CHƯƠNG 19
ĐẠI CƯƠNG VỀ MÁY ĐIỆN ĐỒNG BỘ
19-1. NGUYÊN LÝ LÀM VIỆC
CỦA MÁY ĐIỆN ĐỒNG BỘ
Trong máy điện đồng bộ, thường cực từ đặt ở rôto, còn dây quấn
phần ứng được đặt trên phần tĩnh (stato) gồm ba cuộn dây đặt lệch
nhau trong không gian 120
0
góc độ điện, đấu thành hình sao (Y) hay
tam giác (Δ) như ở hình 19-1.
Cũng giống như các máy điện quay khác, máy điện đồng bộ cũng
có tính chất thuận nghịch: có thể làm việc ở chế độ máy phát hợc chế
độ động cơ điện.
n
a)
b)
n
Hình 19-1. Sơ đồ nguyên lý của máy điện đồng bộ ba pha.
a) Đấu hình sao Y; b) Đấu tam giác Δ
19.1.1. Nguyên lý làm việc của máy phát điện đồng bộ
Khi động cơ sơ cấp quay rôto máy phát với tốc độ định mức,
đồng thời cho dòng điện một chiều vào dây quấn rôto (dây quấn
kích thích), rôto trở thành nam châm điện, từ trường của rôto quét
qua các thanh dẫn của dây quấn stato và cảm ứng nên trong chúng
các s.đ.đ. xoay chiều.
Tần số của s.đ.đ. cảm ứng là:
trong đó n là tốc độ quay của rôto, p là số đôi cực của máy.
)119(
tốc độ từ trường quay, vì vậy máy được gọi là máy điện đồng bộ.
)219(
60
1
−=
p
f
n
19.1.2. Nguyên lý lầm việc của động cơ điện đồng bộ.
Cho dòng điện ba pha i
A
, i
B
, i
C
vào dây quấn ba
pha của stato, dòng điện ba pha sẽ sinh ra từ
trường quay với tốc độ n
1
= 60f
1
/p.
Ta hình dung từ trường quay stato như một
nam châm có hai cực đang quay với tốc độ n
1
(hình 19-2).
Đồng thời cho dòng điện một chiều vào dây
quấn rôto, rôto trở thành một nam châm điện.