BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC THƯƠNG MẠI
----------------------------
TRẦN THỊ THANH PHƯƠNG
QUẢN LÝ THU NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC
CỦA HUYỆN KIM BẢNG, TỈNH HÀ NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
HÀ NỘI, NĂM 2017
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC THƯƠNG MẠI
----------------------------
TRẦN THỊ THANH PHƯƠNG
QUẢN LÝ THU NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC
CỦA HUYỆN KIM BẢNG, TỈNH HÀ NAM
Chuyên ngành : Quản Lý Kinh Tế
Mã số
: 60.34.04.10
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
cư 3,3% và đất chưa sử dụng 9,8%. Trong những năm gần đây đất đai của huyện
Kim Bảng có sự biến động theo xu hướng: diện tích đất nông nghiệp, đất chưa
sử dụng giảm dần do chuyển mục đích sang đất phi nông nghiệp nhằm đáp ứng
nhu cầu về đất để phát triển của các ngành kinh tế..............................................33
Bảng 2.1. Dự toán thu trên địa bàn huyện giai đoan 2014-2016 (huyện lập)......43
Bảng 2.2: Dự toán giao thu ngân sách của huyện Kim Bảng..............................45
giai đoạn 2014 – 2016 (theo quyết định giao)........................................................45
Bảng 2.3. Tổng hợp quyết toán thu ngân sách của huyện Kim Bảng giai đoạn
2014 - 2016.............................................................................................................65
Bảng 2.4. Tổng hợp nguồn thu điều tiết ngân sách huyện Kim Bảng.................65
Bảng 2.5. Đánh giá tình hình thực hiện thu NS huyện giai đoạn 2014-2016......66
Bảng 2.6. Phân tích tỷ trọng thu ngân sách nhà nước huyện Kim Bảng.............65
giai đoạn 2014 – 2016............................................................................................65
iii
iv
DANH MỤC BẢNG BIỂU, SƠ ĐỒ, HÌNH VẼ
BẢNG
Hình 1.1: Hệ thống NSNN Việt Nam........................................................................9
Bảng 2.1. Dự toán thu trên địa bàn huyện giai đoan 2014-2016 (huyện lập)...........43
Bảng 2.2: Dự toán giao thu ngân sách của huyện Kim Bảng...................................45
giai đoạn 2014 – 2016 (theo quyết định giao).........................................................45
Bảng 2.3. Tổng hợp quyết toán thu ngân sách của huyện Kim Bảng giai đoạn 2014 2016......................................................................................................................... 65
Bảng 2.4. Tổng hợp nguồn thu điều tiết ngân sách huyện Kim Bảng......................65
Bảng 2.5. Đánh giá tình hình thực hiện thu NS huyện giai đoạn 2014-2016...........66
Bảng 2.6. Phân tích tỷ trọng thu ngân sách nhà nước huyện Kim Bảng..................65
Xây dựng cơ bản
Kho bạc nhà nước
Tài chính – Kế hoạch
Ngoài quốc doanh
Sản xuất kinh doanh
1
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
NSNN là một trong những công cụ tài chính quan trọng của chính phủ trong
điều tiết nền kinh tế vĩ mô, góp phần ổn định, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế - xã hội
(KT-XH). NSNN bao gồm các khoản thu và chi tiêu, trong đó các khoản thu là
nguồn tài trợ cho các nhu cầu chi tiêu của chính phủ. Vì vậy, để chính phủ có thể
thực hiện tốt chức năng điều tiết vĩ mô nền kinh tế và xã hội thì cần phải có nguồn
tài chính đảm bảo. Điều này phụ thuộc vào việc quản lý các nguồn thu của NSNN ở
các cấp từ Trung ương đến địa phương. Để huy động đầy đủ nguồn thu vào ngân
sách nhằm thực hiện chi tiêu của nhà nước trên cơ sở đảm bảo các hình thức thu
ngân sách phù hợp với điều kiện phát triển KT-XH thì việc quản lý thu NSNN hiệu
quả là một yêu cầu quan trọng.
Ở nước ta, hoạt động quản lý thu NSNN mặc dù đã có nhiều tiến bộ hơn so
với trước đây nhưng vẫn còn tồn tại nhiều hạn chế bất cập trong nhiều khâu đã dẫn
đến tình trạng thất thu NSNN, gây ra thâm hụt NSNN ảnh hưởng đến kế hoạch chi
tiêu của Nhà nước. Trong đó phải kể đến là việc lập dự toán thu, chấp hành dự toán
thu ngân sách địa phương còn chậm, trong nhiều trường hợp chưa đúng theo quy
định của Nhà nước; Tình trạng quản lý thu vẫn còn thất thoát do chưa bao quát hết
các nguồn thu; Đội ngũ cán bộ quản lý ngân sách còn hạn chế về chuyên môn, chậm
đổi mới….
Kim Bảng là một huyện nằm ở phía tây bắc của tỉnh Hà Nam, là một huyện có
và thể chế kinh tế; cơ chế quản lý NSNN; chính sách khuyến khích khai thác các
nguồn lực tài chính và đưa ra giải pháp hữu hiệu nhằm nâng cao hiệu quả quản lý
ngân sách tỉnh An Giang trong thời gian tới đó là: (1) Tăng cường chấn chỉnh quản
lý thu, bồi dưỡng nhuồn thu, (2) quản lý nguồn thu tập trung vào NSNN, (3) Quản
lý và sử dụng hiệu quả các khoản chi, (4) hoàn thiện đổi mới cơ chế phân cấp quản
lý và điều hành NSNN các cấp, (5) đổi mới quy trình lập chấp hành và quyết toán
NSNN, (6) tăng cường thanh tra kiểm tra khen thưởng và xử lý kịp thời, (7) Nâng
cao trình độ cán bộ quản lý ngân sách. .
Nguyễn Xuân Thu (2015) “Phân cấp quản lý ngân sách địa phương ở Việt
Nam”. Luận án tiến sỹ ngành tài chính ngân hàng. Luận án đã làm rõ những tác
động của phân cấp quản lý ngân sách địa phương đến quản lý nhà nước của chính
quyền điạ phương. Tác giả đã đã đưa ra những đề xuất mới như điều chỉnh phương
3
thức chia sẻ nguồn thu thuế giá trị gia tăng, thuế thu nhập doanh nghiệp giữa NS
trung ương và NS địa phương, chuyển thuế tài nguyên, thuế bảo vệ môi trường
thành khoản thu phân chia giữa các cấp chính quyền địa phương, xây dựng một
danh mục các nguồn thu mở mà các địa phương có thể tự lựa chọn nguồn thu và
quyết định thuế suất hay mức thu.
T.S Lê Đình Thăng và Th.s Lăng Trịnh Mai Hương “Ngân sách nhà nước năm
2014 dưới góc nhìn kiểm toán nhà nước”. Đề tài nghiên cứu khoa học cấp Bộ năm
2015. Đề tài đã khái quát được đặc điểm kinh tế - xã hội và chính sách tài khóa,
chính sách tiền tệ tác động đến NSNN năm 2014, những vấn đề cơ bản về NSNN
năm 2014; một số đặc điểm cơ bản về về tình hình ngân sách và cơ chế quản lý
QLNS năm 2014. Những kết quả nghiên cứu của đề tài sẽ giúp cho các cấp chính
quyền nhìn nhận rõ những tồn tại, yếu kém của công tác quản lý ngân sách từ Trung
ương đến địa phương, triển khai các giải pháp kịp thời để nâng cao hiệu quả quản
lý, sử dụng NSNN cho những năm sau.
được một số vấn đề cơ bản về ngân sách nhà nước và quản lý thu NSNN trên địa
bàn thị xã đồng thời đã phân tích đánh giá thực trạng công tác quản lý thu ngân sách
trên địa bàn và nêu những kết quả đạt được, những tồn tại hạn chế trong công tác
quản lý thu NSNN. Đồng thời luận văn cũng đưa ra một số giải pháp nhằm hoàn
thiện công tác quản lý thu ngân sách tại địa bàn thị xã Phú Thọ.
Việc nghiên cứu và hoàn thiện công tác quản lý thu ngân sách là vấn đề có tính
cấp thiết, mặc dù các công trình khoa học trên đề cập đến nhiều khía cạnh khác
nhau trong quản lý thu ngân sách nói chung và ngân sách huyện nói riêng với các
phương pháp tiếp cận khác nhau, đưa ra thực trạng và giải pháp khác nhau nhưng
các công trình nghiên cứu đã có điểm chung là phân tích, đánh giá tình hình quản lý
thu NSNN nói chung và quản lý thu ngân sách địa phương nói riêng theo quy định,
từ đó đưa ra các giải pháp hoàn thiện cho từng nội dung được đề cập. Trên phương
diện kế thừa những công trình nghiên cứu trên về hệ thống lý thuyết, nhìn nhận
những thành tựu và hạn chế tại các địa phương đề xuất những giải pháp mang tính
định hướng áp dụng phù hợp với đặc điểm và thực trạng thực tế trong quản lý thu
ngân sách tại huyện Kim Bảng, tỉnh Hà Nam.
3. Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu
5
- Mục tiêu nghiên cứu: Trên cơ sở lý luận và thực tiễn để đánh giá đưa ra các
giải pháp nhằm tăng cường công tác quản lý thu NSNN huyện Kim Bảng trong giai
đoạn hiện nay.
- Nhiệm vụ:
Thứ nhất: Tổng quan lý thuyết cơ sở lý luận về quản lý thu ngân sách Nhà
nước cấp huyện, đồng thời làm rõ các nhân tố ảnh hưởng đến công tác quản lý thu.
Thứ hai: Phân tích thực trạng quản lý thu ngân sách nhà nước huyện Kim
Bảng tỉnh Hà Nam giai đoạn 2014 – 2016, đánh giá những kết quả đạt được, những
tồn tạivà nguyên nhân của những tồn tại trong quản lý thu NSNN trên địa bàn.
NSNN.
5.2. Phương pháp phân tích dữ liệu
Các dữ liệu sau khi thu thập được tiến hành hệ thống hóa theo danh mục, chọn
lọc, sắp xếp theo thứ tự ưu tiên liên quan đến đề tài. Các công cụ và kỹ thuật tính
toán được xử lý trên Excel.
Phương pháp thống kê: Luận văn sử dụng phương pháp này để thu thập, giải
thích về công tác quản lý thu ngân sách trên địa bàn huyện.
Phương pháp so sánh: So sánh dự toán cấp có thẩm quyền giao với số thực
hiện để tiến hành so sánh tỷ lệ phần trăm số thực tế so với dự toán. Đánh giá kết quả
cũng như tiến độ thực hiện quản lý thu NSNN trong năm ngân sách, mức độ hoàn
thành kế hoạch đạt bao nhiêu phần trăm, hoàn thành hay chưa hoàn thành kế hoạch
giao.
Đồng thời luận văn còn sử dụng phương pháp quy nạp, phân tích tổng họp, so
sánh dựa trên lý thuyết quản lý nhà ước về kinh tế, kinh tế học vĩ mô, kinh tế ngành
như: ngân hàng, kho bạc, thuế, thống kê……
6. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu và kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, luận văn được
kết cầu và trình bày trong 3 chương sau:
Chương 1: Cơ sở lý luận về quản lý thu ngân sách nhà nước cấp huyện.
Chương 2: Thực trạng quản lý thu ngân sách nhà nước trên địa bàn huyện
Kim Bảng, tỉnh Hà Nam giai đoạn 2014-2016.
Chương 3: Giải pháp nhằm hoàn thiện quản lý thu ngân sách trên địa bàn
huyện Kim Bảng, tỉnh Hà Nam.
CHƯƠNG I:
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ THU NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC
CẤP HUYỆN
1.1. Tổng quan về thu ngân sách nhà nước cấp huyện
1.1.1. Hệ thống ngân sách nhà nước
hại chung đến nền kinh tế. NSNN còn giành một phần khác đầu tư cho các doanh
nghiệp công ích, doanh nghiệp cần thiết cho dân sinh; NSNN đã đảm bảo nguồn
kinh phí hợp lý để đầu tư cho xây dựng cơ sở kết cấu hạ tầng, tạo môi trường và
điều kiện thuận lợi cho sự hình thành các doanh nghiệp thuộc các ngành then chốt,
8
các tập đoàn kinh tế, các Tổng công ty, các doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh
tế khác ra đời và phát triển. Các chính sách thuế cũng là một công cụ sắc bén để
định hướng đầu tư nó có tác dụng kiềm chế hoặc kích thích sản xuất kinh doanh,
xuất khẩu hay nhập khẩu, có tác động đến tổng cung, tổng cầu của kinh tế và điều
tiết nền kinh tế theo định hướng của Nhà nước.
- Về xã hội: Kinh phí của NSNN được cấp phát cho tất cả các lĩnh vực điều
chỉnh của Nhà nước. Khối lượng và kết quả quản lý, sử dụng nguồn kinh phí này
cũng quyết định mức độ thành công của các chính sách xã hội. Trong giải quyết các
vấn đề xã hội, Nhà nước cũng sử dụng công cụ thuế để điều chỉnh, các loại thuế
trực thu và gián thu ngoài mục đích trên cũng có tác dụng hướng dẫn tiêu dùng hợp
lý. Kinh phí của NSNN được chi cho các sự nghiệp quan trọng của Nhà nước như
sự nghiệp kinh tế, sự nghiệp văn hóa, sự nghiệp giáo dục - đào tạo, sự nghiệp khoa
học... về hình thức là chi tiêu dùng nhưng thực chất là đầu tư lâu dài đảm bảo cho
xã hội phát triển trong tương lai, ngang tầm của yêu cầu hội nhập và phát triển, vì
vậy NSNN có vai trò đối với xã hội rất lớn. Như vậy, NSNN là công cụ rất quan
trọng để tác động vào nền kinh tế nhằm thực hiện mục tiêu tăng trưởng và công
bằng xã hội, là hình thức cơ bản để hình thành và sử dụng có kế hoạch quỹ tiền tệ
tập trung nhằm mở rộng sản xuất theo định hướng xã hội chủ nghĩa và thỏa mãn
nhu cầu ngày càng tăng của nhân dân. NS được dùng để khuyến khích sử dụng hợp
lý tài nguyên trong tất cả các thành phần kinh tế, các ngành sản xuất xã hội, phát
huy mặt tích cực của cơ chế thị trường. NSNN được sử dụng không chỉ nhằm đảm
bảo sự tăng trưởng về của cải vật chất mà còn cả sự phát triển về mặt văn hóa - xã
NS các sở,
ban ngành của
tỉnh
NS Trung Ương
NS các bộ, cơ
quan TW
NS cấp huyện
NS các
phòng ban
của huyện
NS cấp
xã, thị
trấn
(Nguồn: Luật NSNN 83/2015/QH13)
Ngân sách cấp huyện là một bộ phận hữu cơ của NSĐP, do chính quyền cấp
huyện tổ chức thực hiện quản lý thu, chi trên phạm vi địa bàn cấp huyện, theo quy
định phân cấp của tỉnh nhằm khai thác tốt nguồn thu để đảm bảo nhiệm vụ của ngân
sách cấp mình.
Ngân sách huyện là công cụ quan trọng của chính quyền cấp huyện trong việc
ổn định và phát triển kinh tế xã hội trên địa bàn. Ngân sách huyện không tách rời
10
11
dưới trên cơ sở bảo đảm công bằng, phát triển cân đối giữa các vùng, các địa
phương.
- Không được dùng ngân sách của cấp này để chi cho nhiệm vụ của cấp khác
và không được dùng ngân sách của địa phương này để chi cho nhiệm vụ của địa
phương khác, trừ một số các trường hợp theo luật NSNN quy định.
1.1.2. Khái niệm và vai trò của thu ngân sách nhà nước
cấp huyện
1.1.2.1. Khái niệm thu ngân sách nhà nước cấp huyện
Nhà nước ra đời, tồn tại và phát triển đòi hỏi phải có nguồn lực tài chính để
trang trải các chi phí nuôi sống bộ máy và thực hiện các nhiệm vụ kinh tế, xã hội
mà cộng đồng giao phó. Quá trình động viên một bộ phận nguồn lực tài chính vào
NSNN được thực hiện bằng hệ thống chính sách, pháp luật do nhà nước ban hành
được gọi là thu ngân sách nhà nước. Nói cách khác thu NSNN là một hoạt động tài
chính của nhà nước được xác lập trên cơ sở hệ thống chính sách, pháp luật do nhà
nước ban hành dựa trên nền tảng quyền lực và uy tín của nhà nước đối với các chủ
thể trong xã hội.
Vậy theo tác giả thu ngân sách nhà nước cấp huyện là toàn bộ các khoản thu mà
chính quyền địa phương huy động vào quỹ ngân sách trong một thời kỳ để đáp ứng
nhu cầu chi tiêu của nhà nước. Nó bao gồm những khoản thu mà chính quyền địa
phương huy động vào NS và không bị ràng buộc bởi trách nhiệm hoàn trả cho đối
tượng nộp.
- Các khoản thu ngân sách nhà nước trên địa bàn huyện bao gồm:
(1) Thu thuế do các tổ chức, cá nhân nộp theo quy định của pháp luật;
(2) Các khoản phí, lệ phí, thu từ các hoạt động sự nghiệp nộp vào ngân sách
theo quy định của pháp luật;
(3) Các khoản thu về nhà, đất và khoáng sản: Tiền sử dụng đất; tiền cho thuê
Thứ hai, thu ngân sách là công cụ quản lý và điều tiết nền kinh tế huyện
Thông qua thu NSNN, chính quyền địa phương thực hiện việc quản lý và điều
tiết nền kinh tế - xã hội nhằm hạn chế những mặt khuyết tật, phát huy những mặt
tích cực của nó và làm cho nó hoạt động ngày càng hiệu quả hơn.
Với công cụ thuế, chính quyền cấp huyện có thể can thiệp vào hoạt động của
13
nền kinh tế nhằm định hướng cơ cấu kinh tế, định hướng tiêu dùng.
Thứ ba, thu NSNN còn đóng vai trò quan trọng trong vấn đề điều tiết thu nhập
của các cá nhân trong xã hội.
Thông qua công cụ thuế, Nhà nước đánh thuế thu nhập đối với người có thu
nhập cao hoặc đánh thuế cao đối với các hàng hóa xa xỉ, hàng hóa không khuyến
khích tiêu dùng…
Tóm lại thông qua thu NSNN cấp huyện chính quyền huyện thực hiện các
chức năng quản lý nhà nước được giao, bao gồm cả việc duy trì trật tự ổn định xã
hội, phát triển các sự nghiệp kinh tế văn hóa xã hội theo phân cấp trên địa bàn. Thông
qua thu ngân sách chính quyền có thể kiểm tra, kiểm soát điều chỉnh các hoạt động sản
xuất kinh doanh tăng cường hiệu quả các hoạt động quản lý pháp luật, giữ vững an
ninh trật tự trên địa bàn. Thu ngân sách cấp huyện là cơ sở để tăng cường hiệu quả các
hoạt động của chính quyền cấp huyện trong quản lý pháp luật, giữ vững quốc phòng an
ninh, trật tự trên địa bàn.
1.1.3. Phân loại các khoản thu ngân sách nhà nước cấp huyện
1.1.3.1. Phân loại các khoản thu ngân sách
Tùy theo điều kiện kinh tế, xã hội và yêu cầu động viên nguồn lực tài chính ở
mỗi địa phương mà thu NSNN bao gồm những khoản thu khác nhau. Để phục vụ
yêu cầu quản lý, các địa phương thường căn cứ vào những tiêu thức nhất định để
phân loại các khoản thu NSNN.
a) Phân loại thu NSNN căn cứ vào phạm vi phát sinh
thu từ các khoản đóng góp tự nguyện của các tổ chức và cá nhân...
Cách phân loại này cho phép đánh giá, tổ chức quản lý cân đối NSNN giữa
các nguồn thu với các nhu cầu chi tiêu để đảm bảo tính chủ động trong điều hành
NSNN, đặc biệt là đảm bảo tính kịp thời của các nhu cầu chi tiêu đã cam kết theo
dự toán được duyệt.
c) Phân loại thu NSNN căn cứ vào tính chất động viên
Căn cứ vào tính chất động viên, các khoản thu NSNN bao gồm các khoản thu
mang tính chất bắt buộc, các khoản thu mang tính chất tự nguyện, các khoản thu
mang tính chất trao đổi và đầu tư hoạt động kinh tế trực tiếp của nhà nước.
15
Các khoản thu NSNN mang tính chất bắt buộc có đặc trưng chủ yếu là dựa vào
quyền lực của nhà nước và nghĩa vụ của công dân quy định trong hiến pháp, pháp luật
của mỗi quốc gia như thuế phí, lệ phí, các khoản thu phạt...
Các khoản thu NSNN mang tính chất tự nguyện như thu nhận viện trợ của
chính phủ nước ngoài và các tổ chức quốc tế, các khoản đóng góp tự nguyện của
các tổ chức cá nhân...Các khoản thu này có đặc trưng chủ yếu dựa vào niềm tin,
lòng hảo tâm của tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước đối với nhà nước. Từ đó tự
nguyện đóng góp nguồn lực tài chính ch nhà nước để đáp ứng nhu cầu chi mang lại
lợi ích thiết thực cho cộng đồng.
Các khoản thu của NSNN mang tính chất trao đổi và đầu tư hoạt động kinh tế
trực tiếp của nhà nước như thu từ nhượng bán tài nguyên và tài sản quốc gia, tiền
thu hồi vốn của nhà nước tại các cơ sở kinh tế, thu hồi tiền vay của Nhà nước, thu
nhập từ góp vốn của nhà nước vào các cơ sở kinh tế...
Cách phân loại này cho phép phân tích đánh giá thu NSNN theo tính chất
động viên của các khoản thu, từ đó giúp cho việc hoàn thiện chính sách và các biện
pháp quản lý để đảm bảo bảo sự bền vững của NSNN và chủ động điều hành trong
NSNN.
và hội nhập phần nào các mối quan hệ này trong thu NSNN ít nhiều vẫn có sự hòa
trộn với thế giới bên ngoài.
Thứ tư, mức độ và cơ cấu các khoản thu NSNN của một địa phương về cơ bản
phản ánh mức độ và cơ cấu phát triển của nền kinh tế.
Về tổng thể mức độ, xu hướng chuyển dịch cơ cấu kinh tế của một địa phương
phần nào được phản ánh ở mức độ cơ cấu thu NSNN. Có thể nhìn vào mức độ và cơ
cấu các khoản thu NSNN hiểu rõ phần nào về quá trình phát triển và chuyển dịch cơ
cấu của nền kinh tế. Đồng thời thông qua mức độ và cơ cấu các khoản thu NSNN có
thể phân tích, đánh giá tính bền vững của NSNN nói chung và tính bền vững của
thu NSNN nói riêng.
Thứ năm, các khoản thu NSNN dù có tính bắt buộc hay tự nguyện đều được
thể chế bằng các văn bản pháp luật ở những mức độ khác nhau tùy theo tính chất,
tầm quan trọng của các khoản thu.
Có khoản thu NSNN được thể chế bằng luật hay pháp lệnh như thuế và một số
loại phí quan trọng, có những khoản thu được thể chế bằng nghị định, quyết định,
17
thông tư...Việc bắt buộc các khoản thu NSNN phải được thể chế bằng văn bản pháp
luật bởi lẽ thực chất thu NSNN là sự phân chia lợi ích...Sự phân chia lợi ích bao giờ
cũng có thể nảy sinh mâu thuẫn trong xã hội. Nếu sự phân chia lợi ích đó không có
chuẩn mực, tùy tiện thì có thể dẫn đến mâu thuẫn đối kháng, chia rẽ xã hội. Chính
vì lẽ đó mà tất cả các khoản thu NSNN phải được thể chế bằng các văn bản pháp
luật ở mức độ khác nhau.
1.2 Quản lý thu ngân sách nhà nước cấp huyện
1.2.1. Khái niệm, mục tiêu và các nguyên tắc của quản lý thu ngân sách
Nhà nước cấp huyện
1.2.1.1. Khái niệm
Theo giáo trình Quản lý thu ngân sách nhà nước của Học viện Tài chính, “Quản
phát hiện những bất hợp lý trong chính sách, chế độ và các văn bản pháp luật về thu
NSNN để kiến nghị những giải pháp bổ sung, sửa đổi kịp thời.
Xác lập cơ chế, quy trình quản lý thu thích hợp, tuân thủ các yêu cầu cải cách
hành chính trong lĩnh vực tài chính NSNN; tận dụng tối đa những thành quả công
nghệ tin học, bảo đảm cơ chế, quy trình quản lý thu NSNN theo hướng hiện đại phù
hợp xu hướng chung của thế giới và khu vực, tạo mọi điều kiện thuận lợi tối đa cho
tổ chức cá nhân thực hiện nghĩa vụ đối với NSNN.
1.2.1.3. Các nguyên tắc của quản lý thu ngân sách nhà nước cấp huyện.
Thu NSNN là việc động viên một phần nguồn tài chính của xã hội vào tay của
Nhà nước dưới các hình thức thu thuế, phí, lệ phí, bán tài nguyên, tài sản quốc gia,
các khoản thu trong các doanh nghiệp Nhà nước… Xuất phát từ bản chất của thu
NSNN quản lý thu ngân sách phải đảm bảo các nguyên tắc sau:
- Đảm bảo tập trung một bộ phận nguồn lực tài chính vào tay nhà nước để
trang trải các khoản chi phí cần thiết của huyện trong từng thời kỳ cụ thể theo đúng
các quy định pháp luật về thu ngân sách.
Việc động viên một phần nguồn lực tài chính là yêu cầu không thể thiếu được
đối với mọi địa phương. Động viên vào ngân sách nhiều hay ít tuỳ thuộc vào chức
năng nhiệm vụ mà địa phương đảm nhận, tuỳ thuộc vào cách thức sử dụng nguồn
lực tài chính của từng nơi.
Do đó, công tác quản lý thu phải đảm bảo được yêu cầu tập trung nguồn lực
của nền kinh tế vào trong tay Nhà nước và nội dung quản lý thu ngân sách không
đơn thuần là quản lý các hình thức thu và số thu mà còn phải tổ chức quản lý các
yếu tố có ảnh hưởng đến thu NSNN.