BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP. HCM
ĐOÀN THÁI DƯƠNG
THỰC THI PHÁP LUẬT BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG
TRONG CÁC KHU CÔNG NGHIỆP TẠI THÀNH
PHỐ HỒ CHÍ MINH. THỰC TRẠNG VÀ GIẢI
PHÁP HOÀN THIỆN
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Tp. Hồ Chí Minh – Năm 2019
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP. HCM
ĐOÀN THÁI DƯƠNG
THỰC THI PHÁP LUẬT BẢO VỆ MÔI
TRƯỜNG TRONG CÁC KHU CÔNG NGHIỆP
TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH.
THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN
Chuyên ngành: Luật kinh tế
Mã số: 8380107
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
1. PGS. TS HỒ VIẾT TIẾN
2. TS. TRẦN VÂN LONG
Lý do chọn đề tài .................................................................................................. 1
2.
Câu hỏi nghiên cứu: ............................................................................................. 2
3.
Tổng quan tình hình nghiên cứu ......................................................................... 3
4.
Mục đích, đối tượng và phạm vi nghiên cứu: .................................................... 4
5.
Phương pháp nghiên cứu ..................................................................................... 5
6.
Bố cục của luận văn .............................................................................................. 5
CHƯƠNG 1: LUẬT PHÁP VỀ BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG LIÊN QUAN ĐẾN
CÁC KHU CÔNG NGHIỆP. ....................................................................................... 7
1.1. Quan điểm của đảng về bảo vệ môi trường ............................................................ 7
1.2. Các quy định luật pháp liên quan đến bảo vệ môi trường trong khu công
nghiệp ............................................................................................................................ 10
1.2.1.
3.3. Giải pháp nâng cao hoạt động áp dụng pháp luật bảo vệ môi trường trong các
khu công nghiệp tại Thành phố Hồ Chí Minh .............................................................. 50
KẾT LUẬN .................................................................................................................. 58
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
KÝ HIỆU
STT
1
2
3
4
5
ĐTM
KCN
KCX
TNHH
UBND
NGUYÊN NGHĨA
Báo cáo đánh giá tác động môi trường
Khu công nghiệp
Khu chế xuất
Trách nhiệm hữu hạn
Ủy ban nhân dân
TÓM TẮT LUẬN VĂN
profits and immediate benefits are not real. Good environmental protection
work. On the other hand, the inadequacies of the law and the lax management,
inspection and inspection of environmental protection activities in industrial
zones of the competent authority are also one of the main causes. This
situation has led to the above situation in industrial zones in Ho Chi Minh
City.
The content of the thesis is really theoretical and practical for scholars,
businesses and competent agencies in the application of environmental
protection laws.
1
LỜI NÓI ĐẦU
1.
Lý do chọn đề tài
Bảo vệ môi trường là một trong những nội dung được cả thế giới quan tâm
và được đưa ra thảo luận trên các diễn đàn quốc tế. Bảo vệ môi trường vừa là mục
tiêu, vừa là nội dung cơ bản của sự phát triển góp phần ổn định tình hình chính trị,
trật tự an toàn xã hội, thúc đẩy sự tăng trưởng bền vững của một đất nước. Với Việt
Nam, hoạt động bảo vệ môi trường được Đảng, Nhà nước luôn đặt lên hàng đầu và
được đề cập trong các chủ trương, đường lối chính sách phát triển kinh tế, văn hóa
xã hội của đất nước, đặc biệt là vấn đề bảo vệ môi trường trong lĩnh vực kinh tế, bởi
đây là lĩnh vực liên quan mật thiết, gắn liền và tác động nhiều nhất đến môi trường.
Viêt Nam, tuy khởi điểm là một nước nông nghiệp, và hiện nay vẫn là một
nước phát triển mạnh về nông nghiệp. Nhưng đối với công nghiệp, thời gian qua đã
kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, chiến lược bảo vệ môi trường
quốc gia đến năm 2010 và định hướng đến năm 2020. Đồng thời, xây dựng và ban
hành cơ sở hành lang pháp lý nhằm bảo vệ môi trường như Luật Bảo vệ môi trường
2014, Luật đầu tư 2014, Luật dân sự 2015, thông tư 35/2015/TT-BTNMT về bảo vệ
môi trường khu kinh tế, khu công nghiệp, khu chế xuất, khu công nghệ cao...và
nhiều văn bản hướng dẫn thi hành.
Tuy nhiên, việc thi hành các quy định pháp luật này trong thực tiễn và tại
khu công nghiệp Thành phố Hồ Chí Minh vẫn nảy sinh một số khó khăn, vướng
mắc nhất định, đòi hỏi cần có giải pháp được hoàn thiện nhằm nâng cao hiệu quả áp
dụng, hạn chế và xử lý nghiêm đối với các trường hợp vi phạm, phạm tội gây ô
nhiễm môi trường của các doanh nghiệp trong thời gian tới.
Vì vậy, tác giả quyết định lựa chọn nghiên cứu đề tài: “Thực thi pháp luật
Bảo vệ môi trường trong các khu công nghiệp tại Thành phố Hồ Chí Minh.
Thực trạng và Giải pháp hoàn thiện” làm Luận văn thạc sĩ luật học, với mong
muốn góp phần nâng cao ý thức chấp hành pháp luật trong vấn đề bảo vệ môi
trường và nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật về bảo vệ môi trường.
2.
-
Câu hỏi nghiên cứu:
Các quy định pháp luật về trách nhiệm của doanh nghiệp trong vấn đề
bảo vệ môi trường. Thực tiễn áp dụng tại các khu công nghiệp Thành phố Hồ Chí
Minh? Những hạn chế, khó khăn, vướng mắc?
- Các giải pháp hoàn thiện và nâng cao hiệu quả áp dụng các quy định pháp
luật trách nhiệm bảo vệ môi trường?
3
hội của doanh nghiệp Việt Nam về ô nhiệm môi trường.
Ngoài ra, có thể kể đến một số sách chuyên khảo, một số công trình nghiên
cứu luận án tiến sĩ: Doãn Hồng Nhung, Nguyễn Thị Bình (2015), Hoàn thiện hệ
4
thống pháp luật bảo vệ môi trường khu công nghiệp, NXB Đại học Quốc gia Hà
Nội; Vũ Thu Hạnh (2012), “Cơ chế giải quyết bồi thường thiệt hại do ô nhiễm môi
trường”, NXB Chính trị Quốc gia; Bùi Đức Hiền- Luận án tiến sĩ “ Pháp luật về
kiểm soát ô nhiễm môi trường không khí ở Việt Nam” Học viện khoa học xã hội
Việt Nam; Và một số bài báo, bài viết khác như: Nguyễn Thị Yến (2013), Bài học
từ một số quốc gia trên thế giới về xã hội hóa đầu tư bảo vệ môi trường, Tạp chí
Giáo dục lý luận số 7/2013, tr. 60-62; Bùi Văn Dũng (2012), Bảo vệ môi trường
theo tư tưởng Hồ Chí Minh, Tạp chí Cộng sản số 65 (5/2012), tr. 26-29; Đinh
Nguyễn An (2013), Bảo vệ môi trường trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế,
Tạp chí Lý luận chính trị số 9/2013, tr. 68-71; Doãn Công Khánh (2010), Bảo vệ
môi trường trong quá trình tự do hoá thương mại, Tạp chí Cộng sản số 812
(6/2010), tr. 66-69; Vũ Thị Duyên Thủy (2011), Thực trạng pháp luật về bảo vệ môi
trường trong hoạt động của các khu công nghiệp Việt Nam, Tạp chí Luật học số
9/2011, tr. 60-64; Bùi Cách Tuyến (2015), Bảo đảm sự hài hòa giữa môi trường tự
nhiên với môi trường sống ở khu công nghiệp, khu đô thị.
Các công trình trên đã đưa ra được nhiều giải pháp để nâng cao việc thực
hiện trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp và thực hiện bảo vệ môi trường. Có thể
khẳng định, những công trình khoa học nêu trên là tài liệu tham khảo hữu ích, giúp
tác giả có thêm nhiều thông tin phục vụ cho việc nghiên cứu của mình.
4.
Mục đích, đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
nước về vấn đề bảo vệ môi trường với phương pháp duy vật biện chứng và duy vật
lịch sử của chủ nghĩa Mác – Lê Nin về bảo vệ môi trường trong lĩnh vực kinh tế.
Ngoài ra, đề tài còn sử dụng phương pháp thu thập dữ liệu thứ cấp, phương
pháp thống kê, mô tả và đối chiếu so sánh. Thông qua các phương pháp được sử
dụng, luận văn nghiên cứu các quy định pháp luật về trách nhiệm xã hội của doanh
nghiệp trong bảo vệ môi trường, thực tiễn áp dụng tại các khu công nghiệp Thành
phố Hồ Chí Minh nhằm làm rõ những điểm còn bất cập của các quy định, những
khó khăn vướng mắc trong quá trình áp dụng, từ đó đề xuất những giải pháp hoàn
thiện pháp luật để nâng cao ý thức chấp hành và nâng cao hiệu quả áp dụng trong
thời gian tới.
6.
Bố cục của luận văn
Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận văn gồm có 04 chương:
Chương 1: Các quy định của pháp luật về thực hiện trách nhiệm của doanh
nghiệp với môi trường.
Chương 2 Thực trạng việc thực hiện trách nhiệm của doanh nghiệp với môi
trường trong các khu công nghiệp tại Thành phố Hồ Chí Minh.
6
Chương 3: Các giải pháp hoàn thiện pháp luật quy định trách nhiệm bảo vệ
môi trường trong các khu công nghiệp tại Thành phố Hồ Chí Minh.
7
CHƯƠNG 1: LUẬT PHÁP VỀ BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG LIÊN
8
nước ta trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Sau 5 năm thực hiện
Nghị quyết số 41-NQ/TW, ngày 21/1/2009, Ban Bí thư đã ban hành Chỉ thị số 29CT/TW về tiếp tục đẩy mạnh thực hiện Nghị quyết số 41-NQ/TW. Chỉ thị này nhấn
mạnh một số nhiệm vụ quan trọng cần tập trung thực hiện, trong đó có nhiệm vụ
như: “Tăng cường, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước trong lĩnh vực bảo
vệ môi trường...”; “Quy định các chế tài xử lý nghiêm các vi phạm pháp luật về bảo
vệ môi trường; Không phê duyệt chiến lược, quy hoạch, kế hoạch, chương trình, dự
án đầu tư tiềm ẩn nguy cơ cao đối với môi trường; Không đưa vào vận hành, sử
dụng các khu công nghiệp, khu công nghệ cao, khu đô thị, công trình, cơ sở y tế, cơ
sở sản xuất mới không đáp ứng các yêu cầu về bảo vệ môi trường”.
Trước nguy cơ cạn kiệt tài nguyên, ô nhiễm môi trường và những diễn biến
phức tạp của biến đổi khí hậu, Hội nghị Trung ương 7 Khóa XI đã ban hành Nghị
quyết số 24-NQ/TW về “Chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu, tăng cường quản
lý tài nguyên và bảo vệ môi trương”. Quan điểm về bảo vệ môi trường một lần nữa
được khẳng định “Môi trường là vấn đề toàn cầu. Bảo vệ môi trường vừa là mục
tiêu vừa là một nội dung cơ bản của phát triển bền vững. Tăng cường bảo vệ môi
trường phải theo phương châm ứng xử hài hòa với thiên nhiên, theo quy luật tự
nhiên, phòng ngừa là chính; kết hợp kiểm soát, khắc phục ô nhiễm, cải thiện môi
trường, bảo tồn thiên nhiên và đa dạng sinh học; lấy bảo vệ sức khỏe nhân dân làm
mục tiêu hàng đầu; kiên quyết loại bỏ những dự án gây ô nhiễm môi trường, ảnh
hưởng đến sức khỏe cộng đồng”. Đồng thời đưa ra những mục tiêu rất cụ thể về bảo
vệ môi trường: “Không để phát sinh và xử lý triệt để các cơ sở gây ô nhiễm môi
trường nghiêm trọng; 70% lượng nước thải ra môi trường lưu vực các sông được xử
lý; tiêu hủy, xử lý trên 85% chất thải nguy hại, 100% chất thải y tế; tái sử dụng hoặc
tái chế trên 65% rác thải sinh hoạt. Phấn đấu 95% dân cư thành thị và 90% dân cư
nông thôn được sử dụng nước sạch, hợp vệ sinh. Kiểm soát an toàn, xử lý ô nhiễm
môi trường do hậu quả chiến tranh. Nâng cao chất lượng môi trường không khí ở
các đô thị, khu vực đông dân cư. Cải thiện rõ rệt môi trường làng nghề và khu vực
nông thôn. Quản lý khai thác hợp lý, sớm chấm dứt khai thác rừng tự nhiên, nâng
môi trường biển (từ điều 55 đến 58). Cụ thể hóa các quy định của Luật Bảo vệ môi
Bảo vệ môi trường: Vấn đề trọng tâm trong sự lãnh đạo của Đảng; />1
10
trường, ngày 6/3/2009, Chính phủ đã ban hành Nghị định số’ 25/2009/NĐ-CP về
quản lý tổng hợp tài nguyên và bảo vệ môi trường biển, hải đảo…
Hội nghị Trung ương 4 khóa X (2/2007) ra Nghị quyết số’ 09-NQ/TW về
“Chiến lược Biển Việt Nam đến năm 2020”, trong đó xác định: “Phấn đấu đưa nước
ta trở thành quốc gia mạnh về biển… làm cho đất nước giàu mạnh từ biển, bảo vệ
môi trường biển”. Sau khi Quốc hội thông qua và ban hành Luật bảo vệ môi trường
số 55/2014/ QH13 bao gồm một số’ điều sửa đổi, bổ sung ngày 23 tháng 06 năm
2014, Chính phủ đã ban hành Nghị định số’ 19/2015/NĐ- CP ngày 14 tháng 02 năm
2015, quy định chi tiết thi hành một số’ điều của Luật. Cùng ngày, Chính phủ cũng
đã ban hành Nghị định số’ 18/2015/NĐ-CP, quy định về quy hoạch bảo vệ môi
trường, đánh giá môi trường chiến lược, đánh giá tác động môi trường và kế hoạch
bảo vệ môi trường.
Những văn bản trên cùng với những văn bản liên quan đến vấn đề bảo vệ
môi trường còn hiệu lực đã tạo thành hệ thống pháp lý vững chắc, thể chế hóa quan
điểm của Đảng ta trong các nghị quyết Đại hội Đảng và các hội nghị Trung ương
trước đó.
1.2. CÁC QUY ĐỊNH LUẬT PHÁP LIÊN QUAN ĐẾN BẢO VỆ MÔI
TRƯỜNG TRONG KHU CÔNG NGHIỆP
1.2.1.Trách nhiệm thực hiện báo cáo đánh giá tác động môi trường
Đánh giá tác động môi trường là việc phân tích, dự báo tác động đến môi
trường của dự án đầu tư cụ thể để đưa ra biện pháp bảo vệ môi trường khi triển khai
dự án đó.2
Như vậy, đánh giá tác động môi trường là quá trình phân tích, dự báo những
động môi trường trước khi thực hiện. Phải phân tích hiện trạng môi trường tại địa
bàn hoạt động của dự án hoặc của cơ sở mình, phải dự liệu trước được những tác
động tiêu cực việc xả thải có thể gây ra ô nhiễm xung quanh đồng thời dự tính trước
các biện pháp hữu hiệu để ngăn chặn chúng thông qua đó thực hiện phòng ngừa ô
nhiễm, sự cố môi trường khi triển khai dự án trên thực tiễn. Việc xem xét, phê duyệt
dự án và hoạt động có phát thải khí phải căn cứ vào sức chịu tải của môi trường,
bảo đảm không có tác động xấu đến con người và môi trường.
Đối tượng phải thực hiện đánh giá tác động môi trường gồm: Dự án thuộc
thẩm quyền quyết định chủ trương đầu tư của Quốc hội, Chính phủ, Thủ tướng
Chính phủ; Dự án có sử dụng đất của khu bảo tồn thiên nhiên, vườn quốc gia, khu
12
di tích lịch sử - văn hóa, khu di sản thế giới, khu dự trữ sinh quyển, khu danh lam
thắng cảnh đã được xếp hạng; Dự án có nguy cơ tác động xấu đến môi trường3.
Chủ dự án thuộc đối tượng quy định tự mình hoặc thuê tổ chức tư vấn thực
hiện đánh giá tác động môi trường và chịu trách nhiệm trước pháp luật về kết quả
thực hiện đánh giá tác động môi trường. Việc đánh giá tác động môi trường phải
thực hiện trong giai đoạn chuẩn bị dự án.
Kết quả thực hiện đánh giá tác động môi trường thể hiện dưới hình thức báo
cáo đánh giá tác động môi trường. Chi phí lập, thẩm định báo cáo đánh giá tác động
môi trường thuộc nguồn vốn đầu tư dự án do chủ dự án chịu trách nhiệm.
Tuy nhiên, hiện nay Luật Bảo vệ môi trường năm 2014 không quy định
riêng, rõ ràng, yêu cầu bắt buộc về đánh giá tác động môi trường không khí.
1.2.2.Trách nhiệm trong việc quản lý, xử lý chất thải trong quá trình
sản xuất.
Vấn đề quản lý, xử lý chất thải trong quá trình sản xuất không chỉ là trách
nhiệm của doanh nghiệp xả thải mà còn là trách nhiệm của các cá nhân, cơ quan có
thẩm quyền theo quy định pháp luật.
trường. Chất thải nguy hại phải được vận chuyển bằng phương tiện, thiết bị chuyên
dụng phù hợp và được ghi trong giấy phép xử lý chất thải nguy hại. Chất thải nguy
hại được vận chuyển sang nước khác phải tuân thủ các điều ước quốc tế mà Cộng
hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên.
Đối với quản lý chất thải rắn thông thường6, Chủ cơ sở sản xuất, kinh doanh,
dịch vụ, cơ quan, tổ chức, hộ gia đình và cá nhân phát sinh chất thải rắn thông
thường có trách nhiệm phân loại chất thải rắn thông thường tại nguồn để thuận lợi
cho việc tái sử dụng, tái chế, thu hồi năng lượng và xử lý. Chất thải rắn thông
thường phải được thu gom, lưu giữ và vận chuyển đến nơi quy định bằng phương
tiện, thiết bị chuyên dụng.
Cơ quan quản lý nhà nước về bảo vệ môi trường có trách nhiệm tổ chức thu
gom, lưu giữ và vận chuyển chất thải rắn thông thường trên địa bàn quản lý.
Chủ cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ, tổ chức, hộ gia đình và cá nhân có
phát sinh chất thải rắn thông thường có trách nhiệm tái sử dụng, tái chế, thu hồi
năng lượng và xử lý chất thải rắn thông thường. Trường hợp không có khả năng tái
sử dụng, tái chế, thu hồi năng lượng và xử lý chất thải rắn thông thường phải
chuyển giao cho cơ sở có chức năng phù hợp để tái sử dụng, tái chế, thu hồi năng
lượng và xử lý.
5
6
Điều 90, 91, 92 Luật bảo vệ môi trường 2014
Điều 95, 96, 97 Luật bảo vệ môi trường 2014
14
Đối với quản lý, xử lý nước thải7, Nước thải phải được thu gom, xử lý bảo
đảm quy chuẩn kỹ thuật môi trường.Nước thải có yếu tố nguy hại vượt ngưỡng quy
định phải được quản lý theo quy định về chất thải nguy hại. Đô thị, khu dân cư tập
15
sản xuất, nhập khẩu, vận chuyển, kinh doanh và sử dụng pháo hoa theo quyết định
của Thủ tướng Chính phủ8.
1.2.3. Các biện pháp xử lý các doanh nghiệp gây ô nhiễm môi trường
Tổ chức, cá nhân vi phạm pháp luật về bảo vệ môi trường, gây ô nhiễm, suy
thoái, sự cố môi trường, gây thiệt hại cho tổ chức và cá nhân khác, có trách nhiệm
khắc phục ô nhiễm, phục hồi môi trường, bồi thường thiệt hại và xử lý theo quy
định của Luật này và pháp luật có liên quan.
Người đứng đầu cơ quan, tổ chức, cán bộ, công chức lợi dụng chức vụ,
quyền hạn gây phiền hà, nhũng nhiễu cho tổ chức, cá nhân, bao che cho người vi
phạm pháp luật về bảo vệ môi trường hoặc thiếu trách nhiệm để xảy ra ô nhiễm, sự
cố môi trường thì tùy tính chất, mức độ vi phạm mà bị xử lý kỷ luật hoặc bị truy
cứu trách nhiệm hình sự; trường hợp gây thiệt hại phải bồi thường theo quy định
của pháp luật. (Điều 160 Luật bảo vệ môi trường 2014)
Luật Bảo vệ môi trường 2014 chỉ quy định mang tính nguyên tắc về xử phạt
vi phạm hành chính do hành vi làm ô nhiễm môi trường. Hiện nay, chưa có văn bản
hướng dẫn Luật Bảo vệ Môi trường năm 2014 về vấn đề này. Tuy nhiên, vấn đề này
đã được ghi nhận trong Luật Xử lý vi phạm hành chính và Nghị định số
155/2016/NĐ-CP ngày 18/11/2016 về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực
bảo vệ môi trường. Theo đó hình thức xử phạt hành chính do vi phạm pháp luật,
gồm: cảnh cáo, phạt tiền và các hình thức xử phạt bổ sung khác.
Bên cạnh đó, các chủ thể vi phạm còn có thể bị áp dụng các hình thức xử
phạt bổ sung, như: Đình chỉ hoạt động gây ô nhiễm môi trường của cơ sở từ 03
tháng đến 06 tháng; Đình chỉ hoạt động của cơ sở từ 06 tháng đến 12 tháng; Ngoài
ra các tổ chức, cá nhân vi phạm pháp luật môi trường còn bị áp dụng các biện pháp
khắc phục hậu quả, như: Buộc phải thực hiện các biện pháp khắc phục tình trạng ô
nhiễm môi trường và báo cáo kết quả đã khắc phục xong hậu quả vi phạm trong thời
hạn do người có thẩm quyền xử phạt ấn định trong quyết định xử phạt vi phạm hành
Tại điều 235 Bộ luật hình sự 2015 quy định rõ về tội gây ô nhiễm môi
trường.
“5. Pháp nhân thương mại phạm tội quy định tại Điều này, thì bị phạt như
sau:
a) Phạm tội thuộc trường hợp quy định tại khoản 1 Điều này, thì bị phạt tiền
từ 1.000.000.000 đồng đến 5.000.000.000 đồng;
b) Phạm tội thuộc trường hợp quy định tại khoản 2 Điều này, thì bị phạt tiền
từ 5.000.000.000 đến 10.000.000.000 đồng hoặc đình chỉ hoạt động có thời hạn từ
06 tháng đến 03 năm;
17
c) Phạm tội thuộc trường hợp quy định tại khoản 3 Điều này, thì bị phạt tiền
từ 500.000.000 đồng đến 3.000.000.000 đồng;
d) Phạm tội thuộc trường hợp quy định tại Điều 79 của Bộ luật này, thì bị
đình chỉ hoạt động vĩnh viễn;
đ) Pháp nhân thương mại còn có thể bị phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến
500.000.000 đồng, cấm kinh doanh, cấm hoạt động trong một số lĩnh vực nhất định
từ 01 năm đến 03 năm”.
Đối với cá nhân trong doanh nghiệp có hành vi phạm tội gây ô nhiễm môi
trường thì căn cứ theo quy định tại Điều 235 Bộ luật hình sự 2015, có thể bị xử lý
như sau:
“1. Người nào thực hiện một trong các hành vi sau đây, thì bị phạt tiền từ
100.000.000 đồng đến 1.000.000.000 đồng hoặc phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:
a) Chôn, lấp, đổ, thải ra môi trường chất thải nguy hại hoặc chất hữu cơ khó
phân hủy cần phải loại trừ theo quy định tại Phụ lục A Công ước Stockholm về các
chất ô nhiễm hữu cơ khó phân hủy trái quy định của pháp luật từ 3.000 kilôgam đến
dưới 5.000 kilôgam;
b) Xả thải ra môi trường từ 5.000 mét khối (m3)/ngày đến dưới 10.000 mét