Án tích theo pháp luật hình sự việt nam từ thực tiễn tỉnh đồng nai - Pdf 49

VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

HUỲNH NGỌC THẢO

ÁN TÍCH THEO PHÁP LUẬT HÌNH SỰ
VIỆT NAM TỪ THỰC TIỄN TỈNH ĐỒNG NAI

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

HÀ NỘI - 2018


VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

HUỲNH NGỌC THẢO

ÁN TÍCH THEO PHÁP LUẬT HÌNH SỰ
VIỆT NAM TỪ THỰC TIỄN TỈNH ĐỒNG NAI
Chuyên ngành: Luật hình sự và tố tụng hình sự
Mã số : 60.38.01.04

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
TS. NGUYỄN VĂN HIỂN

HÀ NỘI - 2018

2.2. Thực tiễn áp dụng chế định án tích ở tỉnh Đồng Nai giai đoạn 2013-2017 ..55
2.3. Những tồn tại, khó khăn vướng mắc trong áp dụng chế định án tích theo
pháp luật hình sự Việt Nam ở tỉnh Đồng Nai trong giai đoạn 2013-2017. ..........58
2.4. Nguyên nhân của những tồn tại hạn chế trong việc áp dụng chế định án tích
theo pháp luật hình sự ở tỉnh Đồng Nai từ năm 2013-2017. ................................61
Chương 3: CÁC GIẢI PHÁP ĐẢM BẢO ÁP DỤNG ĐÚNG PHÁP LUẬT
HÌNH SỰ VỀ CHẾ ĐỊNH ÁN TÍCH VÀ XÓA ÁN TÍCH Ở TỈNH ĐỒNG NAI66
3.1. Các giải pháp chung đảm bảo áp dụng đúng pháp luật hình sự về chế định án
tích ở tỉnh Đồng Nai .............................................................................................66
3.2. Các giải pháp cụ thể bảo đảm áp dụng đúng pháp luật hình sự về chế định án
tích ở tỉnh Đồng Nai .............................................................................................69
KẾT LUẬN .............................................................................................................. 79
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO


DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
BCA

: Bộ Công an

BCT

: Bộ Chính trị

BNV

: Bộ Nội vụ

BTP


NN

: Nhà Nước

NCTN

: Người chưa thành niên

LLTP

: Lý lịch tư pháp

PL

: Pháp luật

PLHS

: Pháp luật hình sự

PTP

: Phòng Tư pháp

TAND

: Toà án nhân dân

THA


lịch tư pháp của người đã từng là tội phạm hình sự. Mặc dù chế định án tích,đã xuất
hiện ngay từ nhữngngày đầu tiên (năm 1945) trong lịch sử tư pháp của nước ta và
được quy định là một trong những chế định rất quan trọng trong phần chung tại các
BLHS Việt Nam 1985, 1999 và BLHS 2015 (sửa đổi bổ sung 2017), có hiệu lực thi
hành từ 01.01.2018. Tuy nhiên trên thực tế trong PLHS Việt Nam chưa nêu và chưa
đưa ra khái niệm thế nào là “án tích” mà chỉ mới quy định “xóa án tích” tại
Chương IX với 05 điều luật, từ Điều 63 đến Điều 67 BLHS 1999 (sửa đổi, bổ sung
2009) và tại Chương X với 05 điều luật, từ Điều 69 đến Điều 73 BLHS 2015 (sửa
đổi, bổ sung 2017) để quy định về “Xóa án tích”; Thậm chí như Luật LLTP 2009,
là một trong những luật sử dụng rất nhiều lần hai cụm từ “án tích”nhưng cũng chỉ
là những quy định về cách tính “xóa án tích” đối với một người tội phạm, chứ
không nêu được thực chất cần phải hiểuhay định nghĩa, khái niệm“án tích” là gì?.
Việc nghiên cứu và làm sáng tỏ về mặt nhận thức và lý luận chung về “án
tích” là một đòi hỏi cấp bách, nó không chỉ góp phần làm cho chúng ta có thể nhận
thức một cách đúng đắn và khoa học về chế định án tích mà còn giúp cho các cơ
quan tiến hành tố tụng (gồm CQĐT, VKS, Tòa án, THA...), những cán bộ tư pháp
(gồmĐTV, KSV, TP và cán bộ của cơ quan tư pháp địa phương làm công tác trợ
giúp pháp lývà công tác cấp LLTP cho công dân ...)áp dụng chính xác các quy định
của PLHSnói riêng và PL trong hoạt động tư pháp nói chung, để qua đó sẽ đảm bảo
quyền con người nói chung và quyền, lợi ích chính đáng của những người thực hiện
hành vi vi phạm PLHS nói riêng. Vì trên thực tế xét xử án hình sự cho thấy, nếu
Tòa án áp dụng đúng đắn và chính xác các quy phạm PLcủa chế định án tích nó sẽ
đem lại hiệu quả các lợi ích xã hội, tăng cường hỗ trợ pháp chế và củng cố trật tự
PL, bảo vệ vững chắc các quyền tự do của con người trong lĩnh vực hình sự, nhất
của những người bị kết án đã chấp hành xong hình phạt, nâng cao uy tín của các cơ
quan tư pháp nói chung và của các cơ quan bản vệ pháp luật hình sự nói riêng

1




2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Trong công cuộc xây dựng NN pháp quyền XHCN Việt Nam, thì việc nâng
cao công tác đấu tranh phòng, chống và xử lý tội phạm hình sự. Công tác xác định
nhân thân người phạm tội là vô cùng cần thiết vì xác định đúng nhân thânhay còn
gọi là LLTP của người phạm tội (theo luật hình sự gọi là lý lịch bị can, bị cáo),
chính là xác định đúng “án tích” và “xóa án tích” cho người phạm tội. Đây chính
là một trong những một nội dung quan trọng của lý luận chung NN và PL, là cơ sở
để bảo vệ sự nghiêm minh của PLHS.Trong các công trình nghiên cứu về chế định
án tích trong PLHS phải kể đến:
2.1.Tài liệu nghiên cứu là giáo trình, sách chuyên khảo và các bài đăng
trên tạp chí
-“Những vấn đề cơ bản trong khoa học luật hình sự (Phần chung)” của tác
giả Lê Cảm, nhà xuất bản Đại học quốc gia Hà Nội năm 2005[1];
- “Xóa án - Mô hình lý luận về Bộ luật hình sự Việt Nam” của tác giả Phạm
Hồng Hải, nhà xuất bản Khoa học xã hội Hà Nội năm 1993 [11];
- “Giáo trình Luật hình sự Việt Nam” của tác giả Phạm Thị Học, Chương XV,
Trường Đại học Luật Hà Nội, nhà xuất bản Công an nhân dân năm 2004 [13];
- “Giáo trình luật hình sự Việt Nam (Phần chung)”, GS. TS. Võ Khánh Vinh,
Nxb Khoa học Xã hội năm 2014 [57];
- “Bình luận khoa học Bộ luật hình sự Viêt Nam” của Viện nghiên cứu khoa
học pháp lý - Bộ tư pháp năm 1999,“ Bình luận khoa học Bộ luật hình sự (đã được sửa
đổi bổ sung)” của Học viện cảnh sát nhân dân và “Bình luận khoa học Bộ luật hình
sự”của tác giả Uông Chu Lưu, nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, Hà Nội năm 2001
[20];
- “Án tích theo Bộ luật hình sự năm 1999” của tác giả Hồ Sỹ Sơn, đăng trên
tạp chí Nhà nước và pháp luật số 12 năm 2001 [36].

3



4


Mục đích của luận văn là nghiên cứu làm rõ các vấn đề lý luận vàthực tiễn
của chế định về án tích trong PLHS Việt Nam, chỉ ra những bất cập, tồn tại, vướng
mắc khi áp dụng vào thực tiễn ở tỉnh Đồng Nai. Qua đó đề xuất những quan điểm
và giải pháp nhằm đảm bảo thực hiện đúng chế định về án tích tại địa bàn tỉnh Đồng
Nai.
3.2. Nhiệm vụ
- Về mặt lý luận: Luận văn tập trung nghiên cứu khái quát về sự hình thành
và phát triển của chế địnhán tíchtrong lịch sử tư pháp Việt Nam, đưa ra được những
nhận định, đánh giá về những ưu điểm, bất cập, đồng thời so sánh những chế định
về án tích của PLHS Việt Nam qua các thời kỳ và so sánh với chế định về án tích
của một số nước trên thế giới như Nga, Trung Quốc, Nhật Bản... Qua đó làm sáng
tỏ một cách có hệ thống về mặt lý luận những nội dung cơ bản của chế định án tích
theo BLHS Việt Nam, làm rõ ý nghĩa tốt đẹp, tính nhân văn và giá trị nhân đạo cũng
như tính nghiêm khắc, giáo dục, răn đe của việc áp dụng chế định án tích trong đời
sống pháp luật Việt Nam nói chung và đặc trưng của NN pháp quyền XHCN Việt
Nam nói riêng.
- Về mặt thực tiễn: Luận văn đi sâu vào nghiên cứu việc áp dụng những chế
định án tích trong thực tiễn luật hình sự Việt Nam nói chung và từ thực tiễn ở tỉnh
Đồng Nai nói riêng. Trên cơ sở nghiên cứu, tổng hợp những tồn tại, vướng mắc khi
áp dụng những quy định của PL về án tích trong luật hình sự Việt Nam hiện hành,
để từ đó đề xuất những giải pháp, kiến nghị nhằm hoàn thiện, đưa ra những khái
niệm, định nghĩa cơ bản dễ hiểu, dễ nắm bắt cơ sở lý luận về chế định án tích. Tạo
ra hiệu quả đồng bộ cho việc áp dụng những chế định này vào thực tiễn đảm bảo sự
thống nhất cao trong nhận thức và áp dụng PL.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn
- Luận văn được nghiên cứu phân tích thực trạng về hiệu quả công tác áp dụng

Luận văn là công trình nghiên cứu cơ bản, toàn diện, có hệ thống về cơ sở lý
luận, thực tiễn áp dụng chế định án tích trong công tác khởi tố, điều tra, truy tố, xét

6


xử và bảo vệ, bào chữa cho người phạm pháp hình sự ở tỉnh Đồng Nai. Vì vậy, có
thể xem những nội dung sau đây là những đóng góp mới về khoa học của luận văn.
- Luận văn là kết quả của công tác nghiên cứu lý luận và thực tiễn nhằm đưa
ra những đề xuất, kiến nghị, định hướng và giải pháp để hoàn thiện chế định về án
tích trong PLHS nói chung và trong việc xử lý người phạm tội hình sự nói riêng.
Đáp ứng được yêu cầu của công cuộc cải cách tư pháp tiến lên xây dựng NN pháp
quyền XHCN Việt Nam, là NN thực sự của dân, do dân và vì dân vừa thể hiện được
sự nghiêm khắc trừng trị đối với những người có án tích hoặc những người từng có
án tích nhưng vẫn tiếp tục vi phạm PL, thể hiện tính nghiêm minh của pháp luật đối
với người vi phạm pháp luật và song song là giá trị nhân văn, nhân đạo, giáo dục,
thuyết phục đối với những người có án tích nhưng biết hoàn lương, cải tạo tốt, để
sớm tái hòa nhập với cộng đồng xã hội.
- Với ý nghĩa là công trình nghiên cứu nghiên cứu mang tính chất chuyên
khảo, đề cập đến việc phân tích có hệ thống những nội dung cơ bản quy định về chế
định án tích theo PLHS Việt Nam. Nhằm giúp cho những cán bộ thực thi công vụ
trong lĩnh vực tư pháp hình sự có những cơ sở khoa học, cơ sở pháp lý trong xác
định đúng đắn nội dung cơ bản, căn cứ, điều kiện của việc áp dụng chế định án tích
đối với người đã bị kết án, đã thi hành xong bản án hoặc hết thời hiệu thi hành bản
án, đã trải qua một thời gian nhất định đã đủ để xóa án tích hay chưa?. Việc xác
định còn tiền án hay không chính là yêu tố quan trọng tạo thuận lợi cho các cơ quan
chức năng của NN tiền hành hoạt động truy cứu TNHS hoặc không truy cứu TNHS
đối với hành vi vi phạm PL của người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội,
tránh việc làm oan, bỏ lọt tội phạm và còn có ý nghĩa trong việc giúp cho cán bộ cơ
quan tư pháp tỉnh Đồng Nai cung cấp chính xác LLTP của một người công dân.


Chương 1
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ CHẾ ĐỊNH ÁN TÍCH
VÀ XÓA ÁN TÍCH
1.1. Khái niệmvà hậu quả pháp lý của án tích
1.1.1. Khái niệm án tích
Trong tiến trình xây dựng NN pháp quyền XHCN Việt Nam và công cuộc cải
cách nền tư pháp hiện nay, việc nghiên cứu các quy phạmPLHS về chế định án
tíchtrong PLHS là một yêu cầu hết sức quan trọng và cần thiết. Kể từ 02.9.1945 khi
chủ tịch Hồ Chí Minh đọc bản Tuyên ngôn độc lập - thành lập nước Việt Nam Dân
Chủ Cộng Hòa, cho đến ngày 27.6.1985 QHnước Việt Nam khóa XII, kỳ họp thứ 9
mới thông qua BLHS đầu tiên. Và cũng là lần đầu tiên chính thức ghi nhận về mặt
lập pháp chế định án tích được quy định ở 07 điều luật, gồm Điều 40, 52, 53, 54, 55,
56 và 67 trong Phần chung của BLHS 1985 với tư cách là một chế định độc lập,
mặc dù cách gọi chưa thật sự chính xác trên phương diện luật học và ngôn ngữ đó là
“Xóa án”. Đến ngày 21.12.1999 QH khóa X, kỳ họp thứ 6 thông qua BLHS 1999,
chính thức có hiệu lực ngày 01.7.2000 và được gọi là lần pháp điển thứ hai thì
BLHS Việt Nam mới chính thức chuyển từ tên gọi “xóa án” thành “án tích”. Từ đó,
chế định về án tích đã được dần dần hoàn thiện hơn với việc QHkhóa XII, kỳ họp
thứ 5 ngày 19.6.2009 thông qua Luật sửa đổi, bổ sung Luật hình sự 1999, có hiệu
lực từ ngày 01.01.2010. Ngày 27/11/2015, QH khóa XIII và ngày 20/6/2017 QH
khóa XIV của nước Cộng Hòa XHCN Việt Nam đã thông qua BLHS 2015 (sửa đổi,
bổ sung 2017).Tuy nhiên, cho đến tận bây giờ trong tất cả các BLHS của Việt Nam,
mà cụ thể trong Điều 63 BLHS 1999 (sửa đổi, bổ sung 2009) và Điều 69 BLHS
2015 (sửa đổi, bổ sung 2017),có hiệu lực thi hành từ ngày 01.01.2018 cũng chỉ mới
quy định thế nào là xóa án tích, mà lại chưa quy định thế nào là án tích. Khi xét trên
phương diện nghiên cứu học thuật, rõ ràng “án tích” là một chế định quan trọng
trong PLHS. Bởi vì, chế định “án tích” có liên quan đến một số quy định khác trong
PLHS như việc xem xét để xác định tái phạm, tái phạm nguy hiểm ... nhưngBLHS
không đưa ra được khái niệm “án tích” cụ thể đã gây ra không ít cách hiểu khác

tội; xuất hiện khi người đó đã chấp hành xong hình phạt và được xóa để trở thành
người chưa bị kết án khi người này đáp ứng được những điều kiện mà Bộ luật hình
sự quy định hoặc tồn tại một khi người đã bị kết án dù đã chấp hành xong hình phạt

10


nhưng chưa đáp ứng được những điều kiện được quy định trong Bộ luật hình sự và
người đó còn phải chịu tình tiết định khung tăng nặng hình phạt nếu phạm tội trong
thời gian mang vết tích đã từng bị kết án (theo Điều 49 BLHS năm 1999) hoặc phải
chịu trách nhiệm hình sự về những hành vi vi phạm pháp luật mà theo quy định của
Bộ luật hình sự, vết tích đã từng bị kết án là yếu tố điều kiện cấu thành tội phạm
[36, tr.65]”. Quan điểm trên của thạc sỹ Hồ Sỹ Sơn theo học viên cũng có những
điểm cần đưa ra bàn luận,đó là:
Thứ nhất, án tích không phải xuất hiện khi người đó chấp hành xong hình
phạt mà thực tế, thời điểm chấp hành xong hình phạt chỉ được căn cứ để xác định
thời hạn để xóa án tích;
Thứ hai, án tích chỉ xuất hiện cùng với thời điểm bản án kết tội có hiệu lực
pháp luật. Việc phạm tội trong thời gian đang chấp hành hình phạt được coi là tái
phạm, tái phạm nguy hiểm (Điều 49 BLHS năm 1999); và cuối cùng, việc dùng
thuật ngữ "vết tích" là không có ý nghĩa pháp lý.
Như vậy, dựa trên các quan điểm của các nhà nghiên cứu của Việt Nam về án
tích trong giới khoa học luật hình sự, có thể tổng quát bản chất của án tích chính là
hậu quả pháp lý bất lợi đối với người bị kết án và áp dụng hình phạt, tồn tại trong
một thời gian nhất định và được xóa khi đáp ứng đủ điều kiện của luật định. Trong
thời gian mang án tích, người đó có thể bị áp dụng các tình tiết tái phạm hay tái
phạm nguy hiểm, với tư cách tình tiết tăng nặng TNHS, tình tiết định khung hình
phạt hoặc tình tiết định tội theo quy định của BLHS.
Còn trong khoa học luật hình sự các nước có một số quan điểm chủ yếu liên
quan đến chế định án tích, như sau:

giá tính chất nguy hiểm của hành vi phạm tội cũng như quyết định tội danh, hình
phạt và định khung hình phạt; Nên chúng ta có thể nói án tích là đặc điểm xấu về
nhân thân của người đã bị kết án và áp dụng hình phạt, được ghi và lưu lại trong
LLTP trong thời gian nhất định”, quá đó nó là “hậu quả pháp lý bất lợi cho người có
đặc điểm đó”. Đây là quan điểm chỉ rõ được bản chất cũng như đặc điểm của “án
tích”, trong đó, bản chấtcủa“án tích” là đặc điểm xấu về nhân thân và yếu tố nhân

12


thân của người phạm tội là tổng hợp các đặc tính, dấu hiệu thể hiện bản chất của con
người về việc mang “án tích” sẽ để lại hậu quả bất lợi đối với người có án tích.
- Án tích để lại hậu quả pháp lý bất lợi đối với người có án tích: Án tích là
việc một người bị kết án bị áp dụng hình phạt theo bản án hoặc quyết định của Tòa
án. Tuy nhiên, không phải bất cứ người phạm tội và người bị kết án nào cũng có án
tích.Mà đối tượng mang án tích chỉ là người bị kết án bởi một bản án, quyết định
của Tòa án và bị tuyên là áp dụng hình phạt (bao gồm cả hình phạt chính lẫn hình
phạt bổ sung)được quy định tại BLHS. Bởi người bị kết án nếu được áp dụng các
biện pháp tư pháp như đưa vào trường giáo dưỡng hoạc giáo dục tại xã, phường, thị
trấn theo quy định tại khoản 1 Điều 70 BLHS 1999 (sửa đổi, bổ sung 2009) hay
biện pháp buộc công khai xin lỗi, bồi thường thiệt hại theo quy định tại Điều 42
BLHS 1999 (sửa đổi, bổ sung 2009) sẽ không phải chịu hậu quả pháp lý này. Đây
cũng là đặc trưng cơ bản, đánh giá mức độ nghiêm khắc của hình phạt so với các
biện pháp tư pháp khác, thể hiện rõ tính chất là biện pháp cưỡng chế nghiêm khắc
nhất của NN nhằm tước bỏ hoặc hạn chế quyền lợi ích của người phạm tội... của
hình phạt theo quy định tại Điều 26 BLHS 1999 (sửa đổi, bổ sung 2009), trong đó,
sự bất lợi của việc mang án tích đối với người bị kết án và bị áp dụng hình phạt thể
hiện ở hai phương diện, cụ thể là:
Thứ nhất, người mang án tích trong LLTP cũng như các giấy tờ chứng thực
về nhân thân của người phạm tội (theo khoa học luật hình sự gọi là lý lịch bị can, bị

nhau, mà cụ thể vấn đề án tích mặc dù được định hình từ rất sớm trong tư tưởng của
người dân ViệtNam nhưng để được pháp điển hóa trong hệ thống PL thì vấn đề án
tích nói chung chưa được quan tâm trong thời kỳ trước khi ban hành BLHS 1985.
Tuy vậy, vấn đề án tích cũng được đề cập rải rác trong một số văn bản pháp luật
như Sắc lệnh 21/SL ngày 14.02.1946 quy định về xóa án tích đối với người được
hưởng án treo. Tại Điều10 Sắc lệnh 21/SL có quy định:“Khi phạt tù tòa có thể cho
tội nhân được hưởng án treo nếu có lý do chính đáng khoan hồng. Bản án xử treo sẽ
tạm đình chỉ thi hành án. Nếutrong05năm bắt đầu từ ngày tuyên án, tội nhân không
bị tòa án quân sự làm tội một lần nữa về một việc mới, thì bản án đã tuyên sẽ hủy
đi, coi như không có. Nếu trong 05 năm ấy, tội nhân bị kết án một lần nữa trước
một tòa án quân sự thì bản án treo sẽ đem thi hành”.., tinh thần của Điều luật này
chính là việc quy định:Một người phạm tội đương nhiên được coi như chưa can án
nếu như họ không bị kết án bằng một bản án mới trong thời gian thử thách là 05
năm, kể từ ngày tuyên án cũ.
Quy định nêu trên lại tiếp tục được ghi nhận tại Thông tư 2308/NCLP ngày
01.12.1961 của TAND tối cao về xóa án đối với người được hưởng án treo
vớinộidung: “Nếu hết thờigianthửthách mà người bị phạt án treo không phạm tội gì
mới thì sẽ coi như khôngcótiềnán. Những hình phạtphụ màTòa án có thể đãtuyên như

16


cấm cư trú hoặc cư trú bắt buộc cũng đương nhiên được xóa bỏ. Nếu phạm tội mới không
cùng tính chất và nhẹ hơn tội cũ thì khi hết thời gian thử thách, bản án treo cũ vĩnh viễn
không phải chấp hành nữa”.
Tại Công văn số:1082/NCLP của TANDtối cao ngày 05.7.1963 cũng đã khẳng
định:“Tòa án không thể coi một ngườiđã bị án treo nhưng đã được xóa bỏ, nay lại
phạm tội mới, như là tái phạm. Như vậytừ rất sớm, chế định về án tích đã được ghi
nhận là một trong nhữngnguyên tắc xử lý hình sự quan trọng trong Luậthình sựViệt
Nam. Theocác quy phạm hình sự trong thời kỳ này thì xóa án tích đối với người được

những mặc cảm xã hội về quá khứ của mình.
Điều 52 BLHS 1985, quy định: "Người bị kết án được xóa án theo quy định
ở các Điều 53 đến Điều 56. Người được xóa án coi như chưa can án và được cấp
giấy chứng nhận" [28] Theo quy định tại Điều 52 thì cơ sở pháp lý của việc xóa án
là những quy định của BLHS, mà cụ thể hơn là từ Điều 53 đến Điều 56 BLHS
1985. Mặt khác, Điều 52 cũng chỉ rõ, hậu quả của việc xóa án, đó là người được xóa
án coi như chưa can án. Vì vậy, sau khi được cấp giấy chứng nhận xóa án hoặc sau
khi được Tòa án ra quyết định xóa án thì trong giấy tờ về căn cước, lý lịch cấp cho
họ phải ghi "chưa can án". Người đã được xóa án mà sau lại phạm tội mới thì không
được căn cứ vào những tiền án đã được xóa án mà coi như là tái phạm hoặc tái
phạm nguy hiểm. Tuy nhiên, bằng quy định "Người được xóa án coi như chưa can
án và được cấp giấy chứng nhận" đã tạo ra những cách hiểu khác nhau về vấn đề
này.
Thứ nhất, khi một người được xóa án thì đương nhiên họ sẽ được cấp giấy
chứng nhận, tức là việc cấp giấy chứng nhận là nghĩa vụ đương nhiên của cơ quan
NN có thẩm quyền. Điều này không phù hợp với những quy định của BLHS về xóa
án, vì xóa án được thực hiện theo hai hình thức chủ yếu là đương nhiên xóa án và
xóa án theo quyết định của Tòa án. Nếu là xóa án theo quyết định của Tòa án thì
việc cấp giấy chứng nhận là quyền của Tòa án khi người xin xóa án đáp ứng được
đầy đủ những điều kiện, thủ tục của xóa án. Hơn nữa, trong trường hợp này, Tòa án
ra quyết định xóa án chứ không phải là giấy chứng nhận như trong trường hợp
đương nhiên xóa án.Do vậy, quy định trên là không phù hợp.
Thứ hai, là từ "và" sẽ đưa ra cách hiểu để được xóa án phải có một điều kiện
bắt buộc phải có là người được xóa án chỉ được coi là chưa can án khi được cấp

18


giấy chứng nhận, tức là giấy chứng nhận xóa án là một trong những giấy tờ buộc
phải có. Điều này cũng không phù hợp với quy định của luật hình sự về xóa án, vì


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status