1
TÓM LƯỢC
Hợp đồng mua bán hàng hóa là một loại hình hợp đồng chính được sử dụng trong
hoạt động của công ty. Mặc dù đã phát triển từ rất lâu, là hợp đồng phổ biến nhưng đôi
khi các công ty thường coi nhẹ việc giao kết và thực hiện hợp đồng này. Việc nghiên
cứu về hoạt động mua bán hàng hóa là thật sự cần thiết bởi đây là một vấn đề quan
trọng không chỉ đối với bản thân công ty, mà còn đối với sự phát triển của luật quốc
gia bởi hiện nay việc thực hiện hợp đồng mua bán hàng hóa không còn giới hạn ở
trong nội địa của một quốc gia nữa mà nó đã vươn ra tầm quốc tế.
Trong bài khóa luận này, phạm vi đề tài em chọn Công ty cổ phần xi măng Vicem
Bút Sơn làm địa điểm thực tế. Bằng những kiến thức đã học tại trường Đại học
Thương mại và những gì nghiên cứu được em hy vọng sẽ đóng góp một số giải pháp
nhằm hoàn thiện pháp luật về thực hiện hợp đồng mua bán hàng hóa, đặc biệt đẩy
mạnh tính hiệu quả của vấn đề này tại Công ty cổ phần xi măng Vicem Bút Sơn.
Qua quá trình nghiên cứu, đề tài đã đạt được một số kết quả sau:
1. Xác định rõ những vấn đề cần nghiên cứu nhằm hoàn thiện pháp luật đối với
hợp đồng mua bán hàng hóa, chủ yếu là về thực hiện hợp đồng mua bán hàng hóa.
2. Làm rõ những lý luận cơ bản liên quan đến pháp luật điều chỉnh hoạt động thực
hiện hợp đồng mua bán hàng hóa, cơ sở ban hành pháp luật, những nguyên tắc, nội dung
pháp luật điều chỉnh đến quá trình thực hiện hợp đồng mua bán hàng hóa nói chung.
3. Tìm hiểu nhân tố ảnh hưởng, phân tích thực trạng thực hiện vấn đề này tại Công
ty cổ phần xi măng Vicem Bút Sơn.
4. Đưa ra định hướng nhằm hoàn thiện pháp luật về thực hiện hợp đồng mua bán
hàng, đồng thời đề xuất những kiến nghị để góp phần hoàn thiện vấn đề này.
Kết quả nghiên cứu mang yếu tố thực tiễn, có thể áp dụng tham khảo cho vấn đề
xây dựng pháp luật liên quan thực hiện hợp đồng mua bán hàng hóa của Nhà nước và
hoàn thiện pháp luật về thực hiện hợp đồng mua bán hàng hóa không chỉ ở Công ty cổ
phần xi măng Vicem Bút Sơn mà còn ở các công ty cổ phần tương tự.
1
3
4
DANH MỤC VIẾT TẮT
BLDS
LTM
Cty TNHH
HĐMBHH
HĐMBTS
WTO
HĐMB
Bộ Luật Dân Sự
Luật Thương Mại
Công ty trách nhiệm hữu hạn
Hợp đồng mua bán hàng hóa
Hợp đồng mua bán tài sản
Tổ chức thương mại thế giới (World Trade Organization)
Hợp đồng mua bán
4
5
LỜI MỞ ĐẦU
1.1. Tính cấp thiết của nghiên cứu đề tài khóa luận
Trong đời sống xã hội, hợp đồng là một hình thức thiết lập mối quan hệ giữa người
liên quan đến hợp đồng, như đề tài:
- “Tự do giao kết hợp đồng - Những vấn đề lý luận và thực tiễn”, luận văn Thạc
sỹ năm 2010 của Nguyễn Thị Hường đã nghiên cứu, làm rõ những vấn đề lý luận về
55
6
quyền tự do giao kết hợp đồng. Bên cạnh đó, luận văn còn phân tích những khía cạnh
cơ bản của nguyên tắc quyền tự do giao kết hợp đồng và các trường hợp ngoại lệ của
nguyên tắc này và đề xuất những kiến nghị cụ thể nhằm hoàn thiện pháp luật về tự do
giao kết hợp đồng ở Việt Nam.
- “Hiệu lực của hợp đồng theo quy định của pháp luật Việt Nam”, luận án Tiến sĩ
Đại học Luật - Thành phố Hồ Chí Minh năm 2010 của Lê Minh Hùng đã nghiên cứu
các vấn đề lý luận, khảo sát thực trạng pháp luật và thực tiễn áp dụng pháp luật về hiệu
lực hợp đồng ở Việt Nam.
- “Pháp luật về giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa với thương nhân nước
ngoài- Kinh nghiệm so sánh với luật Trung Quốc và những định hướng hoàn thiện cho
pháp luật Việt Nam” luận văn Thạc sỹ năm 2012 của Trương Thị Bích đã luận giải
những vấn đề lý luận và pháp luật về giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa với thương
nhân nước ngoài và phân tích một cách có hệ thống về thực trạng và thực tiễn áp dụng
pháp luật Việt Nam về giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa với thương nhân nước
ngoài. So sánh pháp luật Việt Nam và pháp luật Trung Quốc về giao kết hợp đồng mua
bán hàng hóa với thương nhân nước ngoài và đề xuất các khuyến nghị những định
hướng hoàn thiện cho pháp luật Việt Nam về giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa với
thương nhân nước ngoài.
- “Giao kết và thực hiện hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế tại Công ty TNHH
Vật tư khoa học kỹ thuật Đông Dương- Indochin’’, luận văn của Phạm Thị Hải Ninh
năm 2013 tạị Đại học Thương mại.
Cùng với các công trình nghiên cứu và các sách, giáo trình nêu trên, đã có nhiều
hệ giữa các thương nhân trong nước với nhau mà còn là quan hệ giữa các thương nhân
trong nước với các thương nhân nước ngoài. Song để tập trung vào nội dung cần bàn
bạc, khóa luận sẽ chỉ đề cập đến những vấn đề pháp lý và thực tiễn liên quan đến thực
hiện hợp đồng mua bán hàng hóa trong nước.
1.4. Đối tượng, mục tiêu và phạm vi nghiên cứu
1.4.1. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của khóa luận là những vấn đề liên quan đến việc thực hiện
hợp đồng mua bán hàng hóa theo Luật Thương mại 2005, thực tiễn thực hiện tại Công
ty cổ phần xi măng Vicem Bút Sơn.
1.4.2. Mục tiêu nghiên cứu
Mục tiêu của đề tài là thông qua việc nghiên cứu các vấn đề lý luận, khảo sát thực
trạng áp dụng pháp luật và thực tiễn áp dụng Luật Thương mại trong việc thực hiện
hợp đồng mua bán hàng hóa tại doanh nghiệp, để có thể:
- Tiếp cận nghiên cứu một cách có hệ thống các quy định hiện hành của Luật
thương mại về thực hiện hợp đồng mua bán hàng hóa giữa các bên cũng như thực tiễn
thi hành các quy định trong luật này.
- Đánh giá việc thực hiện Luật thương mại 2005 trong thực hiện hợp đồng mua
bán hàng hóa của doanh nghiệp.
- Lập luận đưa ra một số đề xuất nhằm nâng cao hiệu lực của pháp luật cũng như
tính hiệu quả của việc thực hiện hợp đồng mua bán hàng hóa của doanh nghiệp.
1.4.3. Phạm vi nghiên cứu
Về nội dung và hướng tiếp cận: Tên đề tài nghiên cứu khóa luận là : “Pháp luật về
thực hiện hợp đồng mua bán hàng hóa và thực tiễn thực hiện tại Công ty cổ phần xi
măng Vicem Bút Sơn”. Vấn đề về hợp đồng mua bán hàng hóa rất rộng cho nên trong
giới hạn của khóa luận này, em chỉ đi sâu nghiên cứu những vấn đề lý luận và thực tiễn
77
8
Từ những kết quả đã phân tích, tổng hợp lại để có nhận thức đầy đủ, đúng đắn, tìm
ra được bản chất, quy luật vận động của pháp luật về hợp đồng mua bán hàng hóa nói
chung cũng như Luật thương mại nói riêng và đề xuất giải pháp hoàn thiện.
88
9
1.6. Kết cấu khóa luận tốt nghiệp
Với mục tiêu và phạm vi nghiên cứu như đã nêu ở trên, đề tài ngoài tóm lược, lời
cảm ơn, lời mở đầu, mục lục, danh mục tài liệu tham khảo, nội dung, thì khóa luận
gồm có 3 chương:
Chương 1. Những lý luận cơ bản về việc thực hiện hợp đồng mua bán hàng hóa
Chương 2. Thực trạng pháp luật điều chỉnh việc thực hiện hợp đồng mua bán hàng
hóa tại Công ty cổ phần xi măng Vicem Bút Sơn
Chương 3. Một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật về thực hiện hợp đồng
mua bán hàng hóa
Kết luận
99
10
CHƯƠNG 1. NHỮNG LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ VIỆC THỰC HIỆN HỢP ĐỒNG
MUA BÁN HÀNG HÓA
1.1. Một số khái niệm cơ bản liên quan đến hợp đồng mua bán hàng hóa
Hợp đồng mua bán hàng hóa (HĐMBHH) có bản chất chung của hợp đồng và
mang đầy đủ các đặc điểm mà hợp đồng có, nó là sự thỏa thuận nhằm xác lập, thay đổi
10
11
hoặc chấm dứt các quyền và nghĩa vụ pháp lý giữa các chủ thể trong quan hệ mua bán
hàng hóa. LTM không đưa ra định nghĩa về HĐMBHH trong thương mại nhưng chúng
ta có thể dựa vào khái niệm của hợp đồng mua bán tài sản trong Bộ luật Dân Sự
(BLDS) để xác định bản chất của HĐMBHH.
Theo Điều 428, BLDS 2005 có quy định “hợp đồng mua bán tài sản là sự thỏa
thuận giữa các bên, theo đó bên bán có nghĩa vụ giao tài sản cho bên mua và nhận tiền,
còn bên mua có nghĩa vụ nhận tài sản và trả tiền cho bên bán” . Hàng hóa thuộc tài sản
và có phạm vi hẹp hơn tài sản. Từ đó cho thấy, HĐMBHH trong kinh doanh – thương
mại là một dạng cụ thể của hợp đồng mua bán tài sản.
1.1.4 Đặc điểm của hợp đồng mua bán hàng hóa
Hợp đồng mua bán hàng hóa có những đặc điểm riêng xuất phát từ bản chất
thương mại của hành vi mua bán hàng hóa
- Về chủ thể của hợp đồng mua bán hàng hóa
HĐMBHH được thiết lập giữa các chủ thể trong đó ít nhất một trong các bên chủ
thể của HĐMBHH là thương nhân. Theo LTM 2005 quy định thương nhân bao gồm tổ
chức kinh tế được thành lập hợp pháp; cá nhân hoạt động thương mại một cách độc
lập, thường xuyên và có đăng ký kinh doanh.Thương nhân có thể mang quốc tích của
Việt Nam hoặc mang quốc tịch nước ngoài. Ngoài ra, các tổ chức, cá nhân không phải
là thương nhân cũng có thể trở thành chủ thể của HĐMBHH. Theo khoản 3 Điều 1
LTM 2005 quy định hoạt động của bên chủ thể không phải là thương nhân và không
nhằm mục đích lợi nhuận trong quan hệ mua bán hàng hóa phải tuân theo LTM khi
chủ thể này lựa chọn áp dụng LTM.
- Về hình thức của hợp đồng mua bán hàng hóa
Bộ luật Dân sự được ban hành ngày 28/10/1995, tiếp theo là 10/5/1997 Luật
Thương mại được Quốc hội thông qua quy định về hợp đồng trong một số hành vi
thương mại. Tuy nhiên trên thực tế cho thấy các quan hệ hợp đồng trong kinh doanh
thương mại thì pháp lệnh hợp đồng kinh tế nam 1989 vẫn là căn cứ chính. Dẫn đến
tình trạng các quy định chồng chéo gây nhiều khó khăn trong quá trình áp dụng, nội
dung của các văn bản có nhiều điểm không thống nhất. Ngay khi đưa vào thực tiễn áp
dụng đã lộ rõ ra những bất cập. Hơn nữa trong giai đoạn Việt Nam gia nhập WTO,
pháp luật cần có những thay đổi theo những quy định mà WTO đề ra. Nên đến
14/6/2005 Quốc hội đã thông qua BLDS 2005 trong đó thống nhất điều chỉnh các mối
quan hệ về hợp đồng nói chung và mới nhất là BLDS 2015 đã được sửa đổi và bổ sung
có hiệu lực vào ngày 1/7/2015, bên cạnh các văn bản pháp luật riêng đối với từng lĩnh
vực, LTM 2005 và các văn bản pháp luật có liên quan điều chỉnh được ra đời.
1.2.2. Hệ thống các văn bản pháp luật hiện hành điều chỉnh vấn đề thực hiện hợp
đồng mua bán hàng hóa
HĐMBHH là một loại hợp đồng trong thương mại nên trước hết HĐMBHH chịu
sự điều chỉnh của LTM 2005. Nhưng để xác định bản chất pháp lý về HĐMBHH trong
thương mại cần dựa trên cơ sở quy định của BLDS 2005 về hợp đồng mua bán tài sản
nên HĐMBHH còn chịu sự điều chỉnh của BLDS 2005. Như vậy, với HĐMBHH,
LTM 2005 đóng vai trò là luật riêng áp dụng, BLDS 2005 là luật chung áp dụng. Trình
tự áp dụng luật được tuân theo quy định chung, áp dụng luật riêng trước, nếu không có
những quy định có liên quan thì sẽ áp dụng đến Luật chung tức là áp dụng LTM 2005
trước BLDS 2005.
LTM 2005 không coi đất đai – quyền sử dụng đất là hàng hóa trong thương mại
nhưng nhà và các công trình xây dựng luôn gắn liền với đất đai – quyền sử dụng đất
12
13
nên quyền sử dụng đất cũng được chuyển nhượng mua bán. Giao dịch này do Luật đất
mà phải qua người vận chuyển thì bên bán phải ký hợp đồng vận chuyển, hợp đồng
bảo hiểm rủi ro trên đường vận chuyển. Nếu hợp đồng quy định bên bán không ký hợp
đồng bảo hiểm mà bên mua ký thì bên bán phải cung cấp cho bên mua những thông tin
về hàng hóa để họ tiến hành ký hợp đồng bảo hiểm( Khoản 3- Điều 36- LTM 2005).
13
14
Mọi vấn đề liên quan đến giao hàng các bên có thể thỏa thuận ghi vào hợp đồng.
Nếu những vấn đề này không được ghi vào hợp đồng thì sẽ theo quy định chung của
pháp luật.
b. Địa điểm giao hàng
Chiếu theo Điều 35- LTM 2005 có quy định: Các bên có thể thỏa thuận về địa
điểm, thời hạn và phương thức giao hàng tùy theo tính chất của hàng hóa trong hợp
đồng khi đã thỏa thuận về địa điểm giao hàng thì các bên phải tôn trọng thỏa thuận và
phải thực hiện đúng thỏa thuận đó. Bên bán phải có nghĩa vụ giao hàng, bên mua phải
có nghĩa vụ nhận hàng đúng địa điểm đã thỏa thuận.
Trong trường hợp không thỏa thuận địa điểm giao hàng thì địa điểm giao hàng
được xác định theo khoản 2 điều 35 LTM 2005: Trường hợp hàng hóa là vật gắn liền
với đất đai thì bên bán phải giao hàng tại nơi có hàng hóa đó; trong các trường hợp
khác, bên bán phải giao hàng tại địa điểm kinh doanh của bên bán, nếu không có địa
điểm kinh doanh thì phải giao hàng tại nơi cư trú của bên bán được xác định tại thời
điểm giao kết hợp đồng mua bán.
c. Thời gian giao hàng
Về thời gian giao hàng, Điều 37- LTM 2005 có quy định: Bên bán phải giao hàng
vào đúng thời điểm giao hàng đã thỏa thuận. Trường hợp chỉ có thỏa thuận về thời hạn
giao hàng mà không xác định thời điểm giao hàng cụ thể thì bên bán có quyền giao
hàng vào bất cứ thời điểm nào trong thời hạn đó và phải thông báo trước cho bên mua.
a) Không phù hợp với mục đích sử dụng thông thường của các hàng hoá cùng
chủng loại;
b) Không phù hợp với bất kỳ mục đích cụ thể nào mà bên mua đã cho bên bán biết
hoặc bên bán phải biết vào thời điểm giao kết hợp đồng;
c) Không bảo đảm chất lượng như chất lượng của mẫu hàng hoá mà bên bán đã
giao cho bên mua;
d) Không được bảo quản, đóng gói theo cách thức thông thường đối với loại hàng
hoá đó hoặc không theo cách thức thích hợp để bảo quản hàng hoá trong trường hợp
không có cách thức bảo quản thông thường.”
Như vậy, trước tiên, hàng hóa đó có phù hợp với hợp đồng hay không là phụ thuộc
vào sự thỏa thuận của các bên. Nếu hàng hóa đáp ứng đủ các điều kiện quy định trong
hợp đồng là không phù hợp với hợp đồng thì người bán phải chịu trách nhiệm về sự
không phù hợp đó. Trong trường hợp hợp đồng không có quy định cụ thể thì hàng hóa
được coi là không phù hợp với hợp đồng thuộc các trường hợp quy định tại khoản 1
Điều 43. Khoản 2 điều này quy định “ bên mua có quyền từ chối nhận hàng nếu hàng
hóa không phù hợp với hợp đồng theo quy định tại khoản 1 của Điều này”. Như vậy
khi kiểm tra hàng hóa mà phát hiện hàng hóa đó không phù hợp với hợp đồng thì
người mua có thể từ chối nhận hàng vào ngay lúc đó.
Vậy trách nhiệm của người bán đối với hàng hóa không phù hợp với hợp đồng là
như thế nào?
Điều 40 quy định trách nhiệm đối với hàng hóa không phù hợp với hợp đồng.
Theo khoản 1 điều này thì trách nhiệm đối với hàng hóa không phù hợp với hợp đồng
cũng được ưu tiên xét theo thỏa thuận của các bên. Trong trường hợp các bên không có
thỏa thuận thì bên bán không chịu trách nhiệm bất kỳ khiếm khuyết nào của hàng hóa
nếu vào thời điểm giao kết hợp đồng bên mua đã biết hoặc phải biết những khiếm
khuyết đó; trừ trường hợp này thì trong thời hạn khiếu nại theo quy định lủa LTM, bên
bán phải chịu trách nhiệm về bất kỳ khiếm khuyết nào của hàng hóa đã có trước thời
15
Tuy nhiên, nếu bên mua yêu cầu bên bán phải tuân theo bản vẽ kỹ thuật, thiết kế, công
thức hoặc những số liệu khác do bên mua cung cấp thì bên mua phải chịu trách nhiệm
đối với các khiếu nại liên quan đến những vi phạm quyền sở hữu trí tuệ phát sinh từ
việc bên bán đã tuân thủ những yêu cầu của bên mua.
1.2.3.5. Thanh toán
Về Thanh toán tại Điều 50 đến Điều 55 LTM 2005 có quy định: Thanh toán tiền
hàng được coi là nghĩa vụ quan trọng mà người mua phải thực hiện. Bên mua phải có
nghĩa vụ thanh toán và nhận hàng theo đúng thỏa thuận và các bên có thể thỏa thuận
16
17
về phương thức, địa điểm, thời hạn thanh toán, và trình tự thủ tục thanh toán, đồng tiền
thanh toán…Khi đó bên mua phải tuân thủ đúng các phương thức thanh toán và thực
hiện thanh toán theo trình tự , thủ tục theo thỏa thuận. Nếu các bên không có sự thỏa
thuận này thì sẽ tuân theo quy định của pháp luật, điều này được quy định tại LTM
2005: Xác định địa điểm thanh toán theo quy định tại Điều 54, thời hạn thanh toán
theo quy định tại Điều 55 và khoản 3 Điều 50.
Trong trường hợp bên mua hàng vi phạm hợp đồng chậm thanh toán tiền hàng thì
phải trả lãi trên số tiền trả chậm đó theo lãi suất nợ quá hạn trung bình trên thị trường
tại thời điểm thanh toán tương ứng với thời gian trả chậm, khi bên vị phạm yêu cầu,
trừ trường hợp có thỏa thuận khác Điều 306 LTM 2005. Khi người mua vị phạm nghĩa
vụ thanh toán thì người bán cũng có thể căn cứ vào Khoản 4 Điều 51, Điều 308 về tạm
ngưng thực hiện hợp đồng, Điều 312 về hủy bỏ hợp đồng, Điều 321về hình thức xử lý
hành vi vi phạm pháp luật thương mại.
1.2.3.6. Chuyển quyền sở hữu và quyền rủi ro đối với hàng hóa từ người bán sang
người mua
Chuyển rủi ro tại Điều 57 đến Điều 61 LTM 2005 có quy định: Vấn đề chuyển rủi
ro trong việc mua bán hàng hóa và một vấn đề cơ bản mà các bên cần nắm. Các bên
cứ theo Điều 292- LTM 2005; theo đó các hình thức chế tài là:
a, Buộc thực hiện đúng hợp đồng
Khi một bên trong hợp đồng không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa
vụ quy định trong hợp đồng thì bên có quyền lợi bị vi phạm có quyền yêu cầu thực
hiện đúng hợp đồng hoặc áp dụng biện pháp khác để hợp đồng được thực hiện và bên
vi phạm phải chịu tổn phí phát sinh.( Điều 297- LTM 2005)
Chế tài này áp dụng trong trường hợp:
+ Khi bên vi phạm giao thiếu hàng thì phải giao đủ hàng theo đúng thỏa thuận
trong hợp đồng. Trong trường hợp bên vi phạm giao hàng kém chất lượng thì phải loại
trừ khuyết tật của hàng hóa hoặc giao hàng khác thay thế theo đúng hợp đồng. Bên vi
phạm không được dùng tiền hoặc hàng khác chủng loại để thay thế nếu không được sự
chấp nhận của bên vi phạm.
+ Khi bên vi phạm không thực hiện theo quy định nêu trên thì bên bị vi phạm có
quyền mua hàng của người khác để thay thế theo đúng loại hàng hóa ghi trong hợp đồng
và bên vi phạm phải trả khoản tiền chênh lệch và các chi phí liên quan nếu có; có quyền
tự sửa chữa khuyết tật của hàng hóa và bên vi phạm phải trả các chi phí thực tế hợp lý.
+ Bên bị vi phạm phải nhận hàng và thanh toán tiền hàng nếu bên vi phạm đã thực
hiện đầy đủ nghĩa vụ của mình theo quy định của pháp luật.
b, Phạt vi phạm
Theo Điều 300- LTM 2005 quy định: “ Phạt vi phạm là việc bên bị vi phạm yêu
cầu bên vi phạm trả một khoản tiền phạt do vi phạm hợp đồng nếu trong hợp đồng có
thỏa thuận, trừ các trường hợp miễn trách nhiệm theo quy định của Luật thương mại”.
Theo quy định này thì chủ thể có quyền đòi phạt vi phạm là bên bị vi phạm, chủ thể có
nghĩa vụ là bên vi phạm, khách thể trong quan hệ này mà các bên hướng tới là một
khoản tiền phạt vi phạm.
Theo Điều 301- LTM 2005 : “ Mức phạt đối với vi phạm nghĩa vụ hợp đồng hoặc
tổng mức phạt đối với nhiều vi phạm do bên thỏa thuận trong hợp đồng, nhưng không
quá 8% giá trị phần nghĩa vụ hợp đồng bị vi phạm, trừ trường hợp quy đinh tại Điều
18
+ Một bên vi phạm cơ bản nghĩa vụ hợp đồng: Khi hợp đồng bị tạm ngừng thực
hiện thì hợp đồng đó vẫn có hiệu lực. Trong khi đó bên bị vi phạm có quyền yêu cầu
bồi thường thiệt hại theo quy định của Luật thương mại.
Hậu quả pháp lý:
+ Khi hợp đồng bị tạm ngừng thực hiện thì hợp đồng vẫn còn hiệu lực.
+ Bên bị vi phạm có quyền yêu cầu bồi thường thiệt hại theo quy định của LTM.
e, Đình chỉ thực hiện hợp đồng:
Là một chế tài mới quy định tại Luật thương mại, đình chỉ thực hiện hợp đồng là việc
một bên chấm dứt thực hiện nghĩa vụ hợp đồng thuộc một trong các trường hợp sau:
19
20
+ Xảy ra hành vi vi phạm mà các bên đã thỏa thuận là điều kiện để đình chỉ hợp đồng;
+ Một bên vi phạm cơ bản nghĩa vụ hợp đồng: Trong trường hợp một hợp đồng bị
đình chỉ thực hiện thì hợp đồng chấm dứt từ thời điểm một bên nhận được thông báo
đình chỉ. Các bên không phải tiếp tục thực hiện nghĩa vụ hợp đồng nữa. Bên đã thực
hiện nghĩa vụ có quyền yêu cầu bên kia thanh toán hoặc thực hiện nghĩa vụ đối ứng.
Bên bị vi phạm vẫn có quyền yêu cầu bồi thường thiệt hại theo quy định của Luật
thương mại.
Về hậu quả pháp lý của việc đình chỉ hợp đồng:
- Trường hợp chấm dứt từ thời điểm một bên nhận được thông báo đình chỉ. Các
bên không phải tiếp tục thực hiện nghĩa vụ hợp đồng. Bên đã thực hiện nghĩa vụ có
quyền yêu cầu bên kia thanh toán hoặc thực hiện nghĩa vụ đối ứng.
- Bên bị vi phạm có quyền yêu cầu bồi thường thiệt hại đồng thời với việc áp dụng
chế tài đình chỉ thực hiện hợp đồng
f, Hủy bỏ hợp đồng:
Điều 312- LTM 2005 quy định, bên có quyền lợi bị vi phạm có quyền tuyên bố
hủy hợp đồng nếu việc vi phạm của bên kia là điều kiện để hủy hợp đồng mà các bên
- Thứ ba là sự kiện xảy ra mặc dù hậu quả để lại không thể khắc phục được dù đã
áp dụng mọi biện pháp cần thiết và khả năng cho phép, là sự kiện mà chúng ta không
thể tránh được về mặt hậu quả.
Để được áp dụng miễn trừ do sự kiện bất khả kháng thì bên có hành vi vi phạm
phải thông báo bằng văn bản cho bên kia đồng thời chứng minh được sự cố dẫn đến vi
phạm hợp đồng thỏa mãn 3 điều kiện trên.
Quy định tại Điều 296- LTM 2005: Khi xảy ra trường hợp bất khả kháng, các bên
có thể thỏa thuận kéo dài thời hạn thực hiện nghĩa vụ hợp đồng; trừ các HĐMBHH,
cung ứng dịch vụ có thời hạn cố định về giao hàng hoặc hoàn thành dịch vụ. Nếu các
bên không có thỏa thuận hoặc không thỏa thuận được thì thời hạn thực hiện nghĩa vụ
hợp đồng được tính thêm một thời gian bằng thời gian xảy ra trường hợp bất khả
kháng cộng với thời gian hợp lý để khắc phục hậu quả, nhưng không được kéo dài quá
các thời hạn sau:
- 5 tháng đối với hàng hóa, dịch vụ mà thời hạn giao hàng, cung ứng dịch vụ
được thỏa thuận không quá 12 tháng, kể từ khi giao kết hợp đồng.
- 8 tháng đối với hàng hóa, dịch vụ mà thời hạn giao hàng, cung ứng dịch vụ
được thỏa thuận trên 12 tháng, kể từ khi giao kết hợp đồng.
Tuy nhiên, nếu sự kiện bất khả kháng kéo dài quá thời hạn nêu trên thì các bên có
quyền từ chối thực hiện hợp đồng và không bên nào có quyền yêu cầu bên kia bồi
thường thiệt hại. Bên từ chối thực hiện hợp đồng phải thông báo cho bên kia biết trước
khi bên kia bắt đầu thực hiện các nghĩa vụ trong hợp đồng trong thời hạn 10 ngày.
1.3 Nguyên tắc về pháp luật điều chỉnh vấn đề thực hiện hợp
đồngmua bán hàng hóa
Sau khi được giao kết hợp pháp, HĐMBHH có hiệu lực bắt buộc đối với các bên
(Điều 4, BLDS 2005). Hợp đồng khi đó trở thành “luật”, các bên phải tự nguyện thực
hiện các nghĩa vụ đã thỏa thuận, nếu không tự nguyện thực hiện thì có thể bị cưỡng
chế thực hiện theo quy định của pháp luật (Điều 7, BLDS 2005).
Trong quá trình thực hiện HĐMBHH, các bên phải tuân thủ những nguyên tắc sau:
- Nguyên tắc thực hiện đúng: Chấp hành thực hiện đúng hợp đồng là không được
tự ý thay đối tượng này bằng một đối tượng khác hoặc không được thay thế việc thực
cầu nối giữa sản xuất và tiêu dùng, không chỉ giới hạn trong phạm vi mỗi quốc gia mà
còn mở rộng ra các quốc gia khác nhau trên thế giới. Hoạt động mua bán hàng hóa
diễn ra một cách thường xuyên, liên tục hình thành nên các hợp đồng mua bán hàng
hóa với số lượng tăng nhanh theo nhu cầu thị trường kể từ khi Việt Nam gia nhập Tổ
chức thương mại thế giới WTO. Cùng với những biến đổi đa dạng của xã hội cũng như
nền kinh tế, hệ thống pháp luật về thực hiện hợp đồng mua bán hàng hóa đã bước đầu
đi vào cuộc sống, xác lập được sự ổn định trong các mối quan hệ kinh doanh, mua bán,
hình thành được nền tảng tư duy mới mẻ trong công tác quản lý nhà nước về giao kết
hợp đồng mua bán hàng hóa.
Công ty cổ phần xi măng Vicem Bút Sơn với tư cách là một chủ thể trong nền kinh tế
luôn thực hiện theo đúng các quy định của pháp luật về hợp đồng mua bán hàng hóa cũng
như thực hiện hợp đồng mua bán hàng hóa. Từ việc thực hiện nghiêm chỉnh các điều
khoản đã kí kết trong hợp đồng với các bạn hàng, Công ty đã đạt được rất nhiều lợi ích
trong việc kinh doanh của mình, tạo được uy tín vững chắc với các đối tác kinh doanh,
giúp Công ty không ngừng phát triển và mở rộng hoạt động sản xuất, kinh doanh.
2.1.2. Các nhân tố ảnh hưởng đến thực hiện hợp đồng mua bán hàng hóa
2.1.1.1. Nguồn hàng
Nhân tố này rất quan trọng, nó phụ thuộc vào khả năng sản xuất hàng hóa của
doang nghiệp. Nếu nguồn hàng tốt thì sẽ đảm bảo được số lượng cũng như chất lượng,
mẫu mã, kiểu dáng của hàng hoá, phù hợp với các điều khoản hợp đồng. Nhưng nếu
nguồn hàng có vấn đề thì sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến các mục tiêu tiếp theo và quy
trình thực hiện hợp đồng. Đến ngày giao hàng mà lượng hàng không đủ, hoặc đủ
nhưng không đáp ứng được các yêu cầu về chất lượng mẫu mã kiểu dáng, nhẹ thì phạt
hợp đồng vì chậm hàng, chất lượng không đồng đều, nặng thì huỷ hợp đồng và bồi
thường mọi thiệt hại do không thực hiện đúng các điều kiện trong hợp đồng. Hơn thế
nó còn làm giảm uy tín, vị thế của công ty trên thị trường quốc tế.
23
hơn và khớp với thời gian giao nhận hàng.
2.1.2.6. Thời tiết
Đây là nhân tố vô cùng quan trọng, nó ảnh hưởng trực tiếp tới thực hiện hợp đồng,
các bên trong hợp đồng không thể tác động tới. Sự ảnh hưởng này tác động từ khâu sản
xuất đến giao hàng. Trong sản xuất nó tác động từ khâu nguyên liệu đến thời gian hoàn
thành sản phẩm , thời tiết thuận lợi sẽ xuôn sẻ nhưng thời tiết xấu thì có thể ảnh hưởng tới
chất lượng nguyên liệu, làm chậm tiến độ sản xuất và kéo dài thời gian giao hàng. Và còn
xấu hơn nữa thì có thể phá huỷ hoàn toàn quy trình thực hiện hợp đồng xuất khẩu.
24
25
2.1.2.7. Các nhân tố khác
Bên cạnh các nhân tố kể trên, một số nhân tố khác ảnh hưởng đến thực hiện hợp
đồng mua bán hàng hóa có thể kể đến như:
- Hệ thống cơ sở hạ tầng.
- Tình hình cạnh tranh trong nước giữa các doanh nghiệp.
- Tình hình kinh tế, chính trị của đất nước.
- ....
2.2. Thực trạng các quy phạm pháp luật điều chỉnh vấn đề thực hiện hợp đồng
mua bán hàng hóa
Ở Việt Nam, BLDS 2005 với tư cách là luật chung đã có những quy định về chế
định hợp đồng, nên những luật còn lại với tư cách là luật chuyên ngành phải tuân theo
và dựa trên các quy định của BLDS 2005. Tuy nhiên, cách thức áp dụng thì lại ưu tiên
cho luật chuyên ngành nếu luật chung có quy định khác với luật chuyên ngành. Câu
chuyện này thực tế đã gây ra sự bất cập lớn trong pháp luật hợp đồng ở Việt Nam.
Trong bối cảnh hội nhập quốc tế hiện nay pháp luật hợp đồng của Việt Nam chưa
tương thích với pháp luật và tập quán thương mại quốc tế. Ở Việt Nam cũng chưa thừa
nhận rộng rãi án lệ, tập quán, thông lệ thương mại là nguồn của pháp luật hợp đồng.