(Luận văn thạc sĩ) Đồng phạm có tổ chức theo pháp luật hình sự Việt Nam từ thực tiễn tỉnh Quảng Ninh - Pdf 60

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

ĐỖ THÁI BẢO

ĐỒNG PHẠM CÓ TỔ CHỨC THEO PHÁP LUẬT HÌNH SỰ
VIỆT NAM TỪ THỰC TIỄN TỈNH QUẢNG NINH

LUẬN VĂN THẠC SĨ
LUẬT HÌNH SỰ VÀ TỐ TỤNG HÌNH SỰ

HÀ NỘI, 2019


VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

ĐỖ THÁI BẢO

ĐỒNG PHẠM CÓ TỔ CHỨC THEO PHÁP LUẬT HÌNH SỰ
VIỆT NAM TỪ THỰC TIỄN TỈNH QUẢNG NINH

Ngành: Luật Hình sự và Tố tụng hình sự
Mã số: 8.38.01.04

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
GS.TS. VÕ KHÁNH VINH

HÀ NỘI, 2019



MỤC LỤC
MỞ ĐẦU .................................................................................................................... 1
Chương 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ LỊCH SỬ PHÁP LUẬT VỀ
ĐỒNG PHẠM CÓ TỔ CHỨC ................................................................................. 7
1.1. Khái niệm, đặc điểm của đồng phạm có tổ chức ........................................... 7
1.2. Trách nhiệm hình sự đối với đồng phạm có tổ chức ................................... 16
1.3. Lịch sử phát triển các quy định của pháp luật hình sự Việt Nam về đồng
phạm có tổ chức từ sau Cách mạng tháng Tám năm 1945 đến nay ................... 21
Chương 2: CÁC QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT HIỆN HÀNH VỀ ĐỒNG
PHẠM CÓ TỔ CHỨC VÀ THỰC TIỄN ÁP DỤNG PHÁP LUẬT HIỆN
HÀNH VỀ ĐỒNG PHẠM CÓ TỔ CHỨC TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH
QUẢNG NINH ........................................................................................................ 27
2.1. Các quy định của pháp luật hiện hành về đồng phạm có tổ chức ................... 27
2.2. Thực tiễn áp dụng pháp luật hiện hành về đồng phạm có tổ chức trên địa
bàn tỉnh Quảng Ninh........................................................................................... 35
2.3. Đánh giá chung ............................................................................................ 52
Chương 3: CÁC GIẢI PHÁP BẢO ĐẢM ÁP DỤNG CÁC QUY ĐỊNH VỀ
ĐỒNG PHẠM CÓ TỔ CHỨC ............................................................................... 62
3.1. Hoàn thiện các quy định của pháp luật hình sự về đồng phạm có tổ chức . 62
3.2. Tổng kết thực tiễn và hướng dẫn áp dụng các quy định của pháp luật
hình sự về đồng phạm có tổ chức ....................................................................... 69
3.3. Giải pháp về công tác tổ chức cán bộ .......................................................... 70
KẾT LUẬN .............................................................................................................. 76
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ............................................................... 78


DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

Chữ viết tắt


thường là cao hơn so với các trường hợp phạm tội riêng lẻ.
Do đồng phạm có tổ chức là hình thức đồng phạm phức tạp có mối
quan hệ hữu cơ với nhiều chế định quan trọng khác của Luật hình sự như chế
định tội phạm, chế định miễn trách nhiệm hình sự, chế định miễn hình phạt...
cho nên các cơ quan quan bảo vệ pháp luật vẫn còn bị lúng túng, mắc phải
thiếu sót trong việc giải quyết những vụ án có đồng phạm có tổ chức. Thực
tiễn công tác phòng ngừa và đấu tranh chống tội phạm cũng đặt ra nhiều vấn
đề vướng mắc đòi hỏi Khoa học Luật hình sự phải nghiên cứu, giải quyết như
vai trò của các loại người trong đồng phạm có tổ chức, trách nhiệm hình sự

1


trong đồng phạm có tổ chức, các giai đoạn thực hiện tội phạm trong đồng
phạm có tổ chức, tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội trong đồng phạm có
tổ chức... Trong khi đó, đồng phạm có tổ chức lại là một trong những chế
định được quy định rất khác nhau trong pháp luật hình sự của các nước trên
thê giới.thậm chí trái ngược nhau.
Thực tiễn công tác phòng ngừa, đấu tranh chống tội phạm trên địa bàn
tỉnh Quảng Ninh trong năm qua cho thấy, tình hình tội phạm có những diễn
biến phức tạp, đặc biệt là các vụ án có yếu tố đồng phạm có tổ chức có xu
hướng gia tăng. Công tác phòng ngừa và đấu tranh các vụ án đồng phạm có tổ
chức đã đạt được những kết quả đáng kể, tuy nhiên vẫn còn một số những khó
khăn, vướng mắc trong quá trình giải quyết vụ án đồng phạm có tổ chức. có
thể kể đến: việc xác định dấu hiệu pháp lý của đồng phạm có tổ chức để phân
biệt giữa đồng phạm có tổ chức với các trường hợp đồng phạm thông thường
đôi khi còn nhầm lẫn, việc xác định vai trò và phân hóa TNHS của những
người tham gia trong đồng phạm có tổ chức còn chưa chính xác, ảnh hưởng
đến tính nghiêm minh của pháp luật…
Vì vậy, nghiên cứu tìm hiểu một cách toàn diện và có hệ thống những

văn thạc sĩ Luật học, Khoa Luật - Đại học quốc gia Hà Nội, 2012.
Mặt khác, có một số bài viết, đề tài tập trung phân tích trường hợp đồng
phạm có tổ chức theo Luật hình sự Việt Nam, chẳng hạn như bài “Phạm tội
có tổ chức và trách nhiệm hình sự đối với bọn phạm tội có tổ chức” của tác
giả Nguyễn Vạn Nguyên; Bài viết “Vấn đề tội phạm có tổ chức và trách
nhiệm hình sự pháp nhân trong sửa đổi Bộ luật hình sự năm 1999” của
GS,TS. Hồ Trọng Ngũ đăng trên tạp chí Lập pháp số 6/2009; Bài viết “Đấu
tranh phòng, chống tội phạm có tổ chức và tội phạm xuyên quốc gia trong hội
nhập kinh tế quốc tế” của PGS,TS. Trần Hữu Ứng đăng trên tạp chí Cộng sản
điện tử, hoặc các bài viết của TS. Nguyễn Khắc Hải: “Đấu tranh phòng chống
tội phạm có tổ chức theo pháp luật hình sự Liên bang Nga” trong tạp chí
Khoa học - Đại học Quốc gia Hà Nội số 23/2007, “Nhận diện tội phạm có tổ

3


chức” (Kỷ yếu hội thảo khoa học về sửa đổi Bộ luật hình sự năm 1999) đã tạo
ra những nhận thức cơ bản trong việc tìm hiểu về đồng phạm có tổ chức. Đề
tài luận án của TS. Nguyễn Trung Thành “Phạm tội có tổ chức trong luật hình
sự Việt Nam và việc đấu tranh phòng chống” đề cập chi tiết đến trường hợp
đồng phạm có tổ chức ở cả góc độ Khoa học Luật hình sự và Tội phạm học.
Các nghiên cứu trên đã nghiên cứu một cách tổng thể về chế định đồng
phạm có tổ chức trong khoa học luật hình sự tại Việt Nam. Tuy nhiên, trong tình
hiện nay, chưa có công trình khoa học nào nghiên cứu một cách hệ thống, toàn
diện về đồng phạm có tổ chức trong pháp luật hình sự từ thực tiễn địa bàn tỉnh
Quảng Ninh. Do đó, tác giả đã lựa chọn vấn đề này để nghiên cứu nhằm góp
phần hoàn thiện lý luận về đồng phạm có tổ chức và nâng cao hiệu quả áp dụng
chế định đồng phạm có tổ chức từ thực tiễn địa bàn tỉnh Quảng Ninh.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu

5.2. Phương pháp nghiên cứu cụ thể
Trong quá trình nghiên cứu luận văn tác giả đã sử dụng các phương
pháp nghiên cứu cụ thể như: Tổng hợp, phân tích, so sánh, trao đổi, tọa đàm,
lấy ý kiến chuyên gia…
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn
6.1. Ý nghĩa lý luận
Luận văn nghiên cứu chuyên sâu, toàn diện, đầy đủ về chế định đồng
phạm có tổ chức trong Luật hình sự Việt Nam. Kết quả nghiên cứu và những
đề xuất được nêu trong luận văn có ý nghĩa trong việc hoàn thiện BLHS hiện
hành, hoàn thiện lý luận Khoa học Luật hình sự, đồng thời góp phần tăng
cường hiệu quả đấu tranh phòng, chống tội phạm nói chung và tội phạm được
thực hiện dưới hình thức đồng phạm có tổ chức nói riêng.
6.2. Ý nghĩa thực tiễn
Luận văn có thể sử dụng làm tài liệu tham khảo cho cán bộ làm công
tác nghiên cứu, giảng dạy về Khoa học pháp lý và các cán bộ đang công tác
tại các cơ quan bảo vệ pháp luật.

5


7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, kết cấu của luận văn
gồm 03 chương.
Chương 1. Những vấn đề lý luận và lịch sử pháp luật về đồng phạm có
tổ chức
Chương 2. Các quy định của pháp luật về đồng phạm có tổ chức và
thực tiễn áp dụng pháp luật hiện hành về đồng phạm có tổ chức trên địa bàn
tỉnh Quảng Ninh
Chương 3.Các giải pháp bảo đảm áp dụng các quy định về đồng phạm
có tổ chức

quy định đồng phạm có tổ chức với là hình thức đồng phạm đặc biệt với nội

7


dung không đổi so với BLHS năm 2015. Nghiên cứu cho thấy, BLHS năm
1985, 1999 và 2015 cũng như các lần sửa đổi, bổ sung đều quy định và sử
dụng thuật ngữ pháp lý “phạm tội có tổ chức”, trong đó đều khẳng định
“phạm tội có tổ chức là hình thức đồng phạm …”. Do vậy, có thể khẳng định
“phạm tội có tổ chức” và “đồng phạm có tổ chức” là một, đồng nhất với nhau
và là một hình thức cụ thể của đồng phạm.
Pháp luật hình sự các quốc gia trên thế giới cũng có những quy định và
tên gọi khác nhau về chế định đồng phạm có tổ chức. Có thể kể đến: BLHS
nước Cộng hòa Pháp gọi là băng có tổ chức, BLHS Liên bang Nga gọi là
nhóm có tổ chức… Nghiên cứu cho thấy, hiện nay ở Việt Nam có nhiều quan
điểm khác nhau về bản chất pháp lý của hình thức đồng phạm có tổ chức. Có
thể kể đến: [9, tr. 168 - 172]
Quan điểm thứ nhất, trong đồng phạm có tổ chức nhất thiết phải có sự
phân công vai trò, nhiệm vụ khác nhau giữa những người cùng thực hiện tội
phạm, trong đó bắt buộc phải có người cầm đầu, chỉ huy việc thực hiện tội
phạm. Trước khi thực hiện tội phạm, những người đồng phạm có tổ chức phải
có sự bàn bạc thống nhất về kế hoạch phạm tội, phương thức thực hiện tội
phạm một cách kỹ càng, chu đáo. Như vậy, có thể hiểu quan điểm này đã
đồng nhất giữa khái niệm đồng phạm có tổ chức với hình thức đồng phạm
phức tạp theo Khoa học Luật hình sự Việt Nam.
Quan điểm thứ hai, đồng phạm có tổ chức và đồng phạm có thông mưu
trước là một. Quan điểm này đã đồng nhất đồng phạm có tổ chức và đồng
phạm có thông mưu trước.
Quan điểm thứ ba, trong đồng phạm có tổ chức, những người đồng
phạm phải cùng thực hiện tội phạm có sự câu kết với nhau lâu dài, cùng nhau

có sự câu kết với nhau lâu dài, cùng nhau phạm nhiều tội hoặc phạm một tội
nhưng nhiều lần. Trong khi đó, BLHS ngoài quy định đồng phạm có tổ chức
là dấu hiệu định khung tăng nặng TNHS còn quy định đồng phạm có tổ chức
là tình tiết tăng nặng TNHS. Nếu theo quan điểm trên thì dấu hiệu đồng phạm
có tổ chức không được quy định trong những tội phạm cụ thể và các tình tiết

9


tăng nặng TNHS, điều này không phù hợp trên thực tế đồng thời giảm nhẹ
hiệu quả công tác đấu tranh chống tội phạm trên thực tiễn.
Như vậy, các quan điểm khác nhau xung quanh chế định đồng phạm có
tổ chức đều cho rằng đồng phạm có tổ chức là một hình thức đồng phạm đặc
biệt. Tuy nhiên do sự ghi nhận còn chung chung, chưa làm rõ được sự “câu
kết chặt chẽ” trong đồng phạm có tổ chức nên còn có nhận thức khác nhau về
hình thức đồng phạm này. Sự câu kết chặt chẽ của những người cùng thực
hiện tội phạm trong đồng phạm có tổ chức chính là đặc điểm chủ yếu thể hiện
bản chất của chế định đồng phạm có tổ chức, đồng thời cũng nói lên các dấu
hiệu đặc trưng riêng về mặt khách quan và chủ quan của chế định này. Vấn đề
đặt ra là sự câu kết chặt chẽ giữa những người đồng phạm trong đồng phạm
có tổ chức được thể hiện như thế nào.
Sự câu kết chặt chẽ giữa những người thực hiện tội phạm trong đồng
phạm có tổ chức thể hiện mức độ liên kết về khách quan và chủ quan của
những người đồng phạm. Phần I, Nghị quyết số 02-/HĐTP/NQ ngày 16 tháng
11 năm 1988 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn bổ
sung Nghị quyết số 02-HĐTP ngày 05 tháng 01 năm 1986 đã xác định sự câu
kết chặt chẽ trong đồng phạm có tổ chức. Mặc dù Nghị quyết số
02/HĐTP/NQ ngày 16 tháng 11 năm 1988 và Nghị quyết số 02-HĐTP ngày
05 tháng 01 năm 1986 hướng dẫn áp dụng một số quy định của BLHS năm
1985. Tuy nhiên xét về bản chất, chế định đồng phạm có tổ chức trong BLHS

có tổ chức phải cùng thực hiện tội phạm. Điều này có nghĩa những người
trong đồng phạm có tổ chức phải thực hiện một trong các hành vi trực tiếp
thực hiện tội phạm (thực hiện hành vi khách quan được mô tả trong cấu thành
tội phạm), hoặc hành vi không trực tiếp thực hiện tội phạm (không thực hiện
hành vi khách quan được mô tả trong cấu thành tội phạm nhưng chủ mưu,
cầm đầu, chỉ huy; kích động, dụ dỗ thúc đẩy hoặc tạo điều kiện tinh thần, vật
chất để cho người khác trực tiếp thực hiện tội phạm). Bằng những hành vi cụ
thể của mình, những người trong đồng phạm có tổ chức đều có hành vi nguy

11


hiểm cho xã hội, những hành vi đó được thực hiện trong sự liên kết thống
nhất với nhau, tạo điều kiện thuận lợi cho nhau trong quá trình thực hiện tội
phạm. Trong đồng phạm có tổ chức, có thể tất cả những người trong đồng
phạm đều trực tiếp thực hiện tội phạm, cũng có thể chỉ một hoặc một số người
trực tiếp thực hiện tội phạm còn những người khác mặc dù không trực tiếp
thực hiện tội phạm nhưng đã góp phần vào việc thực hiện tội phạm trong mối
liên kết thống nhất với người trực tiếp thực hiện tội phạm. Hành vi của những
người trong đồng phạm có tổ chức dù trực tiếp hay không trực tiếp thực hiện
tội phạm đều có mối quan hệ nhân quả với hậu quả của tội phạm xảy ra, hậu
quả của tội phạm là kết quả chung do hành vi của những người đồng phạm có
tổ chức thực hiện.
Về chủ quan, những người trong đồng phạm có tổ chức phải thực hiện
tội phạm dưới lỗi cố ý, có thể là cố ý trực tiếp hoặc cố ý gián tiếp. Điều này
có nghĩa, về lý trí những người trong đồng phạm có tổ chức nhận thức được
hành vi của mình và hành vi của những người đồng phạm có tổ chức khác là
nguy hiểm cho xã hội, thấy trước hậu quả của tội phạm do việc cùng thực
hiện tội phạm sẽ xảy ra hoặc có thể xảy ra. Nếu chỉ nhận thức được hành vi
của mình là nguy hiểm cho xã hội nhưng không nhận thức được hành vi của

BLHS năm 2015.
Thứ hai, những người trong đồng phạm có tổ chức có sự câu kết chặt
chẽ với nhau trong việc thực hiện tội phạm
Với tính chất là hình thức thực hiện tội phạm đặc biệt, những người
trong đồng phạm có tổ chức có sự câu kết chặt chẽ trong việc thực hiện tội
phạm. Sự câu kết chặt chẽ là đặc điểm quan trọng nhất thể hiện tính chất và
mức độ nguy hiểm cao hơn của đồng phạm có tổ chức so với các hình thức
đồng phạm khác. Đặc trưng “câu kết chặt chẽ” đã nói lên tính chất của đồng
phạm có tổ chức, thể hiện ở những đặc điểm khách quan và chủ quan, là căn
cứ để phân biệt đồng phạm có tổ chức và các hình thức đồng phạm khác. Tuy
nhiên, khoản 2 Điều 17 BLHS 2015 quy định những người trong đồng phạm

13


có tổ chức có sự “câu kết chặt chẽ” hoàn toàn mang tính chất định tính, dẫn
đến nhiều cách hiểu khác nhau trong quá trình áp dụng pháp luật.
Dưới góc độ Khoa học Luật hình sự, theo tác giả, có thể đánh giá sự
“câu kết chặt chẽ” trong đồng phạm có tổ chức như sau:
Về khách quan, tính câu kết chặt chẽ trong đồng phạm có tổ chức được
thể hiện thông qua tính tổ chức chặt chẽ và tính kế hoạch thống nhất.
Tính tổ chức chặt chẽ được hiểu là trước khi thực hiện tội phạm, những
người trong đồng phạm có tổ chức thường có sự liên kết, tập hợp với nhau
thành các băng, nhóm tội phạm với quy mô khác nhau. Những băng, nhóm tội
phạm này có phương hướng hoạt động trong một thời gian dài, chặt chẽ.
Trong nhiều trường hợp chỉ tổ chức phạm tội trong một thời gian ngắn. Giữa
những người đồng phạm có sự phân công vai trò giữa người cầm đầu, chỉ
huy, người xúi giục, người giúp sức và người thực hành trong việc thực hiện
tội phạm, mỗi người đều chịu sự điều khiển chung thống nhất. Hay nói cách
khác, trong hình thức đồng phạm này tồn tại quan hệ giữa “người quản lý” và

tính toán chu đáo, kỹ càng, đầy đủ và thống nhất, từ khâu chuẩn bị, thực hiện
tội phạm cho đến khi tội phạm kết thúc, thậm chí còn che giấu tội phạm. Điều
này cho thấy đồng phạm có tổ chức luôn là hình thức đồng phạm có thông
mưu trước. [20, tr.50]
Về mặt chủ quan, đồng phạm có tổ chức là hình thức đồng phạm
cóthông mưu trước ở mức độ cao. Sự cố ý cùng liên kết về mặt ý thức của
những người phạm tội có tổ chức khi bàn bạc kế hoạch và phân công vai trò
đã hình thành nên mối quan hệ và tính thống nhất trong hành động của họ.
Mối quan hệ này rất cặt chẽ và bền vững. Trong ý thức chủ quan của mỗi
người tham gia thực hiện tội phạm, mụa đích phạm tội được hằn sâu. Do vậy,
mỗi khi ý thức phạm tội được nêu ra thì mỗi thành viên đều chấp nhận tuyệt
đối, cùng bàn bạc, thỏa thuận phương pháp, cách thức thực hiện và che giấu
tội phạm tối ưu. Trên cơ sở đó, trong quá trình thực hiện tội phạm, mỗi người
tham gia thực hiện tội phạm trong đồng phạm có tổ chức đều tìm cách hỗ trợ

15


những người đồng phạm khác và nỗ lực thực hiện hoạt động của mình nhằm
đạt được kết quả phạm tội đã đề ra. [20, tr.50-51]
1.2. Trách nhiệm hình sự đối với đồng phạm có tổ chức
1.2.1. Cơ sở pháp lý của trách nhiệm hình sự trong trường hợp đồng
phạm có tổ chức
Điều 2 BLHS năm 2015 quy định: “chỉ người nào phạm một tội đã
được Bộ luật Hình sự quy định mới phải chịu trách nhiệm hình sự”. Như vậy,
cơ sở cần thiết và đầy đủ để truy cứu TNHS trong đồng phạm có tổ chức là
những người trong đồng phạm có tổ chức phải thực hiện tội phạm được quy
định trong BLHS.
Trong đồng phạm có tổ chức, những người thực hiện tội phạm ngoài
thỏa mãn những dấu hiệu pháp lý của tội phạm nói chung còn thỏa mãn

cùng một tội danh, theo cùng một điều luật quy định tội phạm và trong phạm
vi chế tài mà điều luật đó quy định. Điều này có nghĩa, những người trong
đồng phạm có tổ chức phải chịu TNHS chung về tội phạm mà họ đã thực hiện
cùng với dấu hiệu định khung tăng nặng TNHS “có tổ chức” nếu điều luật
quy định tội phạm có quy định, hoặc phải cùng chịu TNHS chung về tình tiết
tăng nặng TNHS “phạm tội có tổ chức” quy định tại điểm a khoản 1 Điều 52
BLHS năm 2015.
Ngoài việc phải chịu TNHS chung về tội phạm thực hiện, những người
đồng phạm có tổ chức còn phải chịu TNHS chung về những dấu hiệu định
khung tăng nặng TNHS trong điều luật quy định tội phạm phải chịu TNHS.
Ngoài ra, những người đồng phạm có tổ chức còn phải chịu TNHS chung về
những tình tiết tăng nặng TNHS quy định tại Điều 52 BLHS nếu cùng câu kết
chặt chẽ để thực hiện tội phạm.
Ngoài ra, tất cả những người trong đồng phạm có tổ chức phải chịu
trách nhiệm chung về nguyên tắc truy cứu TNHS, nguyên tắc quyết định hình
phạt, thời hiệu truy cứu TNHS… đối với tội phạm mà họ đã câu kết chặt chẽ
cùng thực hiện.

17


Thứ hai, những người trong đồng phạm có tổ chức phải chịu trách
nhiệm hình sự độc lập khi thực hiện tội phạm.
Trong đồng phạm có tổ chức, những người đồng phạm phải cùng chịu
TNHS chung về tội phạm họ đã thực hiện. Tuy nhiên, xuất phát từ nguyên tắc
TNHS là trách nhiệm của cá nhân, người phạm tội chỉ phải chịu TNHS về
những gì do cá nhân mình đã thực hiện bằng hành động hoặc không hành
động. Do vậy, việc xác định TNHS cụ thể đối với từng người trong đồng
phạm có tổ chức cần căn cứ vào hành vi cụ thể của họ. Nguyên tắc này được
thể hiện trên những nội dung sau:

định thực hiện.
Việc loại trừ TNHS, miễn TNHS, miễn hình phạt, miễn chấp hành hình
phạt của người đồng phạm có tổ chức nào thì chỉ áp dụng đối với người đó
mà không áp dụng đối với những người đồng phạm khác.
Thứ ba, những người trong đồng phạm có tổ chức phải chịu trách
nhiệm hình sự tương xứng với tính chất, mức độ tham gia của họ khi câu kết
chặt chẽ thực hiện tội phạm
Mặc dù những người đồng phạm có tổ chức tuy cùng phạm một tội
nhưng tính chất và mức độ tham gia là khác nhau, do đó tính chất và mức độ
nguy hiểm cho xã hội của mỗi người cũng khác nhau. Cá thể hóa TNHS của
những người trong đồng phạm có tổ chức có cơ sở lý luận là nguyên tắc cá
thể hóa TNHS nói chung. Theo nguyên tắc này, việc xác định TNHS phải phù
hợp với tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi mà những người
đồng phạm thực hiện trong vụ án đồng phạm có tổ chức.
Tính chất, mức độ tham gia thực hiện tội phạm của những người trong
đồng phạm có tổ chức được xác định bởi vai trò của từng người đồng phạm,
đặc thù về hoạt động của họ trong đồng phạm có tổ chức. Xét về tính chất
hành vi phạm tội trong đồng phạm có tổ chức, người tổ chức với hành vi chủ
mưu, cầm đầu, chỉ huy, phân công vai trò, vị trí cho từng người đồng phạm.
Người tổ chức giữa vai trò thống nhất nỗ lực phạm tội của những người đồng
phạm, tạo sự liên kết chặt chẽ giữa những người đồng phạm nên hành vi của

19



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status