NHIỄM KHUẨN DO NÃO MÔ CẦU
PGS.TS Trịnh Thị Minh Liên
MỤC TIÊU HỌC TẬP
Sau khi học xong bài này, người học phải có khả năng:
1. Trình bày các biểu hiện lâm sàng của nhiễm khuẩn não mô cầu
2. Chẩn đoán được nhiễm khuẩn do não mô cầu
3. Điều trị được nhiễm khuẩn do não mô cầu
NỘI DUNG
1. Đại cương
- Nhiễm khuẩn do não mô cầu là một bệnh lây theo đường hô hấp.
- Tác nhân gây bệnh là não mô cầu (còn gọi là màng não cầu) có thể gây trên
người nhiều bệnh cảnh khác nhau tại nhiều cơ quan với nhiều thể lâm sàng từ
nhẹ như viêm mũi họng đến nặng như nhiễm khuẩn huyết, sốc nhiễm khuẩn,
nhưng thường gặp và quan trọng hơn cả là hai thể bệnh viêm màng não mủ và
nhiễm khuẩn huyết, trong đó thể nhiễm khuẩn huyết tối cấp có thể gây tử
vong rất nhanh chóng, ngay cả với những trường hợp đã điều trị tích cực.
- Bệnh có thể tiềm tàng ở những ổ dịch nhỏ hoặc gây những vụ dịch lớn.
- Mặc dù ngày nay đã có rất nhiều tiến bộ với những hiểu biết về cơ chế bệnh
sinh cũng như đã sản xuất được văcxin phòng chống được vài týp huyết thanh
não mô cầu gây bệnh, nhiễm khuẩn do não mô cầu vẫn còn là vấn đề quan
trọng của y tế cộng đồng.
2. Tác nhân gây bệnh:
- Não mô cầu là cầu khuẩn Gram âm, kích thước thay đổi, dạng song cầu hình
hạt cà phê, đứng riêng lẻ hoặc thành từng nhóm nhỏ, có thể nằm trong hoặc
nằm ngoài bạch cầu đa nhân.
- Vi khuẩn rất dễ chết trong dịch não tuỷ, chỉ sống khoảng 3-4 giờ sau khi ra
khỏi cơ thể, dễ bị tiêu diệt bởi nhiệt độ (55°C trong 30 phút, 60°C trong 10
phút), nhiệt độ lạnh ít bị ảnh hưởng, có thể tồn tại ở -20°C.
- Vi khuẩn không có ngoại độc tố. Nội độc tố vững bền với nhiệt độ, thuộc
lớp bề mặt của vách tế bào.
- Những polyosit của vỏ vi khuẩn làm thành những cấu trúc sinh hoá khác
sốc nội độc tố.
5. Giải phẫu bệnh lý:
- Viêm cơ tim, phù phổi và tràn dịch màng phổi gặp khoảng 70-80% trường
hợp. Viêm màng não gặp 65-70%.
- Thể tối cấp: tiến triển quá nhanh nên chưa xuất hiện mủ. Mở hộp sọ thấy
màng não mềm, đỏ ối, sung huyết rất nặng. Qua kính hiển vi thấy nhiều bạch
cầu đa nhân quanh các huyết quản giãn rộng.
- Thể cấp tính thông thường: màng cứng đỏ, sung huyết, mất độ nhẵn, phù,
lởm chởm màng mủ (có thể dày hoặc mỏng). Đỉnh và đáy não đều có mủ, các
não thất ít khi lành. Khi bệnh nhẹ, não thất chứa nước đục; trong trường hợp
nặng, não thất chứa đầy mủ làm não thất giãn rộng. Màng mềm ít bị tổn
thương, chủ yếu là viêm màng nhện có mủ và tổ chức thần kinh nằm dưới
bình thường.
- Thể kéo dài: ít gặp hơn các thể trên. Màng não tuỷ dầy lên và trắng. Viêm
chủ yếu ở đáy sọ. Tổn thương kéo dài gây vách hoá, não thất không thông với
khoang dưới nhện.
2
6. Lâm sàng
6.1. Viêm họng do não mô cầu:
- Viêm họng do não mô cầu khó chẩn đoán vì phân lập được vi khuẩn từ họng
cũng không xác định được đó chính là nguyên nhân gây bệnh vì phần lớn
người mang não mô cầu ở mũi họng là người lành mang khuẩn. Tuy nhiên khi
bệnh xảy ra hàng loạt trong thời gian có dịch, phải lưu ý tới các trường hợp
viêm họng do não mô cầu, đa số họ không có triệu chứng lâm sàng rõ hoặc
chỉ sổ mũi, viêm họng đỏ mà không sưng a-mi-đan và không sưng hạch cổ.
6.2. Nhiễm khuẩn huyết do não mô cầu:
6.2.1. Nhiễm khuẩn huyết thể cấp:
- Có thể kèm theo viêm màng não mủ hoặc không (chiếm 30%). Cần phải xét
nghiệm dịch não tuỷ các bệnh nhân nhiễm khuẩn huyết do não mô cầu để phát
hiện kịp thời thể phối hợp.
các biểu hiện biến chứng ở các cơ quan khác.
6.3. Viêm màng não do não mô cầu
- Thường gặp thể tiên phát ở trẻ từ 6 tháng đến 1 tuổi và ở thanh thiếu niên.
- Thời kỳ nung bệnh: ngắn, từ 2-5 ngày, triệu chứng thường chưa có gì rõ.
- Thời kỳ khởi phát đột ngột. Sốt 39-40
0
C kèm rét run, đau đầu, buồn nôn,
đau khắp mình mẩy. Giai đoạn này có thể thấy viêm mũi họng nhưng phải lưu
ý đến những dấu hiệu của hội chứng màng não: cứng gáy, dấu Kernig, dấu
Brudzinski... và nếu như các dấu hiệu này khó thấy cũng phải đặt ra vấn đề
cần thiết chọc dịch não tuỷ. Khi đó sẽ thấy dịch não tuỷ đục hướng tới mủ và
có tăng áp lực, mặc dù vẫn có thể trong. Dù sao vẫn phải nuôi cấy có hệ
thống.
- Thời kỳ toàn phát: có hội chứng màng não rõ, đau đầu dữ dội, sợ ánh sáng,
sợ tiếng động, đau rễ thần kinh và co cứng cơ (tư thế “cò súng”). Thăm khám
thực thể thấy các triệu chứng rõ và đầy đủ của hội chứng màng não. Bệnh
nhân có tăng cảm giác da, rối loạn tinh thần kinh nhiều hay ít, thể hiện có mất
ngủ, đờ đẫn, có thể tới hôn mê, kích thích hoặc li bì, thờ ơ. Hội chứng nhiễm
trùng rõ, sốt cao, cơn nhịp nhanh kịch phát. Ngoài ra còn thấy nốt phỏng kiểu
herpes ở vùng mũi quanh miệng, hồng ban, ban xuất huyết dạng chấm có giá
trị cao trong chẩn đoán. Chọc dò tuỷ sống nước não tuỷ đục, tăng áp lực,
albumin có thể tăng từ 0,8 đến 1-2 g/l, glucose hạ, có khi còn vết, tế bào tăng
chủ yếu là bạch cầu đa nhân.
- Viêm màng não mủ ở trẻ nhũ nhi thường nặng, triệu chứng không điển hình
và thường có các biến chứng thần kinh.
- Ở người già: hiếm gặp, thường phức tạp bởi các dấu hiệu thần kinh: liệt thần
kinh sọ, hôn mê nhanh chóng , sốt. Thường có biểu hiện kết hợp: suy thận, đái
tháo đường, suy tim, viêm phổi là những nguyên nhân gây tử vong ở người
già ngay cả trong trường hợp tiến triển tốt về mặt vi khuẩn học dưới sự điều
trị kháng sinh.
lúc đầu có mủ, sau thì trong. Điều trị kháng sinh không có kết quả mà sự tiến
triển của viêm khớp này đáp ứng tốt với thuốc chống viêm không đặc hiệu.
6.4.2. Những biểu hiện ở tim:
- Viêm ngoại tâm mạc có nhiễm trùng, có thể là tiên phát và riêng biệt. Trên
lâm sàng thấy biểu hiện chèn ép tim, thay đổi điện tâm đồ. Có khi phải đặt
ống thông dẫn lưu cấp cứu.
- Viêm ngoại tâm mạc không nhiễm trùng thì hiếm hơn.
- Viêm nội tâm mạc do não mô cầu là hình ảnh cổ điển của thời kỳ trước khi
có kháng sinh.
6.4.3. Những biểu hiện ở da:
- Ngoài biểu hiện ban, mảng xuất huyết của tử ban còn thấy nhiều biểu hiện
trên da trong quá trình viêm màng não do não mô cầu.
6.4.4. Những tổn thương ở phổi
- Viêm phổi do não mô cầu thường thấy ở thời kỳ trước khi có kháng sinh,
nay hiếm gặp.
- Phù phổi là ngoại lệ ngoài trường hợp có tử ban. Quá trình sinh bệnh học
của phù phổi này còn đang gây tranh cãi: có sự rối loạn tính thấm thành mạch
5