảng 1.2: Tình hình phát triển dân số giai đoạn 19902009 (1000
người)
Năm
1990
1995
2000
2003
2009
Toàn vùng
8143,9
8888,2
9510,5
9934,6
814,9
785,0
Nam Định
1715,9
1820,5
1904,1
1935,0
1825,7
Ninh Bình
792,1
855,5
889,8
906,0
898,5
Hoà Bình
Bảng 1.3: Tài nguyên nước mặt trên lưu vực sông Đáy
Tần suất
Tài nguyên nước mặt ( tỷ m3)
18
Tổng (tỷ m3)
xuất hiện
50%
75%
80%
95%
Sản sinh trên
lưu vực
6,88
4,75
3,74
2,16
Sông Đào
22,2
20,5
17,4
15,8
Sông Ninh Cơ
6,94
2 ,05
0 ,544
4 ,13
1 ,04
7 ,9
1 ,62
12 ,3
2 ,52
19 ,1
3 ,31
25 ,1
1 ,79
13 ,6
0 ,911
6 ,92
0 ,388
2 ,95
2 ,06
78 ,1
0 ,41
21 ,9
1 ,1
100
3
I
II
III
IV
V
77 ,1
21 ,9
46 ,8
13 ,3
22 ,8
6 ,49
18 ,3
5 ,21
49 ,7
70 ,7
14 ,7
29 ,3
28 ,5
100
Sông Đáy
Q (m /s) Tỷ lệ %
12 ,1
1 ,93
2 ,8
2 ,04
11 ,5
1 ,84
18 ,2
2 ,91
34 ,2
5 ,47
55 ,4
8 ,85
81 ,8
lũ qua đập Đáy. Nước sông Tô Lịch thường xuyên xả vào sông Nhuệ với lưu lượng
trung bình từ 1117m3/s, lưu lượng cực đại đạt 30m3/s .
c) Tình trạng ô nhiễm nước trên lưu vực
Trong những năm gần đây, tình hình phát triển kinh tế xã hội diễn ra rất
mạnh đem lại nhiều lợi ích to lớn cho nền kinh tế quốc dân. Tuy nhiên, ngoài
những lợi ích mang lại, thì tình trạng ô nhiễm do những mặt trái của các hoạt
động trên gây ra đang ở mức báo động. Môi trường nói chung và môi trường
nước nói riêng trong khu vực đang bị ô nhiễm gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến
sức khoẻ người lao động cũng như người dân sống quanh vùng.
Có nhiều nguyên nhân dẫn đến môi trường bị ô nhiễm, hầu hết là do việc
xả thải vào môi trường không đảm bảo tiêu chuẩn và quy trình gây nên tình
trạng mất cân bằng, dẫn đến ô nhiễm. Các nguồn gây ô nhiễm đó chủ yếu là
do các hoạt động: nước thải từ sinh hoạt và đô thị; từ công nghiệp; từ các làng
nghề và tiểu thủ công nghiệp; từ nông nghiệp, thuỷ sản và từ các nguồn khác
(bệnh viện, dịch vụ).
Theo thống kê của Trung tâm quan trắc môi trường (Tổng cục môi
trường), mỗi ngày sông Nhuệ Đáy phải gánh trên 2,5 triệu m3 nước thải từ
sản xuất nông nghiệp. Sản xuất Công nghiệp 610000 m3/ngày, nước thải sinh
hoạt 630 m3/ngày, nước thải bệnh viện 15500m3/ ngày... chưa kể đến nước
thải của hoạt động du lịch, hoạt động sản xuất của làng nghề...
Hiện nay, chất lượng nước sông Nhuệ Đáy đang bị ô nhiễm, nhiều
đoạn bị ô nhiễm tới mức báo động. Theo một số kết quả phân tích nước
sông Nhuệ Đáy gần đây, chất lượng nước sông đang bị ô nhiễm nặng, vượt
tiêu chuẩn cho phép hàng chục lần .Mẫu nước sông Nhuệ lấy tại Cầu Hà Đông
cho thấy, hàm lượng ô xy hòa tan có trong nước thấp hơn quy chuẩn tới 7 lần,
hàm lượng chất hữu cơ vượt tiêu chuẩn 10 lần, NH4 vượt quy chuẩn 35 . , 6
lần....
20
sâu ít nhất là 3000 m. Đại dương đã chiếm 80% lượng nhiệt của hệ thống khí
hậu.Theo kết quả phân tích từ khinh khí cầu và vệ tinh thì tốc độ nóng lên ở giữa
tầng đối lưu và thấp hơn giống với tốc độ của nhiệt độ bề mặt [3,4].
Hiện tượng mưa cũng biến động đáng kể, lượng mưa tăng đáng kể trong
giai đoạn từ 1900 đến 2005 ở các nước nằm ở phía Tây của Bắc và Nam Mỹ,
Châu Âu, Bắc và Trung tâm Châu Á. Trong khi đó nó giảm ở Sahel, Địa Trung
Hải, Bắc Phi và Nam Châu Á. Tương ứng với sự nóng lên toàn cầu, mực nước
trung bình đại dương cũng tăng lên do bằng tan và sự giãn nở nhiệt đại dương.
Mực nước biển tăng với tốc độ trung bình 1.,8 [1.,3 2.,3] mm một năm trong
giai đoạn 19612003. Tốc độ là 3.,1 [2.,4 3.,8] mm trong giai đoạn 19932003.
Cùng với xu thế tăng nhiệt độ toàn cầu là sự phân bố dị thường của nhiệt độ.
Trên các đại lục ở Bắc Bán Cầu, trong những năm gần đây xuất hiện hàng loạt
kỷ lục về nhiệt độ cao và thấp.[14]
22
a) Biểu hiện của Biến đổi khí hậu ở Việt Nam
Theo các kết quả phân tích các số liệu khí hậu cho thấy các yếu tố của khí
hậu tại Việt Nam những năm trước đây có những đặc điểm dưới đây [2].
Nhiệt độ: Trong 50 năm qua ( 1958 – 2007), nhiệt độ trung bình ở Việt
Nam tăng lên khoảng 0.,50C đến 0.,70C. Nhiệt độ mùa đông tăng nhanh hơn nhiệt
độ mùa hè và nhiệt độ ở các vùng khí hậu phía Bắc tăng nhanh hơn ở các vùng
khí hậu phía Nam (hình 2.1 a). Nhiệt độ trung bình năm của 4 thập kỷ gần đây
(1961 – 2000) cao hơn trung bình năm của 3 thập kỷ trước đó ( 1931 – 1960).
Nhiệt độ trung bình năm của thập kỷ 1991 – 2000 ở Hà Nội, Đà Nẵng, thành
phố Hồ Chí Minh đểu cao hơn trung bình của thập kỷ 1931 – 1940 lần lượt là
0,8; 0,4 và 0,60C. Năm 2007, nhiệt độ trung bình năm ở cả 3 nơi trên đều cao hơn
trung bình của thập kỷ 1931 – 1940 là 0,8 – 1,30C và cao hơn thập kỷ 1991 – 2000
là 0,4 – 0,50C.
24
khí hậu là bức tranh toàn cảnh của khí hậu trong tương lai dựa trên một tập hợp
các mối quan hệ khí hậu, được xây dựng để sử dụng trong nghiên cứu những
hậu quả của biến đổi khí hậu do con người gây ra và thường được dùng như là
đầu vào các mô hình đánh giá tác động. Hiện nay có nhiều quốc gia, nhiều khu
vực xây dựng kịch bản biến đổi khí hậu với quy mô khu vực, quốc gia và các
vùng khí hậu hoặc phạm vi nhỏ hơn. Về khung thời gian, hầu hết các kịch bản
biến đổi khí hậu thường được xây dựng cho từng thập kỷ của thế kỷ 21.
Biến đổi khí hậu hiện nay cũng như trong thế kỷ 21 phụ thuộc chủ yếu
vào mức độ phát thải khí nhà kính, tức là phụ thuộc vào sự phát triển kinh tế xã
hội. Vì vậy, các kịch bản biến đổi khí hậu được xây dựng dựa trên các kich bản
phát triển kinh tế xã hội toàn cầu. Con người đã phát thải quá mức khí nhà kính
vào khí quyển từ các hoạt động khác nhau như công nghiệp, nông nghiệp, giao
thông vận tài, phá rừng,… Do đó, cơ sở xác định các kịch bản phát thải khí nhà
kính là :
Sự phát triển kinh tế ở quy mô toàn cầu
Dân số thế giới và mức độ tiêu dùng
Chuẩn mực sống và lối sống
Tiêu thụ năng lượng và tài nguyên năng lượng
Chuyển giao công nghệ
Sử dụng đất
…
Trong Báo cáo đặc biệt về các kịch bản phát thải khí nhà kính năm 2000,
IPCC đã đưa ra 40 kịch bản, phản ánh khá đa dạng khả năng phát thải khí nhà
kính trong thế kỷ 21. Các kịch bản phát thải này được tổ hợp thành 4 kịch bản
gốc là A1, A2, B1 và B2 với các đặc điểm chính sau:
Kịch bản gốc A1: Kinh tế thế giới phát triển nhanh; dân số thế giới