1
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan: Bản luận văn này là công trình nghiên cứu thực sự của cá
nhân, được thực hiện trên cơ sở nghiên cứu lý thuyết, những kiến thức đã thu thập
được qua quá trình học tập, tình hình thực tiễn tại Công ty TNHH xây dựng Quỳnh
Trang và dưới sự hướng dẫn tận tình của PGS.TS Lê Thị Thanh Hải. Những số liệu,
bảng biểu và kết quả được phản ánh trong luận văn là trung thực và thực tế phát
sinh tại đơn vị mà em tiến hành nghiên cứu.
Em xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, ngày 15 tháng 5 năm 2018
Tác giả
Nguyễn Hải Anh
2
LỜI CẢM ƠN
Đầu Tiên tác giả xin gửi lời ơn sâu sắc tới Ban lãnh đạo Trường Đại học
Thương Mại, Khoa Sau đại học, các thầy giáo, cô giáo của trường đã đào tạo, bồi
dưỡng những kiến thức lý luận và phương pháp nghiên cứu để tác giảthực hiện luận
văn này.
Tác giả xin được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới Giảng viên PGS.TS Lê Thị
Thanh Hải, người thầy đã tận tình hướng dẫn, chỉ báo giúp đỡ tác giảtrong suốt quá
trình thực hiện và hoàn chỉnh luận văn. Tác giả xin được gửi lời chúc chân thành, sự
biết ơn và trân trọng tới các thầy, cô giáo trong Hội đồng bảo vệ luận văn đã chỉ
dẫn, bổ sung những ý kiến quý báu giúp tác giả nhận thức sâu sắc hơn nội dung
nghiên cứu.
Tác giả xin chân thành cảm ơn các nhà quản lý, các cán bộ nhân viên của
Công ty TNHH Quỳnh Trang đã tạo điều kiện cung cấp cho tác giả những số liệu và
trong doanh nghiệp xây lắp.....................................................................................21
1.3.1. Yêu cầu quản lý chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm trong doanh nghiệp
xây lắp.
................................................................................................................ 21
1.3.2. Nhiệm vụ kế toán chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm trong doanh nghiệp
xây lắp..................................................................................................................... 22
4
1.4. Kế toán chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm trong Doanh nghiệp xây lắp
trên phương diện kế toán tài chính..........................................................................23
1.4.1. Nguyên tắc và quy định kế toán chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm trong
Doanh nghiệp xây lắp..............................................................................................23
1.4.2. Kế toán chi phí sản xuất xây lắp trong Doanh nghiệp xây lắp.......................26
1.4.3. Đánh giá sản phẩm xây lắp dở dang cuối kì.................................................37
1.4.4. Tính giá thành sản phẩm xây lắp..................................................................40
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG KẾ TOÁN CHI PHÍ SẢN XUẤT VÀ TÍNH GIÁ
THÀNH SẢN PHẨM TẠI CÔNG TY TNHH XÂY DỰNG QUỲNH TRANG.. . .52
2.1. Khái quát về công ty TNHH Xây Dựng Quỳnh Trang......................................52
2.1.1. Quá trình hình thành và phát triển của công ty.............................................52
2.1.2. Đặc điểm tổ chức hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty......................54
2.1.3. Tổ chức bộ máy quản lý tại công ty...............................................................56
2.2. Thực trạng kế toán chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm trong doanh nghiệp xây
lắp trên phương diện kế toán tài chính công ty TNHH Xây Dựng Quỳnh Trang...........61
2.2.1. Thực trạng vận dụng các nguyên tắc và quy định kế toántại công ty TNHH
Xây Dựng Quỳnh Trang ..........................................................................................61
2.2.2. Thực trạng phương pháp kế toán chi phí sản xuất xây lắp tại công ty TNHH
3.5. Điều kiện thực hiện giải pháp.........................................................................105
3.5.1. Về phía Nhà Nước và các cơ quan chức năng.............................................105
3.5.2. Về phía doanh nghiệp..................................................................................105
3.6. Hạn chế của Luận văn....................................................................................106
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
6
DANH MỤC TỪ VIẾT TĂT
STT
1
Từ viết tắt
BHXH
Nghĩa
Bảo hiểm xã hội
2
3
4
5
6
7
8
9
10
11
Bảo hiểm y tế
Bảo hiểm thất nghiệp
Nhà Nước
Tài sản cố định
Công cụ dụng cụ
Chi phí sản xuất
Tài khoản
Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp
Chi phí nhân công trực tiếp
Chi phí sử dụng máy thi công
Nguyên vật liệu
Khối lượng xây lắp
Giá trị gia tăng
Công trình
Chi phí sản xuất kinh doanh
Đơn vị tính
Kết chuyển
Sản phẩm
Nhà quản trị
7
DANH MỤC SƠ ĐỒ, BẢNG BIỂU
STT
1
2
3
4
36
37
7
8
9
Sơ đồ 07
Sơ đồ 08
Sơ đồ 09
phẩm xây lắp
Quy trình sản xuất kinh doanh của công ty
Sơ đồ tổ chức bộ máy của công ty
Bộ máy kế toán của công ty
55
56
58
10
Bảng 2.1
Phân tích chênh lệch chi phí nguyên vật liệu trực tiếp
85
Bảng 2.2
Bảng 2.3
Hạch toán kinh tế là một phạm trù kinh tế khách quan gắn liền với quan hệ
hàng hoá - tiền tệ, là một phương pháp quản lý kinh tế, đồng thời là một yếu tố
khách quan. Đặc biệt, trong điều kiện nền kinh tế nước ta đang phát triển theo cơ
chế thị trường thì hoạt động kinh doanh phải có lãi, lấy thu nhập để bù đắp chi phí.
Song trên thực tế, tỷ lệ thất thoát vốn đầu tư xây dựng cơ bản còn tương đối cao do
chưa quản lý tốt chi phí sản xuất. Vì thế, ngoài vấn đề quan tâm chính như ký được
các hợp đồng xây dựng, doanh nghiệp còn phải quan tâm đến vấn đề hạ thấp chi phí
sản xuất đến mức cần thiết nhằm hạ giá thành sản phẩm xây lắp trong quá trình kinh
doanh, tất nhiên doanh nghiệp phải thông qua công tác kế toán - một công cụ có
hiệu quả nhất trong quản lý kinh tế. Trong đó, kế toán tập hợp chi phí sản xuất và
tính giá thành sản phẩm xây lắp luôn được xác định là khâu trọng tâm của công tác
kế toán trong doanh nghiệp xây dựng.
Mặt khác, trong các doanh nghiệp xây dựng, giá thành sản phẩm xây lắp là chỉ
tiêu chất lượng quan trọng trong kinh doanh, qua chỉ tiêu này có thể đánh giá được
trình độ quản lý kinh doanh, tình hình sử dụng vốn của doanh nghiệp. Quản lý tốt
giá thành sản phẩm xây lắp nhằm phấn đấu hạ thấp chi phí, nâng cao hiệu quả kinh
doanh là nhiệm vụ hàng đầu của các doanh nghiệp xây dựng.Bởi vậy giá thành sản
phẩm xây lắp và lợi nhuận là các chỉ tiêu có quan hệ xây dựng, tỷ lệ nghịch với
nhau, ảnh hưởng trực tiếp đến kết quả kinh doanh của doanh nghiệp.
2
Nếu tổ chức các vấn đề khác tốt mà thiếu đi việc tổ chức kế toán tập hợp chi
phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm xây lắp khoa học, hợp lý thì hoạt động kinh
doanh của doanh nghiệp khó có thê đạt hiệu quả cao được.Chính vì vậy, việc hoàn
thiện kế toán tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm xây lắp có ý nghĩa
hết sức quan trọng đối với doanh nghiệp xây dựng.
Nhận thức được vấn đề nêu trên, quá trình thực tập tại Công ty TNHH Xây
Dựng Quỳnh Trang, được sự giúp đỡ nhiệt tình của các cô các chú trong phòng Kế
doanh nghiệp xây dựng dân dụng trong điều kiện hiện nay chưa đáp ứng được yêu
cầu mới, từ đó luận án phân tích và đưa ra một số ý kiến đề xuất nhằm hoànthiện
công tác kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm trong các doanhnghiệp
xây dựng dân dụng ở Việt Nam.
Bên cạnh đó, có thể kế đến, tác giả Nguyễn Thị Thu Hương với đề tài luận văn
“Kế toán chi phí và tính giá thành công trình tại Công ty Cổ phần xây lắp đường
ống bể chứa dầu khí” năm 2014. Luận văn đã tìm hiểu, phân tích và đánh giá thực
trạng kế toán chi phí sản xuấtvà tính giá thành sản phẩm xây lắp tại công ty khảo
sát. Đặc điểm nổi bật của luận văn mà các luận văn khác chưa làm được là trong
chương 1, tác giả đã đưa các lý luận rất chi tiết, cụ thể về kế toán quản trị chi phí và
tính giá thành sản phẩm. Tuy nhiên, trong chương 2 phần thực trạng tác giả lại
không nêu tại công ty đó có thực hiện công tác kế toán quản trị về kế toán chi phí và
tính giá thành sản phẩm không, nếu có thực hiện thế nào? Trong đó phần lý luận
chung tác giả đã viết rất chi tiết vềkế toán quản trị chi phí và tính giá thành sản
phẩm. Đây cũng là điểm hạn chế của đề tài này.
Ngoài ra, trong năm 2015, tác giả Trịnh Thị Kim Tiến với đề tài “Kế toán chi
phí và tính giá thành sản phẩm xây lắp tại công ty TNHH MTV ứng dụng công
nghệ mới và du lịch” Luận văn đã bám sát các chuẩn mực, chế độ, giáo trình khi
nghiên cứu nên đãhệ thống hóa và làm sáng tỏ những vấn đề chung nhất về kế toán
tập hợp chi phí vàtính giá thành sản phẩm trong doanh nghiệp xây lắp nói chung và
tại công ty khảo sát nói riêng. Tác giả cũng đã phân tích, đánh giá thực trạng kế toán
chi phí và tính giá thành sản phẩm xây lắp và đưa ra các giải pháp rất cụ thể về kế
toán chi phí vàtính giá thành sản phẩm.Tuy nhiên, hướng nghiên cứu của luận văn
mang tính chất lý luận hơn thực tiễn. Theo tác giả, trong quá trình nghiên cứu và
trình bày luận văn của mình, tác giả không tách biệt góc độ nghiên cứu là kế toán tài
4
chính hay kế toán quản trị mà công việc kếtoán quản trị và kế toán tài chính được
5
- Về phương pháp hạch toán chi phí trong doanh nghiệp xây lắp: Giáo trình
này đã xác định phương pháp hạch toán chi phí bao gồm: phương pháp hạch toánchi
phí theo sản phẩm, theo đơn đặt hàng, theo nhóm sản phẩm, theo giai đoạn công
nghệ... Mỗi phương pháp hạch toán chi phí ứng với một loại đối tượng hạch toánchi
phí.
- Về hạch toán chi phí trong các doanh nghiệp xây lắp: giáo trình cho rằng tuỳ
thuộc và đặc điểm kinh doanh của doanh nghiệp, vào yêu cầu của công tác quản lý
và trình độ của cán bộ kế toán cũng như vào quy định của chế độ kế toán hiện
hành,việc hạch toán chi phí sản xuất có thể tiến hành theo phương pháp kê khai
thường xuyên hoặc phương pháp kiểm kê định kỳ
Nhìn chung các công trình nghiên cứu trong lĩnh vực kế toán chi phí sản xuất
và tính giá thành sản phẩm đã có cách nhìn tương đối toàn diện dưới nhiều góc độ
khác nhau. Tuy rằng đây không còn là một đề tài mới nhưng em vẫn mạnh dạn lựa
chọn nó làm đề tài nghiên cứu với hy vọng sẽ đưa ra một hướng tiếp cận mới thông
qua quá trình đi sâu, tìm tòi những vấn đề cụ thể nhất, mang tính trực quan kết hợp
khách quan, gắn với thực tiễn tại một doanh nghiệp cụ thể. Hy vọng rằng đề tài với
cách nhìn nhận này sẽ góp phần nâng cao được hoạt động quản lý kế toán chi phí
sản xuất kinh doanh và tính giá thành sản phẩm trong doanh nghiệp cũng như đưa
ra các hướng phát triển cao hơn, toàn diện hơn cho các doanh nghiệp về vấn đề này.
3. Mục tiêu nghiên cứu đề tài:
- Mục tiêu lý luận:
Nghiên cứu đề tài kế toán chi phí sản xuất, tính giá thành sản phẩm xây lắp tại
các doanh nghiệp xây dựng nói chung nhằm mục tiêu hệ thống hóa và làm rõ những
vấn đề chung về kế toán chi phí sản xuất, tính giá thành sản phẩm xây lắp theo quy
định của chế độ kế toán Việt Nam hiện hành, quy định chung của các chuẩn mực kế
toán Việt Nam đã công bố có liên quan tới đề tài.
- Mục tiêu thực tiễn:
Nghiên cứu đề tài kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm xây lắp
không đi nghiên cứu về công tác kế toán chi phí sản xuất trong doanh nghiệp, tác
giả nghiên cứu về công tác kế toán chi phí sản xuất trong doanh nghiệp, tác giả
nghiên cứu các quy định, chuẩn mực kế toán, chế độ kế toán dành cho doanh nghiệp
xây lắp, tham khảo các công trình nghiên cứu khoa học, tra cứu các văn bản pháp
7
luật, các bài viết về kinh tế, xã hội…Sau đó tìm ra vấn đề mới mà công trình nghiên
cứu khoa học chưa đề cập, lựa chọn những thông tin hữu ích để bổ sung, làm rõ
luận văn.
+ Phương pháp quan sát: Nhằm tiếp cận trực tiếp, theo dõi các hoạt động, thao
tác làm việc của cán bộ, nhân viên trong công ty để có thể hiểu tường tận quy trình
kế toán chi phí xây dựng tại DN. Tác giả sử dụng phương pháp quan sát trong việc
quan sát quy trình sản xuất, cách thức tổ chức, quản lý tại Công ty. Cụ thể: tác giả
đến điều tra tại công trình doanh nghiệp khảo sát công trình đang thi công, quan sát
môi trường làm việc cũng như cách giải quyết các mối quan hệ trong doanh nghiệp.
Phương pháp nghiên cứu tài liệu: là phương pháp thu thập thông tin trong đó
người đi thu thập thông tin phải liên hệ với những bộ phận liên quan để xin những
tài liệu cần thiết, ở đây chủ yếu là bộ phận kế toán công ty. Nghiên cứu tài liệu viết
giống như việc quan sát hệ thống một cách gián tiếp. Thông qua việc nghiên cứu tài
liệu viết mà có được hình dung tổng quan về hệ thống. Tác giả đọc và tìm hiểu luật
xây dựng, luật đấu thầu, và các văn bản, nghị định, hướng dẫn về đầu tư xây dựng
cơ bản, đấu thầu xây lắp,… thu thập và nghiên cứu sâu về các quy định tổ chức
công tác kế toán, quy trình hạch toán, cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý, bộ máy kế
toán của doanh nghiệp. Bên cạnh đó, tác giả còn đi sâu tìm hiểu một số công trình
nghiên cứu trước đó về kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm.
Phương pháp tổng hợp, phân tích dữ liệu: Tổng hợp kết quả khảo sát, khái quát
thành nhóm các vấn đề, để mô tả thực trạng theo các vấn đề đã khái quát đó: Phân tích
dữ liệu đã thu thập được đưa ra các thông tin, các kết luận phù hợp. Phân tích đánh giá
VÀ TÍNH GIÁ THÀNH SẢN PHẨM TRONG DOANH NGHIỆP XÂY LẮP
1.1.Đặc điểm hoạt động xây lắp chi phối đến kế toán chi phí sản xuất và
giá thành sản phẩm xây lắp.
Ngành xây lắp là ngành tạo cơ sở hạ tầng cho toàn bộ nền kinh tế, tạo tiền đề
cho nền kinh tế quốc dân, đóng vai trò quan trọng cho quá trình công nghiệp hóa,
hiện đại hóa đất nước. Đây là ngành có nhiều điểm khác biệt về cách thức sản xuất
cũng như phương thức quản lý so với các doanh nghiệp khác:
Sản phẩm của ngành xây lắp là những công trình, hạng mục công trình, vật
kiến trúc,…có quy mô lớn, kết cấu phức tạp, thời gian thi công dài, giá trị công
trình lớn,… Do việc tổ chức quản lý và hạch toán nhất thiết phải có dự toán thi
công, nên chi phí phải được quản lý theo chi phí đã dự toán và theo hạn mức chi
phí do nhà nước quy định.
Sản phẩm của ngành xây lắp thì cố định tại nơi sản xuất còn các tổ đội sản
xuất và máy móc thi công thì vận động theo địa điểm đặt sản phẩm nên việc quản lý
chi phí sản xuất chung và chi phí nhân công sẽ khó khăn.
Sản phẩm của xây dựng sau khi hoàn thành không được nhập kho mà được
tiêu thụ ngay, việc xác định giá thành của sản phẩm xây lắp khó thực hiên, thường
xác định theo khối lượng sản phẩm hoàn thành, do đó tính chi phí cho kỳ báo cáo và
quản lý doanh thu trong kỳ thường khó khăn.
Những đặc điểm của ngành xây lắp phần nào ảnh hưởng đến việc tổ chức công
tác kế toán trong doanh nghiệp, do đó việc quản lý chi phí trong doanh nghiệp xây
lắp có những điểm khác biệt sau:
+ Kế toán chi phí phải theo từng khoản mục chi phí, hạng mục công trình
nhằm thường xuyên so sánh, kiểm tra chi phí theo dự toán. Đối tượng tập hợp chi
phí có thể là toàn bộ công trình, hay 1 hạng mục của công trình, đơn vị đặt hàng.
+ Giá thành công trình lắp đặt thiết bị không bao gồm giá trị thiết bị do chủ
đầu tư chuyển đến mà chỉ bao gồm những chi phí do doanh nghiệp xây lắp chi ra.
10
nhất theo chuẩn mực nhất định.
11
Phân loại chi phí sản xuất một cách khoa học và hợp lý là một yêu cầu quan
trọng trong công tác kế toán, công tác hạch toán và tính giá thành sản phẩm, tùy
theo yêu cầu của công tác quản lý và hạch toán, kế toán có các cách phân loại sau:
Phân loại CPSX theo mối quan hệ của chi phí với các khoản mục trên Báo
cao tài chính:
Theo cách phân loại này chi phí sản xuất trong doanh nghiệp xây lắp được chi
thành chi phí sản phẩm và chi phí thời kì.
+ Chi phí sản phẩm: là những chi phí gắn liền với quá trình sản xuất sản phẩm
hay quá trình mua hàng hóa để bán
Khi sản phẩm chưa được bán ra thì chi phí sản phẩm là giá vốn bán hàng tồn
kho được ghi nhận trên Bảng cân đối kế toán. Khi sản phẩm đã được bán ta thì chi
phí sản phẩm là giá vốn hàng bán được ghi nhận trên Báo cáo kêt quả hoạt động
kinh doanh.
+ Chi phí thời kỳ: là những chi phí không liên quan đến hoạt động kinh doanh
của cả kỳ, không tạo nên giá trị hàng tồn kho nên không được ghi nhận trên Bảng
cân đối kế toán, mà chúng ảnh hưởng trực tiếp đến kết quả kinh doanh trong kỳ
chúng phát sinh nên được ghi nhận trên Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh. Bao
gồm chi phí bán hàng, chi phí quản lý doanh nghiệp.
Phân loại chi phí theo mối quan hệ giữa chi phí với mức độ hoạt động
Theo cách phân loại này chi phí sản xuất chia thành:
+ Chi phí khả biến (biến phí): là những chi phí thay đổi về tổng số tỷ lệ với sự
thay đổi mức hoạt động của doanh nghiệp. Mức hoạt động của doanh nghiệp có thể
là số lượng sản phẩm sản xuất, số lượng sản phẩm tiêu thụ, số giờ máy hoạt động,
doanh thu bán hàng thực hiện…
Sự biến động của chi phí trong mối quan hệ với mức hoạt động có thể xảy ra 2
doanh nghiệp.
+ Định phí tùy ý: là các định phí có thể được thay đổi nhanh chóng bằng các
quyết định của nhà quản trị doanh nghiệp. Định phí không bắt buộc thường liên
quan đến kế hoạch ngắn hạn và có thể cắt bỏ khi cần thiết.
Tuy vây, việc phân chia định phí tùy ý và định phí bắt buộc chỉ mang tính chất
tương đối, tùy thuộc vào nhận thức chủ quan của nhà quản trị. Một khoản định phí
nào đó được các nhà quàn trị doanh nghiệp nhìn nhận là bắt buộc thì sẽ rất ngần
13
ngại khi ra quyết định điều chỉnh, ngược lại nếu nhìn nhận là định phí tùy ý thì có
thể thường xuyên xem xét và điều chỉnh lại khi cần.
+ Chi phí hỗn hợp: là loại chi phí mà bản than nó gồm cả các yếu tố định phí
và biến phí
Đề phục vụ cho việc lập kế hoạch, kiểm soát và chủ động điều tiết chi phí, các
nhà quản trị doanh nghiệp cần phân tích chi phí hỗn hợp thành định phí và biến phí.
Có nhiều phương pháp để phân tích chi phí như: phương pháp bình phương bé nhất,
phương pháp đồ thị, cực đại – cực tiểu…
Cách phân loại này được đặc biệt sử dụng trong việc lập kế hoạch, kiểm tra và
ra quyết định. Nó có ý nghĩa quan trọng trong việc thiết kế, xây dựng mô hình chi
phí trong mối quan hệ gữa chi phí – khối lượng – lợi nhuận, xác định điểm hòa vốn
cũng như việc ra các quyết định quan trọng. Mặt khác nó còn giúp các nhà quản trị
doanh nghiệp xác định đúng đắn phương hướng để nâng cao hiệu quả của chi phí.
- Đối với định phí: Cần có biện pháp tận dụng tối đa công suất hoạt động.
- Đối với biến phí: Phải thực hiện quản lý theo định mức, ra các biện pháp hạ
thấp mức tiêu hao chi phí, sử dụng vật liệu thay thế, tăng năng suất lao động, hiamr
sản phẩm hỏng,…
Phân loại chi phí theo khả năng quy nạp của chi phí với các đối tượng kế toán
chi phí
gắng hạ thấp chi phí bằng cách giảm các định mức tiêu hao nguyên vật liệu, lao
động hoặc cải tiến quy trình công nghệ, hợp lý hóa sản xuất, tìm nguyên vật liệu
thay thế phù hợp…Còn đối với chi phí chung cần phải triệt để tiết kiệm, hạn chế,
thậm chí loại trừ các khoản chi phí không cần thiết, tăng cường quản lý chi phí
chung theo dự toán, theo chế độ chi tiêu…
Phân loại chi phí sản xuất phục vụ cho việc lập kế hoạch, kiểm tra và ra quyết
định
Theo cách phân loại này, nếu gắn quyền kiểm soát chi phí với một caaso quản
lý nào đó thì phân biệt thành: chi phí kiểm soát được và chi phí không kiểm soát
được. Chi phí kiểm soát được ở một cấp quản lý nào đó là chi phí mà cấp đó có
thẩm quyền ra quyết định.
Việc xác định chi phí kiểm soát được và không kiểm soát được có ý nghĩa
quan trọng đối với nhà quản trị ở từng cấp quản lý, giúp họ hoạch định được dự
15
toán chi phí đúng đắn hơn, hạn chế sự bị động về việc huy động nguồn lực để đảm
bảo cho các khoản chi phí.
+ Chi phí chênh lêch: là những chi phí chỉ có ở phương án này nhưng không
có hoặc chỉ có 1 phần ở phương án khác. Đây là một trong những căn cứ cơ bản để
lựa chọn phương án tối ưu.
+ Chi phí cơ hội: là những chi phí bị mất đi khi lựa chọn phương án này mà
không lựa chọn phương án khác
+ Chi phí chìm: là những chi phí đã bỏ ra trong quá khứ mà DN sẽ phải gánh
chịu bất kể lựa chọn phương án nào.
Đối với các nhà quản trị cấp cao trong doanh nghiệp, chi phí cơ hội và chi phí
chìm thường là yếu tố chi phí cơ bản để xem xét có thực hiện dự án kinh doanh hay
không, trên cơ sở tính toán mức chi phí định mức và dự toán chi phí cho từng công
trình, nhà quản trị sẽ quyết định thực hiện dự án có chi phí cơ hội thấp nhất. Đối với
Giá thành sản phẩm xây lắp là biểu hiện bằng tiền của toàn bộ các khoản chi
phí về lao động sống, hao phí về lao động vật hoá mà doanh nghiệp xây lắp bỏ ra
liên quan đến khối lượng công trình xây dựng và lắp đặt đã hoàn thành.
Như vậy, bản chất của giá thành sản phẩm là sự chuyển dịch giá trị của các
yếu tố chi phí vào sản phẩm xây lắp, công việc lao vụ đã hoàn thành.
Khác với doanh nghiệp sản xuất công nghiệp, trong doanh nghiệp xây dựng,
giá thành sản phẩm xây lắp mang tính cá biệt. Mỗi công trình, hạng mục công trình
đều có giá trị dự toán riêng và quá trình sản xuất xây lắp phải lấy dự toán làm thước
đo. Giá thành dự toán sản phẩm xây dựng được xác định theo tài liệu thiết kế và
đơn giá xây dựng cơ bản.
1.2.2.2. Phân loại giá thành
Để đáp ứng nhu cầu về quản lý, hạch toán, giá thành sản phẩm xây lắp được
xem xét dưới nhiều góc độ, nhiều phạm vi tính toán khác nhau. Với các tiêu chí
khác nhau, giá thành sản phẩm xây lắp được chia ra làm nhiều loại như sau:
Phân loại theo thời điểm tính và nguồn số liệu để tính giá thành
Trong ngành xây dựng cơ bản hiện nay đang tồn tại ba loại giá thành công tác
xây lắp theo cách phân loại trên là: giá thành dự toán, giá thành kế hoạch và giá
thành thực tế. Cụ thể từng loại giá thành như sau :
17
+ Giá thành dự toán:
Là tổng chi phí dự toán để hoàn thành khốilượng xây lắp công trình, hạng mục
công trình.Giá thành dự toán được xác định trên cơ sở các định mức kinh tế, kỹ
thuật và đơn giá của Nhà nước.Giá thành dự toán là cơ sở để xác định giá trị dự toán
công trình. Giá thành dự toán là chỉ tiêu dùng làm căn cứ cho các doanh nghiệp xây
lắp xây dựng kế hoạch, đồng thời là căn cứ để các cơ quan Nhà nước giám sát hoạt
động sản xuất - kinh doanh của các doanh nghiệp xây lắp. Các khoản mục được tính
vào giá trị dự toán bao gồm các chi phí trực tiếp, chi phí chung và lợi nhuận định
đoạn kế hoạch nhất định.Nó là cơ sở để doanh nghiệp phấn đấu hạ giá thành công
tác xây lắp trong giai đoạn kế hoạch.Mức hạ giá thành kế hoạch thể hiện trình độ và
năng lực quản lý sản xuất của doanh nghiệp.
Giá thành kế
hoạch của công
Giá thành dự toán
=
trình, hạng mục
của công trình, hạng
mục công trình
Mức hạ giá
-
thành kế
hoạch
công trình
Giá thành kế hoạch công tác xây lắp là mục tiêu cơ bản trong việc phấn đấu
hạ giá thành công tác xây lắp của các doanh nghiệp xây lắp.
+ Giá thành thực tế:
Là biểu hiện bằng tiền của tất cả các chi phí thựctế của doanh nghiệp xây lắp
bỏ ra để hoàn thành khối lượng xây lắp nhất định. Giá thành thực tế được xác định
18