Luận án tiến sĩ Kinh tế: Cơ chế quản lý tài chính của Nhà nước với Tập đoàn Tài chính ở Việt Nam - Pdf 59

i

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

BỘ TÀI CHÍNH

HỌC VIỆN TÀI CHÍNH


PHẠM THỊ TƢỜNG VÂN

CƠ CHẾ QUẢN LÝ TÀI CHÍNH CỦA NHÀ NƢỚC
VỚI TẬP ĐOÀN TÀI CHÍNH Ở VIỆT NAM
Chuyên ngành: Tài chính - ngân hàng
Mã số: 62.34.02.01

LUẬN ÁN TIẾN SĨ KINH TẾ

Ngƣời hƣớng dẫn khoa học:
1. PGS.TS Phạm Ngọc Dũng
2. PGS.TS Nguyễn Xuân Thạch

HÀ NỘI – 2017


ii

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan bản luận án là công trình nghiên cứu của
riêng tôi. Các số liệu, kết quả nêu trong luận án là trung thực và có


2.1.1. Khái niệm và đặc điểm Tập đoàn Tài chính ............................................ 22
2.1.2. Phân loại Tập đoàn Tài chính ................................................................. 26
2.2. CƠ CHẾ QUẢN LÝ TÀI CHÍNH CỦA NHÀ NƢỚC VỚI TẬP ĐOÀN TÀI CHÍNH
.................................................................................................................................. 30

2.2.1. Khái niệm cơ chế quản lý tài chính của Nhà nƣớc với Tập đoàn Tài chính ........ 30
2.2.2. Nội dung của cơ chế quản lý tài chính của Nhà nƣớc với Tập đoàn Tài chính ........ 33
2.2.3. Tổ chức quản lý tài chính của Nhà nƣớc với Tập đoàn Tài chính............ 57
2.2.4. Các nhân tố ảnh hƣởng đến cơ chế quản lý tài chính của Nhà nƣớc với Tập
đoàn Tài chính.................................................................................................. 60


iv

2.3. KINH NGHIỆM HOÀN THIỆN CƠ CHẾ QUẢN LÝ TÀI CHÍNH CỦA NHÀ
NƢỚC VỚI TẬP ĐOÀN TÀI CHÍNH TẠI MỘT SỐ QUỐC GIA TRÊN THẾ GIỚI
VÀ BÀI HỌC CHO VIỆT NAM .............................................................................. 64

2.3.1. Cơ chế quản lý tài chính của Nhà nƣớc đối với Tập đoàn Tài chính ở một
số quốc gia ....................................................................................................... 65
2.3.2. Bài học kinh nghiệm cho Việt Nam ........................................................ 77
KẾT LUẬN CHƢƠNG 2.......................................................................................... 79

CHƢƠNG 3. THỰC TRẠNG CƠ CHẾ QUẢN LÝ TÀI CHÍNH CỦA NHÀ
NƢỚC VỚI TẬP ĐOÀN TÀI CHÍNH Ở VIỆT NAM ..................................... 80
3.1. TỔNG QUAN VỀ TẬP ĐOÀN TÀI CHÍNH Ở VIỆT NAM .......................... 80

3.1.1. Sự hình thành Tập đoàn Tài chính ở Việt Nam ....................................... 80
3.1.2. Đặc trƣng của Tập đoàn Tài chính ở Việt Nam ....................................... 82

4.2. GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN CƠ CHẾ QUẢN LÝ TÀI CHÍNH CỦA NHÀ NƢỚC
VỚI TẬP ĐOÀN TÀI CHÍNH Ở VIỆT NAM ............................................................ 173

4.2.1. Hoàn thiện cơ chế quản lý huy động vốn của Nhà nƣớc với Tập đoàn Tài chính
....................................................................................................................... 173
4.2.2. Hoàn thiện cơ chế quản lý sử dụng vốn của Nhà nƣớc với Tập đoàn Tài chính
....................................................................................................................... 177
4.2.3. Hoàn thiện cơ chế quản lý doanh thu, chi phí và phân chia lợi nhuận của Nhà
nƣớc với Tập đoàn Tài chính ........................................................................... 179
4.2.4. Hoàn thiện cơ chế giám sát tài chính của Nhà nƣớc với Tập đoàn Tài chính ...... 181
4.2.5. Hoàn thiện mô hình quản lý tài chính của Nhà nƣớc với Tập đoàn Tài chính ..... 188
4.2.6. Nhóm giải pháp hỗ trợ .......................................................................... 198
4.3. ĐIỀU KIỆN THỰC HIỆN GIẢI PHÁP ............................................................ 208
KẾT LUẬN CHƢƠNG 4....................................................................................... 213

KẾT LUẬN ................................................................................................... 214
DANH MỤC CÔNG TRÌNH ĐÃ CÔNG BỐ CỦA TÁC GIẢ LIÊN
QUAN ĐẾN LUẬN ÁN
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC


vi

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
Agribank
ABC
APE
BKS
BIDV

Ban kiểm soát
Ngân hàng TMCP Đầu tƣ và Phát triển Việt Nam
Ngân hàng Trung ƣơng Philipines
Ngân hàng Trung Quốc
Công nghiệp hóa – Hiện đại hóa
Chủ sở hữu
Ủy ban điều tiết ngân hàng Trung Quốc
Ngân hàng Xây dựng Trung Quốc
Ngân hàng tín dụng Xuất nhập khẩu Trung Quốc
Ủy ban điều tiết bảo hiểm Trung Quốc
Ủy ban điều tiết chứng khoán Trung Quốc
Tập đoàn Đầu tƣ và Tín thác Quốc tế
Công ty chứng khoán
Doanh nghiệp Nhà nƣớc
Doanh nghiệp Bảo hiểm
Đảng Cộng sản Trung Quốc
Đại hội đồng cổ đông
Đề tài cấp Bộ
Đề tài cấp Viện
Ngân hàng Trung ƣơng Châu Âu
Cơ quan dịch vụ tài chính
Hội đồng quản lý hệ thống tài chính
Cơ quan lập pháp Châu Âu
Hội đồng quản trị
Ngân hàng Công thƣơng Trung Quốc
Kế hoạch
Kinh tế - xã hội
Luận án tiến sĩ




Ngân hàng Trung ƣơng Singapore
Mua bán, sáp nhập
Ngân hàng thƣơng mại
Ủy ban cải cách và phát triển Quốc gia
Ủy ban cải cách
Ngân sách Nhà nƣớc
Ngân hàng Nhân dân Trung Quốc
Ngân hàng Trung ƣơng Trung Quốc
Phó Tổng giám đốc
Quản lý tài chính
Quản lý và giám sát bảo hiểm
Tỷ suất lợi nhuận/ Tổng Tài sản
Tỷ suất lợi nhuận/ Vốn chủ sở hữu
Sản xuất kinh doanh
Tổng cục Quản lý ngoại hối Nhà nƣớc
Ủy ban quản lý, giám sát tài sản Nhà nƣớc Trung Quốc
Tổng công ty Đầu tƣ và Kinh doanh vốn Nhà nƣớc
Tập đoàn Kinh tế
Tập đoàn Tài chính
Trách nhiệm hữu hạn
Tổng Giám đốc
Thị trƣờng Chứng khoán
Ủy ban Giám sát tài chính Quốc gia
Ủy ban Chứng khoán
Ngân hàng TMCP Công thƣơng Việt Nam
Ngân hàng TMCP Ngoại thƣơng Việt Nam
Công ty Quản lý tài sản
Xã hội chủ nghĩa


Đồ thị 3.3. Tình hình đầu tƣ của TĐTC – Bảo hiểm Bảo Việt ................................ 129
Đồ thị 3.4. Khả năng thanh toán, Tỷ lệ an toàn vốn của TĐTC Bảo hiểm – Bảo Việt .. 133
Hình 3.1. Tình hình áp dụng Basel tại các quốc gia ..................................... 156
Sơ đồ 4.1. Mô hình quản lý tài chính của Nhà nƣớc đối với TĐTC............. 194
(thành lập một công ty đầu tƣ riêng trong lĩnh vực tài chính) ...................... 194
Sơ đồ 4.2: Mô hình quản lý tài chính của Nhà nƣớc đối với TĐTC ............ 195
(mở rộng lĩnh vực đầu tƣ và vai trò, chức năng của SCIC hiện tại) ............. 195


1

LỜI NÓI ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Ý tƣởng hình thành và phát triển Tập đoàn Tài chính (TĐTC) ở Việt
Nam đƣợc bắt đầu đồng thời với ý tƣởng phát triển tổng công ty lớn thành tập
đoàn kinh tế (TĐKT) từ Quyết định số 91/TTg ngày 7/3/1994 của Thủ tƣớng
Chính phủ. Cho đến Nghị quyết Trung ƣơng ba Khóa IX, chủ trƣơng hình
thành và phát triển TĐKT đã chính thức đƣợc đƣa ra “hình thành một số
TĐKT mạnh trên cơ sở các tổng công ty Nhà nƣớc, có sự tham gia của các
thành phần kinh tế”. Đây chính là tiền đề cho việc hình thành TĐTC với mô
hình thí điểm TĐTC – Bảo hiểm Bảo Việt theo Quyết định số 310/2005/QĐTTg ngày 28/11/2005 của Thủ tƣớng Chính phủ về việc phê duyệt Đề án cổ
phần hóa Tổng công ty Bảo hiểm Việt Nam và thí điểm thành lập TĐTC –
Bảo hiểm Bảo Việt.
Trong giai đoạn tái cơ cấu các Tổ chức tín dụngViệt Nam, các TĐTC
trong lĩnh vực ngân hàng cũng đã xuất hiện và có xu hƣớng phát triển mạnh.
Trong đó, tiên phong là các Ngân hàng thƣơng mại (NHTM) cổ phần Nhà
nƣớc.
Để quản lý tài chính (QLTC) đối với các TĐKT, Nhà nƣớc đã ban hành
cơ chế QLTC. Trong quá trình thực hiện, cơ chế này đã góp phần tách bạch
chức năng quản lý của chủ sở hữu, quản lý Nhà nƣớc và tăng cƣờng quyền tự

Đối tƣợng nghiên cứu là cơ chế QLTC của Nhà nƣớc đối với TĐTC.
4. Phạm vi nghiên cứu
- Nghiên cứu cơ chế QLTC của Nhà nƣớc với Tập đoàn Tài chính ở
Việt Nam, chủ yếu nghiên cứu đối với TĐTC do Nhà nƣớc nắm giữ cổ phần
chi phối, trong đó nghiên cứu chủ yếu với trƣờng hợp là TĐTC Bảo hiểm Bảo Việt (có so sánh với một số NHTM cổ phần Nhà nƣớc) để minh họa.
- Đề tài đƣợc nghiên cứu trên phƣơng diện Nhà nƣớc, xem xét các quy
định về cơ chế QLTC của Nhà nƣớc với các nội dung quản lý huy động vốn,


3

quản lý sử dụng vốn, quản lý doanh thu, chi phí và phân phối lợi nhuận, giám
sát tài chính; mô hình tổ chức quản lý của Nhà nƣớc. Cơ chế QLTC trong nội
bộ tập đoàn không phải là đối tƣợng nghiên cứu trong Luận án; các TĐTC
khác không thuộc phạm vi nghiên cứu của Luận án.
- Thời gian: nghiên cứu thực trạng trong giai đoạn 10 năm gần nhất
(2006 – 2016), trong đó số liệu lấy tập trung trong giai đoạn 05 năm (2012 –
2016).
5. Phƣơng pháp nghiên cứu
Trên cơ sở phƣơng pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng, duy
vật lịch sử trong quá trình thực hiện luận án, các phƣơng pháp nghiên cứu
đƣợc sử dụng: phƣơng pháp khái quát hóa, phƣơng pháp so sánh, phƣơng
pháp chuyên gia, để thu thập thông tin, tổng hợp thông tin và đánh giá các nội
dung về QLTC của Nhà nƣớc đối với TĐTC ở Việt Nam.
6. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn
Hệ thống hóa cơ sở lý luận về cơ chế QLTC của Nhà nƣớc với TĐTC;
đặc biệt phân tích đƣợc các nhân tố ảnh hƣởng tới cơ chế QLTC của Nhà
nƣớc làm phong phú thêm lý thuyết về cơ chế QLTC của Nhà nƣớc với
TĐTC. Về thực tiễn, đề tài nghiên cứu là sự mở đƣờng để vận dụng thành
công, đúng đắn lí luận về cơ chế QLTC vào thực tiễn nhằm hoàn thiện cơ chế

cung cấp các dịch vụ ngân hàng cơ bản cùng với các dịch vụ tài chính khác.
Nghiên cứu tập trung giải quyết vấn đề cơ chế hoạt động của ngân hàng ở Mỹ
phải đƣợc đặt trong bối cảnh cạnh tranh với các TĐTC.
- Năm 1995, Merton trong “A Functional Perspective of Financial
Intermediation” [128] đã đƣa ra lý thuyết về sự hình thành TĐTC. Ông nói
rằng các trung gian tài chính thực hiện chức năng phân bổ và triển khai các
nguồn lực kinh tế. Theo thời gian, phƣơng thức và tổ chức thực hiện các chức
năng này có thể thay để nâng cao hiệu quả kinh doanh. Trong đó, những thay
đổi rõ nét nhất là sự phát triển lý thuyết tài chính, đổi mới tài chính, đổi mới
công nghệ và tự do hóa cả trong và ngoài biên giới (Allen và Santomero,
1999 và Borio and Filosa, 1994).
- Năm 2000, Skipper đƣa ra ba cấu trúc cho các TĐTC trong nghiên
cứu “Financial Services Integration Worldwide: Promises and Pitfalls”
[137]. Đầu tiên là mô hình ngân hàng đa năng sở hữu các công ty con cung
cấp dịch vụ bảo hiểm và các dịch vụ tài chính khác. Ngân hàng toàn cầu đảm
nhận cả hoạt động NHTM và hoạt động chứng khoán. Mô hình thứ hai là mô


6

hình công ty mẹ hoạt động trong lĩnh vực bảo hiểm hoặc ngân hàng và sở hữu
các công ty con có vốn hóa riêng biệt hoạt động trong các dịch vụ tài chính
khác nhau. Mô hình thứ ba là cấu trúc công ty cổ phần, trong đó hoạt động
của một công ty mẹ nắm giữ giới hạn cổ phần. Mô hình ngân hàng đa năng
phổ biến ở châu Âu, trong khi mô hình công ty cổ phần phổ biến ở Mỹ và
Nhật Bản.
- Năm 2008, Li Guo trong nghiên cứu “Financial Conglomerates in
China: Legality, Model and Concerns” [131] đã đề cập đến khung pháp lý
và mô hình TĐTC ở Trung Quốc trong quá trình cổ phần hóa ngân hàng
thƣơng mại cổ phần Nhà nƣớc của Trung Quốc. Vấn đề nổi bật trong nghiên

dụng phù hợp và linh hoạt.
Một số nghiên cứu phân tích các xu hƣớng phát triển trong vài ba thập
kỷ gần đây nhƣ việc phát triển nhanh các định chế tài chính/ngân hàng đa
năng, các nƣớc đang phát triển ngày càng mở cửa thị trƣờng tài chính, luồng
vốn chuyển dịch ngƣợc từ các nƣớc đang phát triển sang các nƣớc phát triển
…. (chẳng hạn nghiên cứu của Beim David O. Và Charles W. Calomiris
(2001); Fabozzi Frank J. Và Franco Modigliani (2003) [105]; Eichengreen,
Barry (2004),...).
Các nghiên cứu trong nƣớc thời gian qua tập trung nhiều vào nghiên
cứu về mô hình TĐKT Nhà nƣớc ở Việt Nam nhằm đánh giá lại việc thí điểm
thành lập các TĐKT Nhà nƣớc trong giai đoạn trƣớc đó, cũng là thời điểm
Việt Nam mới tiếp cận với mô hình hoạt động của TĐKT không lâu nên vẫn
còn trong giai đoạn mới mẻ cần nghiên cứu. Mô hình TĐTC ở Việt Nam cũng
mới chỉ đƣợc nhắc đến thông qua các nghiên cứu cụ thể đối với các NHTM
cổ phần theo xu hƣớng mong muốn chuyển đổi sang hoạt động theo mô hình
TĐTC, hoặc các trƣờng hợp doanh nghiệp kinh doanh hai trong 3 lĩnh vực tài
chính. Cụ thể:
- Năm 2007, Đề tài luận án “Phân tích mô hình và cấu trúc Tập đoàn
Tài chính – ngân hàng, ứng dụng vào ngân hàng đầu tƣ và phát triển
Việt Nam trong quá trình chuyển đổi mô hình tổ chức” [16] của Hoàng


8

Xuân Thành đã đi phân tích các yêu tố chủ yếu của mô hình TĐTC – ngân
hàng và cấu trúc tổ chức của mô hình tập đoàn, để áp dụng cho BIDV trong
quá trình chuyển đổi mô hình tổ chức.
- Năm 2008, LATS của Nguyễn Đức Hƣởng, Học viện Ngân hàng
“Chuyển ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam
thành tập đoàn tài chính” [29] đã đi nghiên cứu cụ thể việc chuyển đổi mô

chuyên sâu khác nhau. Tuy nhiên, các nghiên cứu tập trung chủ yếu về giám
sát tài chính đối với TĐTC.
- Năm 1995, “The supervision of financial conglomerates” [139], của
Tripartite Group, tập trung nghiên cứu các vấn đề giám sát tài chính đặt ra cho
TĐTC hoạt động chủ yếu ít nhất trong hai lĩnh vực tài chính khác nhau mà
không nói đến các vấn đề giám sát phát sinh trong trƣờng hợp tập đoàn hỗn
hợp, cung cấp dịch vụ tài chính và phi tài chính. Báo cáo đƣa ra việc giám sát
hợp nhất và giám sát đơn lẻ theo ba lĩnh vực chính: giám sát liên quan đến an
toàn vốn đối với công ty mẹ; giám sát trách nhiệm của các doanh nghiệp
trong cùng một tập đoàn; quyền hạn trong giám sát xét trong cấu trúc tập đoàn
nhằm thu thập thông tin về cơ cấu quản lý, pháp lý, hạn chế sự ảnh hƣởng của
cấu trúc tập đoàn đến hoạt động giám sát. Báo cáo kết luận cần thiết phải có
sự phối hợp sâu trong giám sát giữa ngân hàng, bảo hiểm, chứng khoán. Cần
kết hợp giữa giám sát hợp nhất ngân hàng, chứng khoán, bảo hiểm với giám
sát đơn lẻ trong từng lĩnh vực.
- Năm 1997, Howell E. Jackson [116] cho thấy việc điều tiết của TĐTC
dạng Holding rất đa dạng và đƣợc quản lý bởi một số văn bản pháp lý, trong
đó tập trung vào 5 vấn đề: 1) đảm bảo khả năng thanh toán; 2) ngăn chặn sự
phá vỡ hệ thống; 3) ngăn chặn cạnh tranh không lành mạnh nhằm bảo vệ sự
cạnh tranh trong tín dụng và thị trƣờng vốn; 4) định mức về tái phân phối; và
5) sử dụng quy chế tài chính thông qua hệ thống pháp lý để nhằm thực hiện
các mục tiêu chính trị, nhƣ các quy định hạn chế sở hữu nƣớc ngoài đối với
doanh nghiệp trong nƣớc hoặc mở rộng phạm vi của ngân hàng đô thị tại khu
vực nông thôn. Nghiên cứu “The Regulation of Financial Holding


10

Companies – Entry for New Palgrave Dictionary of Law and Economics”
cũng đƣa ra một số quy định đối với TĐTC nhƣ quy định về khả năng thanh

rằng thẩm quyền chi phối cấu trúc TĐTC phụ thuộc vào từng quốc gia, bao
gồm Luật và khung pháp lý hiện hành đối với các định chế tài chính.
- Năm 2002, Milo Melanie đã nghiên cứu về mô hình giám sát của
Philippines trong “Financial Services Intergration and Consolidated
Supervision: Some issues to Consider for the Philippines” [129]. Các
TĐTC chiếm ƣu thế trong nƣớc đặc biệt với sự xuất hiện của ngân hàng toàn
cầu vào đầu những năm 1980. Tuy nhiên, khuôn khổ pháp lý quy định đối với
dịch vụ tài chính trong nƣớc vẫn dựa trên phƣơng pháp tiếp cận truyền thống.
Trách nhiệm giám sát đƣợc chia sẻ bởi ba cơ quan giám sát đƣợc ngân hàng


11

trung ƣơng Philippines ủy thác giám sát đối với các ngân hàng. Phƣơng thức
này không giải quyết đƣợc triệt để rủi ro của các tập đoàn. Một mặt, có thể có
các công ty không đƣợc giám sát hiệu quả. Mặt khác, việc chia sẻ trách nhiệm
giám sát giữa nhiều cơ quan có thể dẫn đến không phân định đƣợc trách
nhiệm cuối cùng trong quá trình giám sát.
Một số các nghiên cứu khác cũng có cách tiếp cận về giám sát tài chính
với mức độ chuyên sâu khác nhau qua kinh nghiệm các nƣớc trong giai đoạn
từ 2002 đến 2007, nhƣ: Naoyuki Yoshino, Koichi Suzuki, Kazutomo Abe,
Masatoshi Kuhara (2007) (các nƣớc Đông Á), Melanie S. Milo (2007),
Gruson Michael (2004) (về EU); Cho Yoon Je (2002) (về Hàn Quốc),…
- Năm 2003, Fabozzi và cộng sự trong cuốn “Foundations of
Financial Markets and Institutions” [105] xuất bản lần thứ 4 đã mô tả các
hoạt động đầu tƣ tài chính, hoạt động tài trợ và kiểm soát rủi ro tài chính.
Nghiên cứu chỉ ra rằng, mỗi loại QLTC đều nhằm hạn chế rủi ro cho ngƣời đi
vay, ngân hàng và nhà đầu tƣ, cũng nhƣ trách nhiệm của nhà nƣớc trong việc
quản lý tài sản khi liên tục có sự biến động về lãi suất, giá tài sản, các ràng
buộc pháp lý, tình hình cạnh tranh quốc tế và các cơ hội. Cuốn sách dành một

hiểm. Trong phần cấu trúc TĐTC, nghiên cứu cho thấy cơ cấu tài chính của
TĐTC đang đƣợc quản lý hoàn toàn độc lập thông qua các văn bản quy phạm
chuyên ngành, với các cơ quan quản lý khác nhau. Cơ chế này đƣợc thực hiện
từ những năm 1990. Nghiên cứu cũng chỉ ra rằng, Trung Quốc chƣa có cơ chế
riêng cho TĐTC, đặc biệt trong giám sát TĐTC. Thậm chí, hoạt động theo mô
hình TĐTC còn bị cấm trong quy định trong các Luật Ngân hàng Thƣơng
mại, Luật Bảo hiểm (1995) và Luật Chứng khoán (1998). Nghiên cứu cũng
khẳng định: những hạn chế trong các quy định pháp lý cần phải đƣợc sửa đổi,
hoàn thiện và bổ sung để có thể quản lý, giám sát mọi hoạt động của TĐTC.
- Năm 2014, “Consolidated Supervision of Banks and Financial
Conglomerates: A handbook for Financial Regulators and Supervisors”
của Victor Ekpu [143] là cuốn cẩm nang hƣớng dẫn trong thành lập, quản lý,
giám sát, điều tiết các ngân hàng và các TĐTC trên cơ sở hợp nhất để quản lý.


13

Cẩm nang nhấn mạnh đến vấn đề định lƣợng về quy chế tài chính quốc tế,
giám sát của các ngân hàng và các TĐTC. Cuốn cẩm nang cũng đƣa ra một số
trƣờng hợp nghiên cứu, một số ví dụ từ các nhóm tài chính và khu vực pháp
lý đƣợc quy định ở các nƣớc.
- Năm 2015, trong nghiên cứu “Interconnectedness of Financial
Conglomerates”, Gael Hauton và Jean Cyprien Hesam [109] đã xem xét mối
liên kết tự nguyện trong hoạt động giữa các doanh nghiệp bảo hiểm, ngân
hàng và sự hình thành các TĐTC, đồng thời đi xem xét sự khác biệt giữa một
doanh nghiệp hoạt động chuyên ngành bảo hiểm, ngân hàng thuần túy với
doanh nghiệp bảo hiểm, ngân hàng thuộc TĐTC. Nghiên cứu chỉ ra rằng, đối
với các rủi ro nhỏ, TĐTC sẽ mang lại mức độ an toàn cao hơn; nhƣng với các
rủi ro lớn mang tính dây truyền sẽ mang đến sự đổ vỡ nghiêm trọng cho
TĐTC. Do đó, việc giám sát và QLTC đối với TĐTC đóng một vai trò đặc

nhiều thành phần theo chủ trƣơng của Đảng. Trong giai đoạn 2000 – 2010,
đồng thời với cổ phần hóa, sắp xếp đổi mới các DNNN, chuyển đổi DNNN
sang hoạt động theo các loại hình doanh nghiệp mới ở Việt Nam. Do đó,
trong giai đoạn chuyển đổi cải cách, các vấn đề về cơ chế QLTC của Nhà
nƣớc cần phải đƣợc hoàn thiện và xây dựng cơ chế quản lý cho loại hình
doanh nghiệp mới, đặc biệt là mô hình TĐKT. Các tác giả Phạm Quang
Trung (2000) [55], Bùi Văn Vần (2002) [3], PGS.TS. Thái Bá Cẩn (2003)
[66], PGS.TS. Nguyễn Đăng Nam (2004), Trịnh Thanh Huyền (2004) [82],
Phùng Thế Tính (2008) [56], Ngô Văn Khoa (2009), Nguyễn Đăng Quế
(2009) [39],… đã nghiên cứu vấn đề này ở nhiều khía cạnh khác nhau, từ
nghiên cứu kinh nghiệm quốc tế và rút ra bài học cho Việt Nam đến việc đánh
giá thực trạng cơ chế QLTC hiện tại và đề xuất giải pháp hoàn thiện theo mô
hình mới, cũng nhƣ đi nghiên cứu cơ chế QLTC của Nhà nƣớc đối với mô
hình TĐKT khi vận dụng vào Việt Nam.
- Giai đoạn tái cơ cấu DNNN tập trung vào các TĐKT, Tổng công ty
Nhà nƣớc, các nghiên cứu tập trung vào hoàn thiện cơ chế QLTC để nâng cao
năng lực cạnh tranh của các TĐKT Nhà nƣớc (nghiên cứu của Vũ Anh Tuấn,


15

2012), hay nghiên cứu chuyên sâu hơn về vốn của Nhà nƣớc trong các doanh
nghiệp theo quan điểm chuyển từ quản lý tài sản, theo hình thức mệnh lệnh,
tuân thủ sang quản lý vốn trên cơ sở nâng cao năng lực quản trị doanh nghiệp,
tạo tính chủ động trong các quyết định kinh doanh của ngƣời quản lý doanh
nghiệp. Các nghiên cứu theo hƣớng này có Phạm Thị Thanh Hòa (2012), Trần
Xuân Long (2014), PGS.TS. Bùi Văn Vần & ThS. Đặng Quyết Tiến (2015)
[10],…
- Một xu hƣớng nghiên cứu khác về cơ chế QLTC từ phía các doanh
nghiệp khi các DNNN lớn, các Tổng công ty Nhà nƣớc chuẩn bị thực hiện

những đặc trƣng riêng về vốn, dự phòng nghiệp vụ, khả năng thanh toán, hoạt
động đầu tƣ, tái bảo hiểm. Từ việc nêu ra phƣơng thức giám sát TĐTC, đề tài
cũng nêu đƣợc những nguyên tắc cơ bản trong giám sát TĐTC của OECD,
Basel. Trong nghiên cứu thực trạng, đề tài đã đề cập đến công tác quản lý Nhà
nƣớc (ban hành chính sách, cấp phép, quản lý giám sát, thanh tra) đối với thị
trƣờng tài chính Việt Nam. Từ đó, chỉ ra một số hạn chế trong hoạt động giám
sát thị trƣờng tài chính và dự báo những rủi ro đối với hoạt động đa năng của
các tập đoàn nói chung và đối với tập đoàn, doanh nghiệp cung cấp dịch vụ
tài chính có kinh doanh bảo hiểm nói riêng để kiến nghị một số giải pháp nhƣ:
hoàn thiện phƣơng thức giám sát, hoàn thiện hệ thống pháp luật và tăng
cƣờng năng lực giám sát của cơ quan quản lý Nhà nƣớc nhằm quản lý giám
sát các tập đoàn, doanh nghiệp cung cấp dịch vụ tài chính có kinh doanh bảo
hiểm.
- Nghiên cứu gần đây nhất về giám sát tổng thể TĐTC trên phƣơng
diện kinh nghiệm các nƣớc, năm 2015, Đề tài cấp Bộ của tác giả Hoàng Văn
Thành “Giám sát Tập đoàn Tài chính, kinh nghiệm quốc tế và bài học cho
Việt Nam” [17] đã góp phần xây dựng cơ sở pháp lý ban đầu cho giám sát
các TĐTC ở Việt Nam. Đề tài đã tổng hợp các tiêu chí đánh giá TĐTC theo 3
nhóm: Quản trị; Sự lành mạnh về tài chính (tình trạng đủ vốn, hệ thống quản
lý rủi ro về tín dụng, rủi ro thanh khoản, rủi ro thị trƣờng,..); và tự tƣơng
đƣơng của Giám sát Tập đoàn của các Tổ chức giám sát nƣớc ngoài. Dựa trên



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status