Luận văn Thạc sĩ Khoa học: Đánh giá tác động của biến đổi khí hậu đến biến động tài nguyên nước trên các lưu vực sông Nhuệ - Đáy thuộc thành phố Hà Nội - Pdf 59

Lêi c¶m ¬n
Sự  dạy dỗ  tận tình của các Thầy, Cô trong bộ  môn Thuỷ  
văn của Khoa Khí tượng ­ Thuỷ  văn và Hải Dương học trong 2  
năm qua cùng các đồng nghiệp trong Viện Khoa học Khí tượng  
Thuỷ văn và Môi trường, Bộ Tài nguyên và Môi trường và ở khoa  
Khí tượng Thủy văn và Hải dương học đã tạo điều kiện cho tôi  
hoàn thành luận văn này. 
Tác giả xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ  vô cùng quý báu  
đó của các Thầy, Cô, các bạn đồng nghiệp và đặc biệt là PGS.TS  
Nguyễn Thanh Sơn, người hướng dẫn khoa học đã giúp đỡ  tôi  
trong suốt quá trình thực hiện luận văn.
Xin chân thành cảm  ơn PGS.TS Lã Thanh Hà và toàn thể  
cán bộ  Trung tâm Nghiên cứu Thủy văn và Tài nguyên nước ­  
Viện Khoa học Khí tượng Thuỷ văn và Môi trường, những người  
đã tâm huyết tạo mọi điều kiện để tác giả có thể hoàn thành luận  
văn một cách tốt nhất.
Tác giả xin cảm ơn nhóm thực hiện Đề tài QGTĐ.10.06 đã  
cung cấp những tài liệu     quý giá giúp học viên trong quá trình  
thực hiện luận văn.
Trong thời gian thực hiện luận văn, tác giả còn nhận được  
rất nhiều sự giúp đỡ trong các lĩnh vực khác nhau kể cả trong và  
ngoài chuyên môn mà ở đây không thể kể ra hết được. Tác giả xin  
chân thành bày tỏ lời cảm ơn sâu sắc.
Cuối cùng tôi xin chân thành cảm  ơn gia đình, bạn bè và  
đặc biệt là các bạn học viên khóa 2008­2010 đã tận tình trao đổi,  
đóng góp và động viên tôi rất nhiều để  giúp đỡ  tôi hoàn thành  
được luận văn này.
Hà Nội, tháng 12/2010

         


tính khoa học và thực tiễn nhằm góp phần giải quyết bài toán trên đối với các  
nhà quản lý tài nguyên nước trên địa bàn Thủ  đô để  đưa ra được những quyết 
định chiến lược phát triển đúng đắn.
Cấu trúc, nội dung của    luận văn gồm 3 chương, không kể  mở  đầu, kết 
luận, tài liệu tham khảo và phụ   lục.
Mở   đầu   (tính   cấp   thiết,   mục   tiêu,   nghiên   cứu,   phương   hướng   giải 
quyết,...)
Chương 1. Tổng quan lưu vực nghiên cứu
Chương 2. Tổng quan về các nghiên cứu có liên quan 
Chương 3.     Mô phỏng  ảnh hưởng của biến đối khí hậu tới tài nguyên 
3


nước.
       Kết luận và kiến nghị

4


CHƯƠNG 1
TỔNG QUAN LƯU VỰC NGHIÊN CỨU

1.1. ĐẶC ĐIỂM ĐỊA LÝ TỰ NHIÊN LƯU VỰC SÔNG NHUỆ ­ ĐÁY 
1.1.1 Vị trí địa lý
Lưu vực sông Đáy­ Nhuệ  nằm  ở  hữu ngạn sông Hồng trong phạm vi từ 
200 đến 21020' vĩ độ Bắc và từ 1050 đến 106030' kinh độ Đông, với tổng diện tích 
tự  nhiên là 7665 km2, bao gồm một phần Thủ đô Hà Nội, Hoà Bình, Hà Nội, Hà 
Nam, Nam Định, Ninh Bình. Giới hạn của lưu vực như sau: 
-


cửa Hát Môn đến cửa Đáy trướ c khi đổ  ra biển Đông). Sông Đáy chả y qua  
5


đị a phận các tỉnh Hà Nội, Hà Nam, Ninh Bình và Nam Đị nh. Tọa độ  đị a lý: 
20033’ đến 21019’ vĩ độ Bắc và 105017’ đến 105050’ kinh độ Đông. [5,7]

6


1.1.2   Địa hình, địa mạo
Nằm trên vùng châu thổ sông Hồng, khu vực nghiên cứu nằm trải dài theo 
phương vĩ tuyến, chịu ảnh hưởng của nhiều đới cấu trúc địa chất khác nhau, 
khiến cho địa hình có sự phân hoá tương phản thể hiện rõ nét theo hướng Tây­
Đông và hướng Bắc­Nam. Xét về mặt cấu trúc ngang đi từ Tây sang Đông có thể 
chia địa hình khu vực nghiên cứu thành vùng chính như sau:

7


Hình 1.1. Bản đồ lưu vực hệ thống sông   Nhuệ­ Đáy
a) Vùng đồi núi
Địa hình núi phân bố   ở  phía Tây và Tây Nam và chiếm khoảng 30% diện  
tích, có hướng thấp dần từ Đông Bắc xuống Tây Nam ra biển và thấp dần từ Tây  
sang Đông. Phần lớn là các dãy núi thấp có độ  cao trung bình 400 ­ 600m được 
cấu tạo bởi các đá trầm tích lục nguyên, cacbonat; chỉ một vài khối núi có độ cao  
trên 1.000m được cấu tạo bởi đá trầm tích phun trào như  khối núi Ba Vì có đỉnh 
cao 1.296m, khối núi Viên Nam có đỉnh cao 1.031m và cấu tạo bởi đá xâm nhập 
granit như khối núi Đồi Thơi (Kim Bôi ­ Hoà Bình) có đỉnh cao 1.198m. Địa hình  
núi trong khu vực cũng có sự  phân dị  và mang những đặc trưng hình thái khác 

sét và cát pha, xen kẽ có các lớp cát mịn, cát chảy hoặc bùn. Các lỗ khoan thăm dò 
địa chất và các giếng khoan khai thác nước ngầm cho thấy cấu tạo địa chất từ 
trên xuống dưới gồm các lớp sau: sét pha và đất sét lẫn cát dày 2 ÷ 16 m; bùn hữu  
cơ – bùn cát dày 1,3 ÷ 6 m (10m); tầng cát đá cuội, đá dăm hạt to dày 50 ÷ 90m.
b) Thổ nhưỡng
Do nằm trong vùng đồng bằng châu thổ sông Hồng nên đất trong khu vực 
chủ yếu là đất phù sa của hệ thống sông Hồng và sông Đáy bồi đắp nên. Mặc dù  
được bao bọc bởi các đê sông Hồng, sông Đáy song hầu như hàng năm phần lớn  
diện tích đất canh tác ít nhiều đều được tưới bằng nước phù sa lấy từ  các cống  
tự  chảy hoặc các trạm bơm. Quá trình bồi tụ, hình thành và phát triển của các 
nhóm đất ở từng khu vực khác nhau đã tạo nên sự đa dạng về loại hình đất trong  
hệ  thống. Song nhìn chung chúng đều là loại đất ít chua và chua có hàm lượng  
mùn và các chất dinh dưỡng ở mức độ trung bình đến nghèo. Những khu vực cao  
ven sông Hồng, sông Đáy đất có thành phần cơ giới nhẹ chủ yếu là đất cát hoặc 
pha cát khá chua và nghèo chất dinh dưỡng. Các vũng trũng ven sông Nhuệ, Duy  
Tiên, Châu Giang đất có thành phần cơ  giới nặng hơn chủ  yếu là loại đất thịt 
nặng và sét nhẹ ít chua và giàu các chất dinh dưỡng hơn. Khu vực nghiên cứu có 
5 loại đất: đất phù sa, đất xám có tầng loang, đất phù sa glây, đất xám feralit và 
đất glây chua.
Đất phù sa chiếm diện tích lớn nhất của toàn bộ  lưu vực, tập trung chủ 
yếu  ở  phía Đông, phía Bắc và Đông Bắc. Đất phù sa thích hợp cho trồng cây 
nông nghiệp như  lúa nước, hoa màu. Phía Tây là nơi tập trung nhiều đất xám 
feralit thích hợp cho trồng cây công nghiệp ngắn và dài ngày, cây ăn quả.[8]
1.1.4. Thảm thực vật
Hiện nay rừng đầu nguồn đang bị khai thác, tàn phá nghiêm trọng làm giảm 
diện tích rừng tự nhiên và đa dạng sinh học bị giảm sút [8].
­ Do lưu vực sông Nhuệ ­ Đáy có địa hình đa dạng, với các vùng đồi, núi và 
9



Mùa có mưa phùn (tháng III và IV hàng năm) là thời kỳ   ẩm  ướt nhất còn  
10


nửa đầu mùa đông (tháng XII và tháng I hàng năm), do ảnh hưởng gió mùa Đông  
Bắc khô hanh nên là thời kỳ khô nhất của năm. 
Độ   ẩm không khí trong khu vực nghiên cứu khá lớn, trung bình năm dao  
động trong khoảng 84   86%. Diễn biến của lượng bốc hơi phụ thuộc vào diễn 
biến của nhiệt độ  và độ   ẩm không khí. Lượng bốc hơi tháng bình quân nhiều 
năm dao động trong khoảng 60     100 mm. Tháng có lượng bốc hơi lớn nhất 
trong năm là tháng VII, tới 98 mm. Thời kỳ khô hanh đầu mùa đông cũng là thời  
kỳ có lượng bốc hơi lớn, trung bình dao động trong khoảng 90   95 mm. 
Tốc độ gió ở khu vực không lớn lắm.Tốc độ gió trung bình của tháng lớn  
nhất (tháng IV) cũng chỉ  khoảng 2,5m/s còn của tháng nhỏ  nhất (tháng I) rất  
thấp, chỉ  1,5m/s. Tuy nhiên, tốc độ  gió mạnh nhất có thể  đạt tới trên 40 m/s.  
Bảng 1.2 thể hiện tốc độ gió mạnh đo được tại trạm Láng ứng với các xác suất 
xuất hiện khác nhau. Hướng gió luôn thay đổi theo thời gian trong năm nhưng  
chủ đạo là các hướng Đông Nam và Đông Bắc.
Khu vực nghiên cứu nằm trong vùng mưa trung bình của đồng bằng Bắc 
Bộ. Lượng mưa năm bình quân nhiều năm ở đây đạt khoảng 1650 mm. Mỗi năm 
trung bình có khoảng trên dưới 150 ngày có mưa. Lượng mưa phân phối rất 
không đều theo thời gian trong năm. Một năm hình thành hai mùa mưa và khô rất 
rõ rệt. 
Mùa mưa thường kéo dài 5 tháng, từ tháng V đến tháng X với tổng lượng  
mưa chiếm tới xấp xỉ 83% tổng lượng mưa năm. Tháng mưa nhiều nhất thường  
là VII hoặc VIII với lượng mưa chiếm tới trên 18% tổng lượng mưa năm. Ba 
tháng liên tục có mưa lớn nhất trong năm là VII, VIII, IX. Tổng lượng mưa của 
ba tháng này chiếm tới trên 49% tổng lượng mưa năm. 
Mùa khô thường kéo dài 7 tháng, từ  tháng XI đến tháng IV năm sau với 
tổng lượng mưa chỉ  chiếm khoảng 17% lượng mưa của cả năm. Tháng ít mưa  

V đến tháng X chiếm 80­85% lượng mưa cả  năm . Mùa khô từ  tháng XI đến  
tháng IV năm sau.
Lượng nước mùa lũ  ở  hầu hết các sông chiếm từ  70­ 80% lượng nước 
năm. Trong mùa cạn, mực nước và lưu lượng nước nhỏ. Lượng dòng chảy trong  
7 tháng mùa cạn chỉ chiếm khoảng 20­ 25% lượng dòng chảy cả năm. Ngoài các 
nhánh sông lớn chi phối chế độ thủy văn trên hệ thống, sông Đáy còn nhận nước 
từ   các   sông   tiêu,   sông   tưới   qua   các   cống   La   Khê,   Ngoại   Độ…Các   sông   này 
thường phải đóng lại khi có phân lũ trong thời gian dài, ngắn tùy thuộc vào thời  
gian lũ. Sông Đáy có vị trí rất quan trọng, nó vừa là đường thoát nước chính của  
sông Hồng, vừa là đường tiêu lũ của bản thân lưu vực sông Đáy [7].
1.2. ĐẶC ĐIỂM     ĐỊA LÝ TỰ  NHIÊN LƯU VỰC SÔNG NHUỆ  ĐÁY TRÊN 
ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HÀ NỘI
12


Trên địa bàn thành phố Hà Nội lưu vực sông Đáy trên địa bàn thành phố Hà 
Nội có diện tích là 1900km2, lưu vực sông Nhuệ  có diện tích khoảng 653km 2. 
Giới hạn của lưu vực sông Nhuệ­Đáy trên địa bàn Hà Nội như  sau: phía Bắc và 
phía Đông được bao bởi đê sông Hồng kể từ ngã ba Trung Hà tới cửa Ba Lạt với  
chiều dài khoảng 242 km, phía Tây Bắc giáp sông Đà từ  Ngòi Lát tới Trung Hà 
với chiều dài khoảng 33 km, phía Tây giáp Hòa Bình, phía Nam giáp Hà Nam. 
Xét về  mặt cấu trúc ngang đi từ  Tây sang Đông có thể  chia địa hình khu 
vực nghiên cứu thành vùng chính như sau:
a) Vùng đồi núi.  Địa hình núi phân bố   ở  phía Tây và Tây Nam, chiếm 
khoảng 30% diện tích, có hướng thấp dần từ Đông Bắc xuống Tây Nam ra biển  
và thấp dần từ Tây sang Đông. Địa hình đồi núi được tách ra với địa hình núi và  
đồng bằng độ  chênh cao 
1.800mm. Hữu ngạn của lưu vực mưa khá lớn (X > 1800mm), nhất là vùng đồi núi  
phía Tây (X >2000mm). Trung tâm mưa lớn nhất ở thượng nguồn sông Tích thuộc 
núi Ba Vì (X=2200­4000mm).  Ph ầ n  t ả  ng ạn l ưu  vự c  l ư ợng  mưa   tươ ng   đối 
nh ỏ   (X=1500­1800mm),   nhỏ   nhất   ở   th ượng   nguồn   sông   Đáy,   sông   Nhuệ 
(X=1500mm), và lại tăng dần ra phía biển (1800­2000mm). 
Khu vực ô trũng đầm lầy về  mùa mưa, thường xuyên bị  úng ngập, đặc  
biệt những khu vực nằm trong vùng phân lũ của sông Đáy, bởi vậy mỗi khi có  
báo động III hoặc phân lũ thì bị ngập nước ở độ sâu từ 1­ 4m.   
Trên toàn lưu vực, mùa mưa bắt đầu từ tháng IV­V và kết thúc vào tháng X­
XI, tập trung tới 70­90% lượng mưa cả năm.

15


Bảng 1.1. : Lượng mưa bình quân năm lưu vực sông Nhuệ ­ Đáy 
từ 1971­1997
STT

Tên trạm

Lượng mưa bình quân năm (mm)

1

Sơn Tây

1809

2


Hà Nội

1656

Chế  độ  nhiệt phân hoá khá rõ rệt theo đai cao trong khu vực nghiên cứu. 
Nhiệt độ trung bình năm ở vùng thấp đạt từ 25 ­ 27oC, ở vùng đồi núi phía Tây và 
Tây Bắc nhiệt độ trung bình năm xấp xỉ 24oC. 
Lượng bức xạ tổng cộng trung bình hàng năm là 122,8 kcal/cm2 và nhiệt độ 
không khí trung bình hàng năm từ  15­240C. Mùa đông gió có hướng thịnh hành là 
Đông Bắc, tần suất đạt 60 ­ 70%. Một số nơi do ảnh hưởng của địa hình, hướng gió 
đổi thành Tây Bắc và Bắc, tần suất đạt 25 ­ 40%. Mùa hè các tháng V, VI, VII  
hướng gió ổn định, thịnh hành là Đông và Đông Nam, tần suất đạt khoảng 60 ­ 70%. 
Tháng VIII hướng gió phân tán, hướng thịnh hành nhất cũng chỉ  đạt tần suất 20 ­  
25%. Các tháng chuyển tiếp hướng gió không  ổn định, tần suất hướng thay đổi  
trung bình từ 10 ­ 15%.
Bốc hơi là một trong những thành phần chính của cán cân nhiệt và cán cân 
nước. Lượng bốc hơi từ bề mặt trải trên lưu vực chủ yếu quyết định bởi tiềm năng  
nhiệt và ẩm. Do đó, sự phân bố của lượng bốc hơi năm phụ thuộc vào sự phân bố 
không gian của nhiệt và ẩm. Ngoài yếu tố mưa, yếu tố bốc hơi từ bề mặt lưu vực  
cũng tham gia trực tiếp vào cán cân nước, ảnh hưởng rõ rệt tới sự hình thành dòng 
chảy. Do nền nhiệt độ trên lưu vực cao làm cho quá trình bốc hơi trên lưu vực diễn  
ra đều khá lớn. Lượng bốc năm dao động trong khoảng 900­1000mm. Do chịu ảnh  
hưởng của biển độ ẩm tương đối trung bình hàng năm của lưu vực là 75­80%, lớn  
nhất vào đầu mùa mưa, và thấp nhất trong mùa khô.
Mạng lưới sông ngòi khu vực nghiên cứu tương đối phát triển, mật độ 
lưới sông đạt 0,7 ­ 1,2km/km2. Lưu vực có dạng dài, hình nan quạt, gồm các sông  
16


chính:

thiên nhiên như đất, nước, rừng và khoảng sản cũng như không phù hợp với tốc  
17


độ  tăng của nền kinh tế. Điều đó dẫn đến những luồng di chuyển dân cư  lao  
động từ  vùng này sang vùng khác, cũng là nguyên nhân gây mâu thuẫn, xung đột  
trong việc khai thác, sử dụng tài nguyên trong vấn đề tìm kiếm việc làm. 
Bảng 1.2: Tình hình phát triển dân số giai đoạn 1990­2009 (1000 
người)
Năm

1990

1995

2000

2003

2009

Toàn vùng

8143,9

8888,2

9510,5

9934,6


814,9

785,0

Nam Định

1715,9

1820,5

1904,1

1935,0

1825,7

Ninh Bình

792,1

855,5

889,8

906,0

898,5

Hoà Bình

Bảng 1.3: Tài nguyên nước mặt trên lưu vực sông Đáy
Tần suất 

Tài nguyên nước mặt ( tỷ m3)
18

Tổng (tỷ m3)


xuất hiện
50%
75%
80%
95%

Sản sinh trên 
lưu vực
6,88
4,75
3,74
2,16

Sông Đào
22,2
20,5
17,4
15,8

Sông Ninh Cơ
6,94

2 ,05
0 ,544
4 ,13
1 ,04
7 ,9
1 ,62
12 ,3
2 ,52
19 ,1
3 ,31
25 ,1
1 ,79
13 ,6
0 ,911
6 ,92
0 ,388
2 ,95
2 ,06
78 ,1
0 ,41
21 ,9
1 ,1
100
3

I
II
III
IV
V

77 ,1
21 ,9
46 ,8
13 ,3
22 ,8
6 ,49
18 ,3
5 ,21
49 ,7
70 ,7
14 ,7
29 ,3
28 ,5
100

Sông Đáy
Q (m /s) Tỷ lệ %
12 ,1
1 ,93
2 ,8
2 ,04
11 ,5
1 ,84
18 ,2
2 ,91
34 ,2
5 ,47
55 ,4
8 ,85
81 ,8

lũ qua đập Đáy. Nước sông Tô Lịch thường xuyên xả vào sông Nhuệ với lưu lượng  
trung bình từ 11­17m3/s, lưu lượng cực đại đạt 30m3/s .
c) Tình trạng ô nhiễm nước trên lưu vực
Trong những năm gần đây, tình hình phát triển kinh tế ­ xã hội diễn ra rất  
mạnh đem lại nhiều lợi ích to lớn cho nền kinh tế quốc dân. Tuy nhiên, ngoài 
những lợi ích mang lại, thì tình trạng ô nhiễm do những mặt trái của các hoạt  
động trên gây ra đang  ở  mức báo động. Môi trường nói chung và môi trường 
nước nói riêng trong khu vực đang bị ô nhiễm gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến 
sức khoẻ người lao động cũng như người dân sống quanh vùng.
Có nhiều nguyên nhân dẫn đến môi trường bị ô nhiễm, hầu hết là do việc  
xả  thải vào môi trường không đảm bảo tiêu chuẩn và quy trình gây nên tình  
trạng mất cân bằng, dẫn đến ô nhiễm. Các nguồn gây ô nhiễm đó chủ  yếu là 
do các hoạt động: nước thải từ  sinh hoạt và đô thị; từ  công nghiệp; từ  các làng 
nghề  và tiểu thủ  công nghiệp; từ  nông nghiệp, thuỷ  sản và từ  các nguồn khác 
(bệnh viện, dịch vụ).
Theo   thống   kê   của   Trung   tâm   quan   trắc   môi   trường   (Tổng   cục   môi 
trường), mỗi ngày sông Nhuệ  ­ Đáy phải gánh       trên 2,5 triệu m3 nước thải từ 
sản xuất nông nghiệp. Sản xuất Công nghiệp 610000 m3/ngày, nước thải sinh 
hoạt       630 m3/ngày, nước thải bệnh viện 15500m3/ ngày... chưa kể  đến nước 
thải của hoạt động du lịch, hoạt động sản xuất của làng nghề...
Hiện nay, chất lượng nước sông Nhuệ  ­ Đáy đang bị  ô nhiễm,        nhiều 
đoạn bị  ô nhiễm       tới mức báo động. Theo       một số  kết quả  phân tích       nước 
sông Nhuệ  ­ Đáy gần đây, chất lượng nước sông đang bị  ô nhiễm nặng, vượt  
tiêu chuẩn cho phép hàng chục lần .Mẫu nước sông Nhuệ lấy tại Cầu Hà Đông 
cho thấy, hàm lượng ô xy hòa tan có trong nước thấp hơn quy chuẩn tới 7 lần, 
hàm lượng chất hữu cơ  vượt tiêu chuẩn 10 lần, NH4 vượt quy chuẩn 35 .  , 6 
lần....

20


sâu ít nhất là 3000 m. Đại dương đã chiếm 80% lượng nhiệt của hệ  thống khí 
hậu.Theo kết quả phân tích từ khinh khí cầu và vệ tinh thì tốc độ nóng lên ở giữa 
tầng đối lưu và thấp hơn giống với tốc độ của nhiệt độ bề mặt [3,4].
Hiện tượng mưa cũng biến động đáng kể, lượng mưa tăng đáng kể  trong 
giai đoạn từ  1900 đến 2005  ở  các nước nằm  ở  phía Tây của Bắc và Nam Mỹ,  
Châu Âu, Bắc và Trung tâm Châu Á. Trong khi đó nó giảm  ở  Sahel, Địa Trung  
Hải, Bắc Phi và Nam Châu Á. Tương  ứng với sự  nóng lên toàn cầu, mực nước  
trung bình đại dương cũng tăng lên do bằng tan và sự  giãn nở  nhiệt đại dương. 
Mực nước biển tăng với tốc độ  trung bình 1.,8 [1.,3 ­ 2.,3] mm một năm trong 
giai đoạn 1961­2003. Tốc độ  là 3.,1 [2.,4 ­ 3.,8] mm trong giai đoạn 1993­2003. 
Cùng với xu thế  tăng nhiệt độ  toàn cầu là sự  phân bố  dị  thường của nhiệt độ. 
Trên các đại lục  ở Bắc Bán Cầu, trong những năm gần đây xuất hiện hàng loạt 
kỷ lục về nhiệt độ cao và thấp.[1­4]

22


a) Biểu hiện của Biến đổi khí hậu ở Việt Nam
Theo các kết quả phân tích các số liệu khí hậu cho thấy các yếu tố của khí 
hậu tại Việt Nam những năm trước đây có những đặc điểm dưới đây [2].
Nhiệt độ: Trong 50 năm qua (  1958 – 2007), nhiệt độ  trung bình  ở  Việt 
Nam tăng lên khoảng 0.,50C đến 0.,70C. Nhiệt độ mùa đông tăng nhanh hơn nhiệt 
độ  mùa hè và nhiệt độ   ở  các vùng khí hậu phía Bắc tăng nhanh hơn  ở  các vùng  
khí hậu phía Nam (hình 2.1 a). Nhiệt độ  trung bình năm của 4 thập kỷ  gần đây  
(1961 – 2000) cao hơn trung bình năm của 3 thập kỷ  trước đó ( 1931 – 1960). 
Nhiệt độ  trung bình năm của thập kỷ  1991 – 2000      ở  Hà Nội, Đà Nẵng, thành 
phố  Hồ  Chí Minh đểu cao hơn trung bình của thập kỷ  1931 – 1940 lần lượt là  
0,8; 0,4 và 0,60C. Năm 2007, nhiệt độ trung bình năm ở cả 3 nơi trên đều cao hơn 
trung bình của thập kỷ 1931 – 1940 là 0,8 – 1,30C và cao hơn thập kỷ 1991 – 2000 
là 0,4 – 0,50C. 


24


khí hậu là bức tranh toàn cảnh của khí   hậu trong tương lai dựa trên một tập hợp 
các mối quan hệ  khí hậu, được xây dựng để  sử  dụng trong nghiên cứu những 
hậu quả của biến đổi khí hậu do con người gây ra và thường được dùng như  là 
đầu vào các mô hình đánh giá tác động. Hiện nay có nhiều quốc gia, nhiều khu  
vực xây dựng kịch bản biến đổi khí hậu với quy mô khu vực, quốc gia và các 
vùng khí hậu   hoặc phạm vi nhỏ hơn. Về khung thời gian, hầu hết các kịch bản 
biến đổi khí hậu thường được xây dựng cho từng thập kỷ của thế kỷ 21.
Biến đổi khí hậu hiện nay cũng như  trong thế  kỷ  21 phụ  thuộc chủ  yếu  
vào mức độ phát thải khí nhà kính, tức là phụ thuộc vào sự phát triển kinh tế ­ xã 
hội. Vì vậy, các kịch bản biến đổi khí hậu được xây dựng dựa trên các kich bản  
phát triển kinh tế ­ xã hội toàn cầu. Con người đã phát thải quá mức khí nhà kính 
vào khí quyển từ  các hoạt động khác nhau như  công nghiệp, nông nghiệp, giao 
thông vận tài, phá rừng,… Do đó, cơ sở  xác định các kịch bản phát thải khí nhà 
kính là :
Sự phát triển kinh tế ở quy mô toàn cầu
Dân số thế giới và mức độ tiêu dùng
Chuẩn mực sống và lối sống
Tiêu thụ năng lượng và tài nguyên năng lượng
Chuyển giao công nghệ
Sử dụng đất

Trong Báo cáo đặc biệt về các kịch bản phát thải khí nhà kính năm 2000, 
IPCC đã đưa ra 40 kịch bản, phản ánh khá đa dạng khả  năng phát thải khí nhà 
kính trong thế  kỷ  21. Các kịch bản phát thải này được tổ  hợp thành 4 kịch bản 
gốc là A1, A2, B1 và B2 với các đặc điểm chính sau:
Kịch bản gốc A1: Kinh tế thế giới phát triển nhanh; dân số thế giới 


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status