(Luận văn thạc sĩ) Đương nhiên xoá án tích theo pháp luật hình sự Việt Nam từ thực tiễn tại thành phố Hải Phòng - Pdf 55

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

NGUYỄN ĐÌNH KỲ

ĐƯƠNG NHIÊN XÓA ÁN TÍCH THEO PHÁP
LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM TỪ THỰC TIỄN
TẠI THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

LUẬN VĂN THẠC SĨ
LUẬT HÌNH SỰ VÀ TỐ TỤNG HÌNH SỰ

Hà Nội, 2019


VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

NGUYỄN ĐÌNH KỲ

ĐƯƠNG NHIÊN XÓA ÁN TÍCH THEO PHÁP
LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM TỪ THỰC TIỄN
TẠI THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

Ngành: Luật hình sự và Tố tụng hình sự
Mã số: 8.38.01.04

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS. NGUYỄN TRÍ TUỆ

tích tại Thành phố Hải Phòng ..................................................................... 38
2.2 Những khó khăn vướng mắc và nguyên nhân của những khó khăn,
vướng mắc đó trong thực hiện chế định đương nhiên xoá án tích tại thành
phố Hải Phòng ............................................................................................. 43
Chương 3: KIẾN NGHỊ HOÀN THIỆN CÁC QUY ĐỊNH CỦA PHÁP
LUẬT VÀ THỰC HIỆN QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VỀ ĐƯƠNG
NHIÊN XOÁ ÁN TÍCH TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG 51
3.1 Một số kiến nghị nhằm hoàn thiện các quy định của pháp luật về đương
nhiên xóa án tích ......................................................................................... 51
3.2. Một số kiến nghị thực hiện quy định của pháp luật về đương nhiên xóa
án tích tại Thành phố Hải Phòng ................................................................. 55
KẾT LUẬN…………………………………………………………………67
TÀI LIỆU THAM KHẢO…………………………………………………69


DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
Chữ viết tắt

Chữ viết đầy đủ

HĐND

Hội đồng nhân dân

LLTP

Lý lịch tư pháp

NĐ – CP


DANH MỤC BIỂU ĐỒ
Số hiệu

Tên biểu đồ

biểu đồ
2.1

Kết quả xử lý vụ án hình sự trên địa bàn thành phố Hải
Phòng từ 2014-2018

Trang

38

Tỷ lệ số người được đương nhiên xoá án tích so với số người
2.2

được xoá án tích trên địa bàn thành phố Hải Phòng giai đoạn

40

2014-2018
2.3

Nguyên nhân người bị kết án không tiến hành các thủ tục
đương nhiên được xoá án tích

41


1


2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Như đã đề cập ở trên, các chế định pháp luật về xoá án tích rất quan trọng
nhưng cũng rất phức tạp, đòi hỏi phải có sự nghiên cứu, tìm hiểu, tuy nhiên, trong
khoa học Luật Hình sự, vấn đề này chưa được quan tâm đúng mức.
Xoá án tích chỉ được đề cập một cách chính thức trong Bộ luật hình sự
năm 1985 và được hoàn thiện trong Bộ luật Hình sự năm 1999 bằng việc quy
định chế định xoá án tích, còn trước đó, nó chưa được quy định quy định trong
bất kì văn bản nào. Chính vì vậy, các nhà khoa học đầu tư nghiên cứu chế định
này còn hạn chế. Sau khi được quy định chính thức, nhiều nhà khoa học đã bắt
đầu bắt tay vào nghiên cứu dù ở cấp độ không cao. Các nghiên cứu này chỉ
dừng lại ở các công trình nghiên cứu chung về chế độ xoá án tích hoặc một
phần đề cập đến nhận thức hoặc phân biệt án tích, xoá án tích.
- Các đề tài nghiên cứu được phát hành thành giáo trình, sách chuyên khảo:
“ Những vấn đề cơ bản trong khoa học Luật Hình sự” ( phần chung) của
tác gia Lê Cảm, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội, 2005;
“ Xoá án – mô hình lý luận về Bộ luật Hình sự Việt Nam” của tác giải
Phạm Hồng Hải, NXB Khoa học và xã hội Hà Nội, 1993;
“Xoá án tích” của tác giả Trần Đình Nhã,
Ngoài ra còn được đề cập trong giáo trình Luật Hình sự của các trường
Đại học Luật Hà Nội, Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh, khoa Luật – Đại
học Quốc gia Hà Nội,… hay các cuốn Bình luận khoa học Bộ luật Hình sự Việt
Nam của Viện khoa học pháp lý – Bộ Tư pháp.
- Các đề tài nghiên cứu là luận văn, luận án bao gồm: “Chế định xoá án
tích trong Bộ luật Hình sự Việt Nam 1999” của Nguyễn Thị Minh Hương ( khoá
luận tốt nghiệp cử nhân Luật 2001); “Chế định xoá án tích trong Luật hình sự
Việt Nam” của tác giả Nguyễn Thị Lan (khoá luận tốt nghiệp cử nhân Luật năm
2003); “Miễn chấp hành hình phạt và xoá án tích trong Luật Hình sự Việt

sử lập pháp Việt Nam.

3


Những những vấn đề lý luận chung đó, luận văn đi vào nghiên cứu việc
áp dụng các quy định đương nhiên xoá án tích của Bộ luật hình sự Việt Nam.
Trên cơ sở nghiên cứu các vấn đề bất cập, tồn tại, vướng mắc trong quá trình
áp dụng trên thực tiễn và từ đó đề xuất những giải pháp, kiến nghị nhằm hoàn
thiện chế định đương nhiên xoá án tích để tạo ra sự đồng bộ trong việc áp dụng
để đảm bảo hiệu quả và tính thống nhất cao.
4. Đối tûợng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Luận văn nghiên cứu về đương nhiên xoá án tích – một khía cạnh của chế
định xoá án tích, cụ thể là nghiên cứu các vấn đề: khái niệm án tích, xoá án tích,
đương nhiên xoá án tích, điểu kiện đương nhiên xoá án tích, thủ tục đương
nhiên xoá án tích,… Tuy nhiên, để luận văn được sâu sắc, cũng cần phải nghiên
cứu các vấn đề liên quan khác của Luật Hình sự và Luật tố tụng Hình sự như:
quyết định hình phạt, hình phạt, thời giạn thi hành hình phạt, miễn trách nhiệm
hình sự,… nhằm làm rõ hơn chế định xoá án tích theo Luật Hình sự Việt Nam.
4.2 Phạm vi nghiên cứu
Luận văn nghiên cứu về đương nhiên xoá án tích theo Bộ luật Hình sự
Việt Nam hiện hành. Đồng thời cũng đề cập đến các quy định của Bộ luật Tố
tụng Hình sự, Luật Thi hành án Hình sự, Luật Lý lịch tư pháp, nhằm giải quyết
đối tượng và nhiệm vụ nghiên cứu.
Luận văn còn nghiên cứu các thực tiễn áp dụng các quy định của pháp luật
Hình sự Việt Nam về đương nhiên xoá án tích.
5. Cô sở lý luận và phûông pháp nghiên cứu
Cơ sở lý luận mà tác giả vận dụng để nghiên cứu là chủ nghĩa duy vật biện
chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử theo quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin,

- Luận văn với những nội dung cơ bản về chế định xoá án tích góp phần
xác định đúng đắn các căn cứ, điều kiện, thủ tục của việc áp dụng các chế định
xoá án tích đối với những người đã bị kết án, những người đã thi hành bản án

5


hoặc hết thời hạn thi hành bản án để họ có thể bớt mặc cảm, tránh bị xã hội xa
lánh và có cơ hội làm lại cuộc đời.
- Luận văn sẽ đưa ra những đề xuất, định hướng và giải pháp tổng thể để
hoàn thiện các quy định của pháp luật về xoá án tích trong Bộ luật Hình sự nói
chung đồng thời tạo ra sự thống nhất và hiệu quả trong việc áp dụng các quy
định pháp luật này phù hợp với yêu cầu của cuộc cải cách tư pháp và xã dựng
nhà nước pháp quyền theo định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta hiện nay.
- Kết quả từ những phân tích của luận văn sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho
các cơ quan nhà nước có thẩm quyền trong hoạt động truy cứu trách nhiệm hình
sự, góp phần nâng cao hiệu quả của cuộc đấu tranh phòng chống tội phạm ở
nước ta.
7. Kết cấu của luận vân
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội
dung của luận vân gồm 3 chûông:
Chûông 1: Một số vấn đề lý luận chung về xoá án tích và đương
nhiên xoá án tích.
Chûông 2: Thực tiễn áp dụng các quy định pháp luật về đương nhiên
xoá án tích tại Thành phố Hải Phòng
Chûông 3: Kiến nghị hoàn thiện các quy định của pháp luật và thực
hiện quy định của pháp luật về đương nhiên xoá án tích trên địa bàn thành
phố Hải Phòng.

6

7


việc người bị kết án mặc dù đã chấp hành xong bản án (bao gồm hình phạt
chính, hình phạt bổ sung và các quyết định khác của Toà) nhưng vẫn chưa hết
án tích hoặc chưa được xoá án tính theo quy định của pháp luật hình sự” [11].
Các quan điểm của các nhà nghiên cứu nêu trên đã phần nào thể hiện được
những nội dung cơ bản của án tích. Tuy nhiên, trên thực tế không phải mỗi bản án
kết tội của Toà án đều làm phát sinh án tích như trường hợp miễn trách nhiệm hình
sự bởi đã miễn trách nhiệm hình sự không làm phát sinh án tích. Án tích cũng
không phải là việc thực hiện trách nhiệm hình sự hoặc việc kết án cũng không phải
là dấu hiệu chung nhất của việc người phạm tội được xoá án tích.
Mặc dù tồn tại nhiều quan điểm khác nhau, tuy nhiên, tác giả thấy rằng để
có thể hiểu được bản chất của vấn đề này, chúng ta cần đưa ra được những bản
chất pháp lý, nội dung cũng như giới hạn của án tích.
Về bản chất pháp lý: Án tích là hậu quả pháp lý của việc phạm tội, là một
trong những sự thể hiện của trách nhiệm hình sự.
Về điều kiện: Án tích chỉ xuất hiện khi có đầy đủ các điều kiện sau:
- Có bản án kết tội đã có hiệu lực pháp luật của Toà án;
- Người bị kết án bị áp dụng hình phạt;
Chỉ khi đáp ứng đầy đủ và đồng thời hai điều kiện nêu trên thì mới có án tích.
Về giới hạn của án tích: Án tích chỉ tồn tại trong khoảng thời gian từ khi
bản án kết tội của Toà án có hiệu lực pháp luật đến khi được xoá bỏ (đương
nhiên được xoá án tích hay xoá án tích theo quyết định của Toà án).
Từ những phân tích trên, tác giả mạnh dạn đưa ra định nghĩa: “Án tích là là
hậu quả pháp lý của việc phạm tội mà người bị kết án phải chịu hình phạt theo bản
án kết tội đã có hiệu lực pháp luật, gánh chịu trong thời gian nhất định kể từ khi bản
án có hiệu lực pháp luật đến khi hậu quả pháp lý của nó bị xoá bỏ theo quy định của
pháp luật”.


mới sẽ không đánh giá đúng mức độ nguy hiểm của tội phạm mới thực hiện

9


trong thời gian này. Tóm lại, án tích xuất hiện ngay sau khi người phạm tội bị
Toà án kết tội bằng một bản án buộc tội có hiệu lực pháp luật.
Về thời hạn tồn tại: Án tích chỉ tồn tại trong một khoảng thời gian nhất định.
Án tích là đặc điểm nhân thân xấu và việc mang án tích có thể mang lại những hậu
quả pháp lý bất lợi cho người mang án tích nên không thể buộc họ phải vĩnh viễn
mang án tích cho một tội danh. Do đó, án tích có thể được xoá sau một thời gian
đủ để chứng tỏ người phạm tội đã “hoàn lương” – không còn nguy hiểm đối với
xã hội nữa. Đây được coi là thời gian thử thách đối với người bị kết án chấp hành
xong hình phạt. Thời hạn của án tích được bắt đầu từ khi bản án của Toà án được
tuyên, kết thúc khi được xoá bỏ theo quy định của pháp luật.
- Hậu quả pháp lý của việc mang án tích
Án tích có thể mang lại những hậu quả pháp lý bất lợi cho người mang án
tích. Sự bất lợi của việc mang án tích đối với người bị kết án và bị áp dụng hình
phạt được thể hiện ở nhiều phương diện:
Người mang án tích trình lý lịch tư pháp cũng như các giấy tờ chứng thực về
nhân thân của người phạm tội sẽ ghi “có tiền án”, đồng thời chỉ rõ loại tội phạm cũng
như hình phạt dành cho tội phạm đó. Khi đó, án tích như một vét nhơ trong lý lịch
của người phạm tội, dẫn tới nhiều hậu quả xã hội bất lợi đối với người phạm tội.
Do tính chất nguy hiểm của hành vi phạm tội mà trong một số lĩnh vực,
pháp luật còn hạn chế quyền của người mang án tích. Ví dụ như Luật Nuôi con
nuôi năm 2010 quy định: “người chưa được xoá án tích về một trong các tội
cố ý xâm phạm tính mạng, sức khoẻ, nhân phẩm, danh dự của người khác;
ngược đãi hoặc hành hạ ông bà, cha mẹ, vợ chồng, con cháu, người có công
nuôi dưỡng mình; dụ dỗ, ép buộc hoặc chứa chấp người chưa thành niên vi
phạm pháp luật,….sẽ không được nhận con nuôi”.

Đối với một số cấu thành tội phạm, dấu hiệu “chưa xoá án tích” trở thành
một trong những yếu tố định tội. Theo đó, nếu người phạm tội không có án tích
thì mức độ nguy hiểm của hành vi vi phạm pháp luật chưa cao, người vi phạm
có thể không bị truy cứu trách nhiệm hình sự mà chỉ bị xử lý hành chính. Tuy

11


nhiên, dấu hiệu “có tiền án” đã khiến mức độ nguy hiểm của hành vi tăng lên
và người phạm tội bị truy cứu trách nhiệm hình sự.
Ví dụ: Điểm b khoản 1 Điều 173 quy định về tội trộm cắp tài sản:
“Người nào trộm cắp tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng
đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong
các trường hợp sau đây thì bị phạt tải tạo không giam giữ đến 3 năm hoặc phạt
tù từ 6 tháng đến 3 năm: ……b) Đã bị kết án về tội này hoặc một trong các tội
quy định tại Điều 168,169,170,171,172,174,175 và 290 của Bộ luật này, chưa
được xoá án tích mà còn vi phạm”. [37].
Việc mang án tính dẫn đến rất nhiều các hậu quả pháp lý bất lợi đối với những
người mang án tích. Quy định này thể hiện sự nghiêm trị của pháp luật Hình sự
đối với những người phạm tội, đặc biệt là những đối tượng không biết hối cải vẫn
tái phạm.
1.1.2. Khái niệm xoá án tích
Việc kết án là một sự kiện khách quan và không gì có thể xoá bỏ được sự
kiện bị kết án của người phạm tội. Tuy nhiên, án tích không phải đặc điểm nhân
thân có tích chất vĩnh viễn. Với tính chất nhân đạo của pháp luật Hình sự nhằm
giúp xoá bỏ mặc cảm tội lỗi với những người đã từng bị kết án, giúp họ tái hoà
nhập với cộng đồng, Bộ luật Hình sự đã quy định, án tích chỉ tồn tại trong một thờ
gian nhất định và khi đáp ứng đủ các điều kiện theo quy định của pháp luật thì án
tích có thể được xoá bỏ.
Cũng tương tự như án tích, xoá án tích cũng là một khái niệm với rất nhiều

“Xóa án tích là chế định của luật hình sự Việt Nam thể hiện ở việc xóa bỏ
hậu quả pháp lý, xóa bỏ trách nhiệm hình sự đối với người bị kết án và phải
chịu hình phạt theo bản án đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án khi có đủ các
điều kiện của pháp luật quy định và người đó được coi như chưa bị kết án.”
Xoá án tích là một chế định pháp luật nhân đạo của Luật Hình sự thể hiện
sự thừa nhận của nhà nước về mặt pháp lý người bị kết án không còn mang án
tích nữa và không phải tiếp tục gành chịu bất kỳ hậu quả pháp lý nào do việc
bị kết án mang lại. Người được xoá án tích được coi là chưa bị kết án. Điều đó

13


có nghĩa là kể từ thời điểm án tích được xoá, họ trở thành những người hoàn
toàn bình thường về mặt Tư pháp, không ai có thể căn cứ vào sự kiện họ đã bị
kết án trước đây để hạn chế quyền lợi của họ. Sau khi được xoá án tích, mọi
giấy tờ liên quan đến căn cước, lý lịch của họ đều được ghi là “không có án
tích” và nếu người đó lại phạm vào tội mới thì cũng không bị xác định là tái
phạm, tái phạm nguy hiểm.
1.2 Khái niệm đương nhiên xoá án tích
Xóa án tích là một chế định thể hiện rõ tính nhân đạo trong chính sách
pháp luật của nhà nước, nhằm giúp người đã từng phạm tội tái hòa nhập cộng
đồng một cách thuận lợi hơn. Thời gian qua đã chứng minh, đó là một chính
sách đúng đắn trong việc giúp người phạm tội có cơ hội sửa sai lỗi lầm và hạn
chế việc phân biệt đối xử đối với những đối tượng đã từng là một người phạm
tội. Chế định xoá án tích được quy định từ Điều 69 đến Điều 73 Bộ luật Hình
sự 2015. Theo đó, việc xoá án tích đối với người đã chấp hành xong bản án có
hiệu lực pháp luật của Toà án bằng một trong hai cách: Đương nhiên được xoá
án tích và xoá án tích theo quyết định của Toà án. Người được xoá án tích coi
như chưa bị kết án.
Đương nhiên xoá án tích là trường hợp người bị kết án được coi là không

Theo quy định trên, một người sau khi được xoá án tích thì được coi như
là chưa bị kết án. Chính vì vậy, xoá án tích có nghĩa lớn cả mặt chính trị - pháp
lý, mặt xã hội.
Thứ nhất, về mặt chính trị - pháp lý:
Luật quy định: “Người được xoá án tích coi như chưa bị kết án” vì vậy
xoá án tích thể hiện sự công nhận, coi như chưa bị kết án đối với người đã từng
bị Toà án xét xử, kết tội. Khi một người được xoá án tích phạm tội mới thì Toà
án sẽ không được căn cứ vào tiền án trước đó để xác định là tái phạm hay tái
phạm nguy hiểm. Có nghĩa là kể từ thời điểm được xoá án án tích, người phạm
tội sẽ trở thành người bình thường về mặt tư pháp và không ai có thể căn cứ
vào việc họ đã bị kết án trước đây để hạn chế quyền lợi của họ. Sau khi được

15


xoá án, họ trở thành người “không có án tích” và nếu người đó phạm tội mới
thì được coi như phạm tội lần đầu.
Với chế định xoá án tích, một mặt góp phần đảm bảo cho việc thực hiện
nhất quán nguyên tắc công bằng, mặt khác phản ánh nguyên tắc nhân đạo, tôn
trọng quyền con người của pháp luật Hình sự. Vì pháp luật cần thiết phải quy
định các chế tài nghiêm khắc để nghiêm trị và răn đe người phạm tội, nhưng
không thể thiếu tính nhân đạo. Xã hội muốn có công bằng và nhân đạo thì xã
hội đó phải có một hệ thống pháp luật vì con người. Xã hội cũng không thể ổn
định và phát triển nếu như pháp luật của xã hội ấy không vì con người. Nhưng
nếu pháp luật không mở đường cho sự hoàn lương của người bị kết án thì pháp
luật đã không mang được đúng ý nghĩa mong muốn của nó.
Thứ hai, về mặt xã hội: Quy định của pháp luật về xoá án tích nếu được Toà
án áp dụng đúng đắn và chính xác trong thực tiễn sẽ đem lại hàng loạt các lợi ích
xã hội.
Xoá án tích thể hiện sự nhìn nhận của pháp luật vào chiều hướng thay đổi

nào sau khi chấp hành xong hình phạt hoặc được đặc xá đều bị coi là tái
phạm”. Có thể nói, án tích sẽ tồn tại suốt đời đối với các tội phạm xâm hại an
ninh quốc gia.
Bộ luật Hình sự nước Cộng hoà nhân dân Trung Hoa đã không đặt ra vấn
đề xoá án tích nên vấn đề đương nhiên xoá án tích cũng không được đề cập tới.
Vấn đề này chỉ được xem xét khi người bị kết án phạm tội mới. Đối với các
vấn đề này thì Bộ luật Hình sự cũng có sự phân hoá rất lớn: Tội vô ý, tội bị xử
lý bằng các hình phạt không phát sinh án tích; chỉ tội bị xử phạt tù mới được
coi là có án tích trong thời hạn 5 năm kể từ khi chấp hành xong hình phạt tù
hoặc được đặc xá; đối với tội phạm an ninh quốc gia, án tích sẽ tồn tại vĩnh viễn
nếu người phạm tội bị kết án lại phạm tội xâm phạm an ninh quốc gia mới.

17


1.4.2 Đương nhiên xoá án tích theo quy định của Bộ luật Hình sự Nhật Bản
Bộ luật Hình sự Nhật Bản cũng giống như Bộ luật Hình sự Việt Nam, khi
quy định về xoá án tích không đưa ra một khái niệm cụ thể về xoá án tích hay
đương nhiên xoá án tích. Tại Điều 34.2 quy định về Hết hiệu lực của việc xử phạt:
“1. Khi đã quá 10 năm kể từ khi người bị kết án chấp hành xong hình phạt
tù không có lao động bắt buộc hoặc hình phạt nặng hơn, hoặc đã được miễn
chấp hành hình phạt đó mà không bị kết án phạt tiền hoặc hình phạt nặng hơn
về tội khác thì việc kết án hết hiệu lực. Cũng áp dụng tương tự như vậy khi đã
qua 5 năm kể từ khi người bị kết án chấp hành xong hình phạt tiền hoặc hình
phạt nhẹ hơn, hoặc đã được miễn chấp hành hình phạt đó mà không bị kết án
phạt tiền hoặc hình phạt nặng hơn về tội khác.
2. Trong trường hợp một người đã bị tuyên bố có tội nhưng được miễn
hình phạt hoặc không bị kết án phạt tiền hoặc hình phạt nặng hơn về tội khác
trong vòng 2 năm kể từ khi việc tuyên bố đó có hiệu lực pháp luật thì việc tuyên
bố người đó có tội hết hiệu lực”.

b. Đối với người bị kết án với những hình phạt nhẹ hơn hạn chế tự do –
sau một năm kể từ khi chấp hành xong hình phạt;
c. Đối với người bị kết án hạn chế tự do hoặc phạt tù về tội ít nghiêm trọng
hoặc tội nghiêm trọng – sau 2 năm kể từ ngày chấp hành xong hình phạt;
d. Đối với người bị kết án tù về tội rất nghiêm trọng – sau bốn năm kể từ
ngày chấp hành xong hình phạt;
e. Đối với người bị kết án tù về tội đặc biệt nghiêm trọng – sau sáu năm
kể từ ngày chấp hành xong hình phạt.”
Quy định của Bộ luật Hình sự Nga về đương nhiên xoá án tích về cơ bản
cũng tương đồng với quy định của luật Hình sự Việt Nam. Tuy nhiên, nếu Bộ
luật Hình sự Việt Nam 1999 quy định người bị kết án sẽ đương nhiên được xoá
án tích khi không phạm vào các tội quy định tại Chương XI – các tội xâm phạm
an ninh quốc gia và Chương XXIV – các tội phạm phá hoại hoà bình, chống
loài người và chống chiến tranh thì Bộ luật Hình sự Nga lại không quy định
riêng về loại tội phạm nào, mà đó là quy định của tất cả các loại tội phạm nói

19



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status