(Luận văn thạc sĩ) Chính sách dịch vụ công trực tuyến ở Việt Nam hiện nay - Pdf 60

VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

QUÁCH THỊ MINH PHƯỢNG

CHÍNH SÁCH DỊCH VỤ CÔNG TRỰC TUYẾN
Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

LUẬN ÁN TIẾN SĨ CHÍNH SÁCH CÔNG

HÀ NỘI - 2019


VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

QUÁCH THỊ MINH PHƯỢNG

CHÍNH SÁCH DỊCH VỤ CÔNG TRỰC TUYẾN
Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

Ngành: Chính sách công
Mã số: 934.04.02

LUẬN ÁN TIẾN SĨ CHÍNH SÁCH CÔNG

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS. ĐỖ PHÚ HẢI

HÀ NỘI - 2019

công trực tuyến ..................................................................................................... 91
3.3. Đánh giá chung ............................................................................................ 109
Chương 4: QUAN ĐIỂM, GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN CHÍNH SÁCH
DỊCH VỤ CÔNG TRỰC TUYẾN Ở VIỆT NAM HIỆN NAY .................... 122
4.1. Quan điểm về hoàn thiện chính sách dịch vụ công trực tuyến ở Việt Nam....... 122
4.2. Giải pháp hoàn thiện chính sách dịch vụ công trực tuyến ở Việt Nam ....... 125
KẾT LUẬN....................................................................................................................... 144
DANH MỤC CÔNG TRÌNH CÔNG BỐ CỦA TÁC GIẢ........................................... 147
TÀI LIỆU THAM KHẢO ............................................................................................... 148
PHỤ LỤC.......................................................................................................................... 158


DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

Chính phủ điện tử

CPĐT

Công nghệ thông tin

CNTT

Dịch vụ công

DVC

Dịch vụ công trực tuyến

DVCTT


Hình 3.4: Xếp hạng Chính phủ điện tử cấp tỉnh ....................................................... 90
Hình 3.5: Đề xuất của người dân đối với CQNN...................................................... 96
Hình 3.6: Đề xuất của doanh nghiệp đối với CQNN ................................................ 96
Hình 3.7: Mức độ hài lòng đối với cập nhật thông tin phục vụ người dân ............. 103
Hình 3.8:Mức độ hài lòng đối với cập nhật thông tin phục vụ doanh nghiệp ........ 104
Hình 3.9: Mức độ hài lòng của người dân đối với thái độ phục vụ của CQNN
thông qua mạng .............................................................................................. 105
Hình 3.10: Mức độ hài lòng của doanh nghiệp đối với thái độ phục vụ của
CQNN thông qua mạng .................................................................................. 106
Hình 3.11: Mức độ hài lòng của người dân trong bảo mật thông tin ...................... 107
Hình 3.12: Mức độ hài lòng của doanh nghiệp trong bảo mật thông tin ................ 107


MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Chính sách công là hệ thống các quyết định của chủ thể có thẩm quyền trong
bộ máy nhà nước nhằm giải quyết vấn đề thực tiễn đặt ra với những mục tiêu, giải
pháp cụ thể. Khi thực tiễn đặt ra vấn đề cần giải quyết, Đảng, Nhà nước sẽ phải
hoạch định, xây dựng và ban hành chính sách nhằm giải quyết vấn đề đó. Thời gian
vừa qua, trên thế giới cũng như ở Việt Nam, sự phát triển của công nghệ thông tin
và truyền thông đã góp phần thay đổi tất cả mọi hoạt động, mọi lĩnh vực của đời
sống xã hội, trong đó có hoạt động của Nhà nước. Ứng dụng công nghệ thông tin
nhằm nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý điều hành, xây dựng chính quyền kiến
tạo, liêm chính, phục vụ, hành động; đảm bảo cải thiện môi trường kinh doanh, tạo
thuận lợi cho người dân và doanh nghiệp đã trở thành mục tiêu của chính phủ nhiều
quốc gia trên thế giới. Do đó, rất cần có một hệ thống chính sách về việc ứng dụng
công nghệ thông tin trong hoạt động của cơ quan nhà nước, đặc biệt là trong hoạt
động tổ chức thực hiện pháp luật của hệ thống cơ quan hành pháp. Chính sách đó
được cụ thể hóa trong chính sách về xây dựng chính phủ điện tử. Cung cấp các dịch
vụ công trực tuyến là một nội dung trọng tâm trong tiến trình cải cách hành chính,

ngành, địa phương chưa đạt mục tiêu đặt ra, mới chỉ dừng lại ở mức lập phương án
triển khai. Trong đó, nhiều cơ quan cho biết còn vướng mắc, khó khăn trong một số
khâu: hệ thống hóa các hồ sơ, quy trình xử lý thủ tục hành chính do giấy tờ, thủ tục
nhiều, không có mẫu biểu điện tử; số lượng dịch vụ công nhiều trong khi kinh phí
triển khai hạn hẹp; thiếu hướng dẫn trong việc thuê dịch vụ công nghệ thông tin để
cung cấp dịch vụ công trực tuyến. Nguyên nhân việc triển khai các dịch vụ công
trực tuyến chưa thực sự hiệu quả trong thời gian qua là do thiếu một hệ thống chính
sách đầy đủ, đồng bộ, toàn diện; sự quan tâm của các cấp chính quyền trong tổ chức
triển khai thực hiện chính sách chưa thực sự mang lại hiệu quả, công tác tuyên
truyền, nâng cao nhận thức của các chủ thể liên quan chưa được triển khai thực
chất, hiệu quả. Cải cách hành chính, đặc biệt là cải cách thủ tục hành chính và hiện
đại hóa nền hành chính triển khai còn chậm, chưa đồng đều và đồng bộ, dẫn đến
mục tiêu chính sách chưa đạt được.
Mặt khác, môi trường truyền thông cũng là một yếu tố quan trọng tác động
đến chính sách dịch vụ công trực tuyến. Dịch vụ công trực tuyến cần được hiểu và
chấp nhận bởi mọi chủ thể tham gia nhằm đảm bảo lợi ích cho toàn xã hội. Truyền
thông dịch vụ công trực tuyến đến tất cả các thành phần xã hội là hết sức quan trọng

2


trong triển khai thành công dịch vụ công trực tuyến. Sự hiểu biết của thành phần
liên quan đến dịch vụ công trực tuyến bao gồm: Người dân, doanh nghiệp, nhân
viên Chính phủ; lãnh đạo; chính trị gia; các nhà đầu tư nước ngoài: sự hiểu biết của
các thành phần liên quan về văn hóa truyền thông và các kênh truyền thông; triển
khai kế hoạch truyền thông; am hiểu về công nghệ thông tin và truyền thông; chia
sẻ thông tin và kiến thức.
Xét về mặt lý luận, hiện nay đang thiếu cách tiếp cận, nghiên cứu triển khai
dịch vụ công trực tuyến dưới góc độ chính sách: từ xác định được bản chất, vấn đề,
mục tiêu, giải pháp, chủ thể, thể chế và những yếu tố tác động đến chính sách dịch

sách; tổ chức thực hiện và đánh giá chính sách;
- Thống kê, khảo sát số liệu về triển khai chính sách dịch vụ công trực tuyến,
lồng ghép những nhận định, đánh giá mặt được, mặt hạn chế trong xây dựng, tổ
chức thực thi và đánh giá chính sách dịch vụ công trực tuyến ở Việt Nam, từ đó tìm
ra nguyên nhân dẫn đến những hạn chế đó;
- Trên cơ sở phân tích quan điểm chung của Đảng về đẩy mạnh ứng dụng công
nghệ thông tin trong bối cảnh hội nhập quốc tế, nêu quan điểm của cá nhân trong
hoàn thiện chính sách dịch vụ công trực tuyến để đề xuất, phân tích, luận giải những
nhóm giải pháp nhằm hoàn thiện chính sách dịch vụ công trực tuyến, đảm bảo hoàn
thiện từng khâu của chu trình chính sách: giải pháp để hoàn thiện khâu hoạch định,
xây dựng chính sách: giải pháp nâng cao nhận thức, năng lực của chủ thể xây dựng
chính sách, đảm bảo chất lượng của đề án chính sách như: về xác định vấn đề, mục tiêu
chính sách, giải pháp chính sách dịch vụ công trực tuyến, giải pháp tăng cường sự phối
hợp giữa các nhóm chủ thể, hoàn thiện môi trường pháp lý; tăng cường đầu tư nguồn
tài chính cho hoạt động xây dựng chính sách, đầu tư phát triển hạ tầng công nghệ thông
tin và truyền thông, giải pháp đảm bảo thể chế pháp lý cho hoạt động xây dựng chính
sách...; nhóm giải pháp nhằm tăng cường tổ chức thực hiện chính sách và giải pháp mở
rộng hoạt động đánh giá chính sách dịch vụ công trực tuyến.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận án
3.1. Về đối tượng nghiên cứu: Luận án nghiên cứu chính sách dịch vụ công
trực tuyến ở Việt Nam giới hạn trong phạm vi nghiên cứu đối với dịch vụ công là
dịch vụ hành chính công; Dịch vụ sự nghiệp công trực tuyến và dịch vụ công ích
trực tuyến không được xem xét trong nghiên cứu này.
3.2. Về phạm vi nghiên cứu
* Phạm vi nội dung: luận án lựa chọn nghiên cứu chính sách dịch vụ công trực
tuyến theo chu trình chính sách nhưng tập trung ở giai đoạn hoạch định, xây dựng

4




5


4. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu của luận án
4.1. Phương pháp luận
Luận án tiếp cận và luận giải các vấn đề của chính sách dịch vụ công trực
tuyến trên cơ sở lý luận phép biện chứng của chủ nghĩa duy vật lịch sử, khi xem xét
vấn đề nghiên cứu của luận án đặt trong mối quan hệ biện chứng với các yếu tố về
điều kiện kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội... Đồng thời dựa trên quan điểm, chủ
trương của Đảng Cộng sản Việt Nam về chính sách đẩy mạnh ứng dụng công nghệ
thông tin và truyền thông, chính sách chính phủ điện tử, chính sách dịch vụ công
trực tuyến. Bên cạnh đó, luận án sử dụng lý thuyết về tổng quan chính sách công,
dịch vụ công, dịch vụ hành chính công trực tuyến, chính sách dịch vụ công trực
tuyến, chu trình chính sách... để luận giải các vấn đề có liên quan đến luận án.
4.2. Phương pháp nghiên cứu
* Về phương pháp tiếp cận:
Luận án tiếp cận vấn đề từ góc độ khoa học chính sách công: trên cơ sở lý
thuyết về tổng quan chính sách công từ nội dung về xác định vấn đề, mục tiêu, giải
pháp chính sách, chu trình chính sách. Cụ thể, tác giả từ lý thuyết chung về dịch vụ
hành chính công, dịch vụ hành chính công trực tuyến, khoa học chính sách công để
tiếp cận khung lý thuyết của chính sách dịch vụ công trực tuyến. Trên cơ sở đó, tác
giả khảo sát thực tiễn chính sách dịch vụ công trực tuyến theo chu trình chính sách,
trọng tâm là giai đoạn hoạch định, xây dựng chính sách với việc xác định vấn đề,
mục tiêu và giải pháp chính sách trong đề án chính sách, đánh giá thực tiễn chính
sách, tìm ra nguyên nhân của hạn chế để làm cơ sở đề xuất các giải pháp hoàn thiện
chính sách dịch vụ công trực tuyến ở Việt Nam. Bên cạnh đó, để đảm bảo tính toàn
diện của luận án, tác giả sử dụng kết hợp phương pháp tiếp cận liên ngành với sự
phối hợp giữa kinh tế học, xã hội học, luật học, lịch sử vì luận án có phạm vi nghiên
cứu liên quan đến nhiều khoa học chuyên ngành.

1: 150 phiếu/tỉnh; nhóm 2: 50 phiếu/tỉnh. Kết quả khảo sát xem Phụ lục VI.
- Phương pháp phỏng vấn sâu: tác giả tiến hành phỏng vấn sâu các chủ thể có
thẩm quyền trong cung ứng dịch vụ công trực tuyến với 10 phiếu (01 bảng hỏi - xem
Phụ lục V và tổng hợp kết quả - xem Phụ lục VII): lãnh đạo cơ quan có thẩm quyền
quản lý như các cơ quan thông tin, truyền thông; lãnh đạo cơ quan ứng dụng như
các bộ, sở, ban, ngành cung ứng dịch vụ hành chính công.
Phương pháp điều tra xã hội học và phương pháp phỏng vấn sâu phục vụ
nghiên cứu Chương 3 của luận án.

7


Sau khi kết quả điều tra được xử lý, tác giả tiến hành phân tích thông tin trên
cơ sở của sự kết hợp giữa các phương pháp định tính và định lượng. Thông tin
nghiên cứu được thể hiện dưới các hình thức: Văn bản; Bảng số liệu; …
Để có thể triển khai tốt luận án, bên cạnh việc xác định phương pháp luận và
phương pháp nghiên cứu, cần xây dựng cơ sở lý thuyết cho việc nghiên cứu.. Đối
với luận án, lý thuyết về tổng quan chính sách công, phân tích chính sách (trả lời
câu hỏi nghiên cứu 1); lý thuyết đánh giá chính sách (trả lời câu hỏi 2, 3).
Cụ thể câu hỏi nghiên cứu của luận án và phương án giải quyết các câu hỏi
này như sau:
Câu hỏi 1: Những yếu tố nào ảnh hưởng đến chính sách dịch vụ công trực
tuyến ở Việt Nam?
Cơ sở lý thuyết: Để trả lời được câu hỏi nghiên cứu này, đề tài vận dụng lý
thuyết tổng quan về chính sách công, đặc biệt là những yếu tố ảnh hưởng đến chính
sách công.
Giả thuyết nghiên cứu: chính sách dịch vụ công trực tuyến là một chính sách
công hướng đến thay đổi phương thức cung ứng dịch vụ công của Chính phủ thông
qua môi trường mạng, chịu tác động của các yếu tố chung của chính sách công.
Kết quả dự kiến: Chính sách dịch vụ công trực tuyến giải quyết vấn đề thực

một chính sách công nên khi đánh giá thực trạng chính sách dịch vụ công trực tuyến
ở Việt Nam cần áp dụng lý thuyết về đánh giá chính sách công.
Giả thuyết nghiên cứu: chính sách dịch vụ công trực tuyến ở Việt Nam hiện
nay có nhưng chưa toàn diện, chủ yếu thể hiện dưới dạng công cụ là các văn bản
pháp luật rời rạc, nội dung chủ yếu nhấn mạnh đến ứng dụng công nghệ thông tin
trong hoạt động quản lý nhà nước về chính phủ điện tử.
Tác giả sẽ sử dụng các phương pháp định tính, định lượng để đánh giá thực
tiễn chính sách dịch vụ công trực tuyến. Từ kết quả tổng quan tình hình nghiên cứu
có thể thấy rằng giả thuyết về một hệ thống chính sách dịch vụ công trực tuyến ở
Việt Nam thời gian qua là hoàn toàn có cơ sở. Dự kiến luận án sẽ đánh giá được
chính xác vấn đề, mục tiêu, giải pháp của chính sách dịch vụ công trực tuyến ở Việt
Nam thời gian qua còn mang tính chất chung chung, lồng ghép với chính sách xây
dựng chính phủ điện tử, chưa có sự tiếp cận hệ thống theo góc độ chính sách công,
với vấn đề chi phối toàn bộ mục tiêu, giải pháp chính sách dịch vụ công trực tuyến
đó là vấn đề về lợi ích nhóm (dung hòa lợi ích của các nhóm chủ thể tham gia chính
sách). Luận án còn chỉ rõ hạn chế trong việc xác định chủ thể, thể chế chính sách,

9


các yếu tố tác động đến định hướng chính sách dịch vụ công trực tuyến (chủ yếu
mới xác định chủ thể là chính quyền, rất chăm chút xây dựng cơ sở dữ liệu, đào tạo,
đầu tư ứng dụng công nghệ thông tin cho phía chủ thể chính quyền...; thể chế chủ
yếu nhằm vào các quy định trong văn bản pháp lý, đề án, kế hoạch, chương trình...).
Luận án chỉ rõ những hạn chế, tồn tại làm cơ sở để hoàn thiện chính sách dịch vụ
công trực tuyến ở Việt Nam: Chưa xác định cụ thể về: sự tham gia, dung hòa lợi
ích, nguồn tài chính, thói quen, văn hóa.., điều kiện kinh tế - xã hội, sự kiên quyết
của người lãnh đạo, thể chế...; Hoàn thiện mục tiêu chính sách: bất cứ khi nào, bất
cứ nơi đâu và ngay lập tức; Thiếu nguồn lực tổ chức thực hiện chính sách dịch vụ
công trực tuyến: tài chính, con người (đội ngũ cán bộ, công chức), chủ thể thụ

chu trình chính sách. Luận án hình thành khung lý thuyết cơ bản về chính sách dịch
vụ công trực tuyến, tập trung làm rõ nội hàm của chính sách dịch vụ hành chính
công trực tuyến trong bối cảnh cải cách thủ tục hành chính và yêu cầu hiện đại hóa
nền hành chính hiện nay, nội dung chính sách, yếu tố ảnh hưởng đến mức độ hoàn
thiện của chính sách... Đồng thời, hoàn thiện lý luận về các giai đoạn trong chu trình
chính sách công, đặc biệt tập trung làm rõ lý luận về giai đoạn hoạch định, xây dựng
chính sách: lý thuyết về xác định vấn đề chính sách, xây dựng mục tiêu chính sách và
xây dựng giải pháp chính sách dịch vụ công trực tuyến. Những lý luận này trước đây
chỉ được nghiên cứu ở góc độ hẹp hoặc được tiếp cận dưới góc độ kỹ thuật, công nghệ
thông tin và được nêu chung trong chính sách xây dựng chính phủ điện tử.
Về thực tiễn: Dựa trên khung lý thuyết về chính sách dịch vụ công trực tuyến,
luận án đã đánh giá thực trạng chính sách dịch vụ công trực tuyến theo chu trình
chính sách. Để đánh giá giai đoạn hoạch định, xây dựng chính sách, tác giả khảo
sát, đánh giá hiệu quả giải quyết vấn đề chính sách thông qua đánh giá mức độ hoàn
thành mục tiêu của chính sách, thể hiện ở mức độ hài lòng của chủ thể thụ hưởng
dịch vụ công trực tuyến trong xã hội và thứ hạng; đánh giá vị trí của Việt Nam trên
trường quốc tế trong việc ứng dụng công nghệ thông tin, xây dựng chính phủ điện
tử dựa trên cơ sở các báo cáo xếp hạng, đánh giá về chính phủ điện tử nói chung,
cung ứng dịch vụ công trực tuyến nói riêng. Từ đó, đưa ra những nhận định, đánh
giá một cách toàn diện, đồng bộ về chính sách dịch vụ công trực tuyến ở Việt Nam
hiện nay, phân tích rõ những hạn chế, nguyên nhân của hạn chế đó làm cơ sở xây
dựng kiến nghị, giải pháp.
Với quan điểm của cá nhân dựa trên quan điểm của Đảng về ứng dụng công
nghệ thông tin trong điều kiện hội nhập quốc tế hiện nay, đặc biệt là ứng dụng trong

11


hoạt động phục vụ, cung ứng dịch vụ hành chính công của chính phủ, luận án đã đề
xuất nhóm các giải pháp tương đối khả thi, cụ thể với từng giai đoạn trong chu trình



xác vấn đề, mục tiêu, giải pháp, chủ thể, thể chế khi xây dựng chính sách; nâng cao
nhận thức, năng lực của chủ thể ban hành chính sách, tăng cường đầu tư nguồn lực
tài chính, hoàn thiện môi trường pháp lý và có cơ chế phối hợp giữa các nhóm chủ
thể giam gia xây dựng chính sách; tăng cường tổ chức thực hiện và mở rộng đánh
giá chính sách dịch vụ công trực tuyến ở Việt Nam.
Luận án có thể được sử dụng làm tài liệu tham khảo đối với các nhà hoạch
định chính sách, các nhà quản lý, các chủ thể tham gia chu trình chính sách dịch vụ
công trực tuyến: chủ thể cung ứng: chính quyền; chủ thể thụ hưởng: người dân,
doanh nghiệp, các tổ chức. Luận án có thể được tham khảo trong hoạt động nghiên
cứu và đào tạo lĩnh vực khoa học chính sách công.
7. Cấu trúc của luận án
Ngoài Phần mở đầu, Kết luận và Danh mục tài liệu tham khảo, luận án kết cấu
gồm bốn chương:
Chương 1. Tổng quan các công trình nghiên cứu liên quan đến luận án.
Chương 2. Những vấn đề lý luận về chính sách dịch vụ công trực tuyến.
Chương 3. Thực tiễn chính sách dịch vụ công trực tuyến ở Việt Nam.
Chương 4. Quan điểm, giải pháp hoàn thiện chính sách dịch vụ công trực
tuyến ở Việt Nam.

13


Chương 1
TỔNG QUAN CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU
LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN
1.1. Tổng quan các công trình nghiên cứu
Các công trình nghiên cứu chung về chính sách công
Nhóm công trình nghiên cứu chung về chính sách công tương đối đa dạng và

pháp và các yếu tố ảnh hưởng đăng trên Tạp chí Lý luận chính trị, Số 5/2014; Tác
giả Lê Chi Mai (2001) với cuốn sách Những vấn đề cơ bản về chính sách và quy
trình chính sách, Nxb. Đại học quốc gia thành phố Hồ Chí Minh. Những công trình
cung cấp khung lý luận chung về chính sách công, chu trình chính sách công, từ đó
làm cơ sở để luận án cụ thể hóa trong Chương lý luận về chính sách dịch vụ công
trực tuyến. Bên cạnh những công trình phân tích khung lý thuyết về tổng quan chính
sách công, một số tác giả có cách tiếp cận từ những yếu tố trong đề án chính sách.
Tiêu biểu là bài viết Cơ sở lý luận để xác định vấn đề chính sách công của tác giả
Văn Tất Thu đăng trên Tạp chí Quản lý nhà nước – số 241(2/2016). Trong bài viết,
tác giả đã lý giải quan niệm về vấn đề chính sách công và đưa ra một số vấn đề cần
được giải quyết thông qua công cụ chính sách công hiện nay ở Việt Nam. Cách tiếp
cận vấn đề chính sách thông qua xác định một số vấn đề chính sách cụ thể hiện nay
là một trong những cách tiếp cận mà tác giả lựa chọn để triển khai luận án của
mình. Khi xây dựng chính sách phải xác định đúng và trúng vấn đề chính sách, từ
đó đảm bảo phương án chính sách công khả thi. Cùng cách tiếp cận đó, tác giả có
bài viết Giải pháp chính sách phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao hiện nay
đăng trên Tạp chí Quản lý nhà nước số 246 (7/2016). Bài viết xây dựng giải pháp
chính sách cho một chính sách công cụ thể, đây là tham khảo quan trọng để tác giả
xây dựng giải pháp chính sách trong chính sách dịch vụ công trực tuyến mà luận án
đang nghiên cứu. Tác giả Võ Khánh Vinh với loạt bài viết về chính sách công đăng
trên Tạp chí Nhân lực khoa học xã hội năm 2016, cụ thể: bài viết Quy trình chính
sách công: Một số vấn đề lý luận đăng trên Tạp chí Nhân lực khoa học xã hội số 92016 đã có những cách tiếp cận lý luận về quy trình chính sách công theo hướng
giải thích quy trình chính sách công, phân loại và các cấu thành, chủ thể của quy
trình chính sách công. Đây là cơ sở lý luận quan trọng để tác giả tiếp cận lý luận về
chu trình chính sách dịch vụ công trực tuyến. Bên cạnh bài viết về quy trình chính
sách công, tác giả Võ Khánh Vinh còn có những công trình nghiên cứu về mô hình
chính sách công và chính sách pháp luật, cụ thể: bài viết Mô hình nghiên cứu hệ

15


16


chỗ thiếu kinh nghiệm trong ứng dụng CNTT hay do nhận thức không đầy đủ của
một số cấp lãnh đạo cũng là một rào cản lớn đối với tiến trình tin học hóa và xây
dựng CPĐT; đại đa số các nhà lãnh đạo chưa thực sự quan tâm nhiều đến việc
CCHC và cải cách bộ máy quản lý của mình.
Nhóm tác giả Kim Hoa, Bình Minh (2007) với bài viết Việt Nam đã sẵn sàng
cho chính phủ điện tử đăng trên Tạp chí Tin học tài chính số 43 tháng 1/2007; tác
giả Quang Minh (2009) với bài viết Dịch vụ công trực tuyến - CCHC đăng trên Tạp
chí Khoa học và công nghệ số 7/2009; tác giả Nguyễn Thanh Minh, Nguyễn Bội
Ngọc (2011) với bài viết Những khó khăn gặp phải trong triển khai chính phủ điện
tử, (Theo dự thảo “Electronic Goverment/or Developing Countries”của ITU) đăng
trên Tạp chí CNTT&TT Kỳ 2 (3.2011); tác giả Trần Ngọc Luân (2013) với bài viết
Quản lý nhà nước về chính phủ điện tử ở Việt Nam hiện nay đăng trên Tạp chí
CNTT&TT kỳ 2; tác giả Minh Chung (2012) với bài viết Chính phủ điện tử di động
- Xu hướng DVC thế hệ tiếp theo đăng trên Tạp chí CNTT&TT Kỳ 2 (3.2012); tác
giả Trần Cao Tùng (2013), Bàn về xây dựng Chính phủ điện tử ở Việt Nam đăng
trên Tạp chí quản lý nhà nước - số 204 (1/2013); tác giả Hồng Minh (2015) với bài
viết Các yêu cầu phi chức năng cho hệ thống thông tin cung cấp DVCTT đăng trên
Tạp chí Tin học Ngân hàng số 4 (152) - 6/2015. Hầu hết vấn đề của chính sách
DVCTT được các tác giả nêu dưới dạng đề cập những bất cập trong triển khai
CPĐT như: kỹ năng, thông tin, cơ quan, liên cơ quan và tích hợp, hiện tại CPĐT
của Việt Nam mới chỉ đáp ứng được những yêu cầu sơ đẳng về kỹ năng và thông
tin, còn 3 giai đoạn cuối vẫn chưa được thực hiện tốt. Bên cạnh đó, nhiều CBCC
vẫn quen với nếp làm việc thủ công giấy tờ; nhân lực về CNTT còn yếu và thiếu;
việc lựa chọn công nghệ và chuẩn hóa hệ thống CNTT chưa phù hợp, vì vậy chưa
tích hợp và liên kết các cơ sở dữ liệu của Chính phủ, cơ quan, ban, ngành, địa
phương đến xã phường; kỹ năng ứng dụng CNTT của cán bộ lãnh đạo, công chức
chưa cao. Nhận thức về CNTT trong cộng đồng dân cư còn hạn chế, tỷ lệ máy tính

tác giả Nguyễn Thị Thu Hường (2017) với bài viết: Ủy ban nhân dân Quận 1 đi đầu
trong cung ứng dịch vụ hành chính công trực tuyến đăng trên Hồ sơ sự kiện số 358
ngày 10/9/2017 xác định vấn đề chính sách DVCTT đặt ra ở chỗ, vì khái niệm
DVCTT còn mới trong khi người dân quá quen với các dịch vụ hành chính công
cung ứng theo phương thức truyền thống (trực tiếp tại trụ sở cơ quan công quyền)
nên việc ứng dụng trực tuyến cũng đang cần có những quyết sách giải quyết vấn đề
này. Hai tác giả Lê Thị Thanh Tâm và Nguyễn Văn Phương (2017) với bài viết Tác

18



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status