VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
NGÔ HỒNG CHÂU
THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH TÔN GIÁO
TRÊN ĐỊA BÀN QUẬN HẢI CHÂU,
THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
LUẬN VĂN THẠC SĨ CHÍNH SÁCH CÔNG
HÀ NỘI, Năm 2019
VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
NGÔ HỒNG CHÂU
THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH TÔN GIÁO
TRÊN ĐỊA BÀN QUẬN HẢI CHÂU,
THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
Chuyên ngành : Chính sách công
Mã số
: 8 34 04 02
LUẬN VĂN THẠC SĨ CHÍNH SÁCH CÔNG
Người hướng dẫn khoa học:
PGS. TS. ĐOÀN TRIỆU LONG
2.3. Những vấn đề đặt ra từ quá trình thực hiện chính sách tôn giáo tại quận
Hải Châu. ......................................................................................................... 48
Chương 3 DỰ BÁO TÌNH HÌNH VÀ GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO
HIỆU QUẢTHỰC HIỆN CHÍNH SÁCH TÔN GIÁO Ở QUẬN HẢI
CHÂU ............................................................................................................. 57
3.1. Dự báo tình hình tôn giáo trên điạ bàn thành phố Đà Nẵng .................... 57
3.2. Một số giải pháp để nâng cao hiệu quả thực hiện chính sách tôn giáo ở
quận Hải Châu trong thời gian đến ................................................................. 60
3.3. Một số kiến nghị, đề xuất ......................................................................... 71
KẾT LUẬN .................................................................................................... 76
TÀI LIỆU THAM KHẢO
DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CÁC TỪ VIẾT TẮT
BTG
:
Ban Tôn giáo
BTSPG
:
Ban Trị sự Phật giáo
GHPGVNTN
:
của sự nghiệp đổi mới đất nước hiện nay, Đảng và Nhà nước ta đã đề ra và
thực hiện nhiều chính sách đúng đắn về tín ngưỡng, tôn giáo đối với bộ phận
đông đảo quần chúng nhân dân.
Hải Châu là quận trung tâm của thành phố Đà Nẵng, là trung tâm chính
trị, hành chính, kinh tế, văn hóa – xã hội và là địa bàn trọng điểm về an ninh –
quốc phòng của thành phố nên cũng là nơi tập trung nhiều tổ chức tôn giáo,
có đông chức sắc, nhà tu hành, tín đồ... với nhiều hoạt động diễn ra phong phú
và đa dạng. Đến nay, trên địa bàn quận đã có 05 tổ chức tôn giáo đang hoạt
động hợp pháp, ổn định, với khoảng 50.000 tín đồ, 459 chức sắc, chức việc,
41 cơ sở tôn giáo.
Trên địa bàn quận Hải Châu, hoạt động tôn giáo của các tổ chức tôn giáo
cơ sở diễn ra bình thường, ổn định, tuân thủ pháp luật, thuần túy tôn giáo. Tuy
nhiên, do tình hình hoạt động tôn giáo trong nước có nhiều diễn biến phức
tạp, khó lường. Nhữngphần tử cực đoan trong tôn giáo lợi dụng vấn đề tự do
tôn giáo để tuyên truyền chống phá, chia rẽ khối đại đoàn kết thống nhất toàn
dân tộc. Tình hình đó ít nhiều ảnh hưởng đến hoạt động tôn giáo của quận.
Bên cạnh đó, nhận thức về chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước của
1
bộ phận cán bộ đảng viên ít nhiều còn hạn chế; sự phối hợp giữa các cấp, các
ngành còn thiếu tập trung và đồng bộ; việc giải quyết các vấn đề liên quan
đến tôn giáo còn nhiều bất cập, chưa triệt để. Đặc biệt, việc thực hiện chức
năng quản lý nhà nước về tôn giáo của chính quyền ở nhiều nơi còn lúng
túng, thiếu đồng bộ; công tác xây dựng lực lượng cốt cán, đào tạo bồi dưỡng
cán bộ làm công tác tôn giáo còn chưa được quan tâm đúng mức; nhận thức
đối với tôn giáo và hoạt động tôn giáo của chính quyền cấp phường ở một số
nơi chưa thống nhất.
Việc xử lý vi phạm về hoạt động tôn giáo trái với quy định pháp luật
đang gặp khó khăn, vướng mắc cần có chế tài cụ thể chấn chỉnh việc sinh hoạt
giáo, từkhi thực hiện đổi mới cho đến nay.
- Tác phẩm “Tôn giáo – Quan điểm, chính sách của Đảng và Nhà nước
Việt Nam hiện nay” của Nguyễn Đức Lữ (2009),Nhà xuất bản Chính trị - Hành
chính;tác giả đã hệ thống các quan điểm, đường lối, chủ trương, chính sách
của Đảng ta đối với tín ngưỡng, tôn giáo trong từng giai đoạn cách mạng từ
năm 1930 đến nay. Đảng ta luôn quan tâm và coi vấn đề tín ngưỡng, tôn giáo
là vấn đề quan trọng hàng đầu trong thực hiện nhiệm vụ cách mạng từng giai
đoạn và đi đến khẳng định quan điểm nhất quán của Đảng về tín ngưỡng, tôn
giáo là: tôn trọng và bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo và quyền tự do
không tín ngưỡng, tôn giáo của nhân dân; đồng thời chống lợi dụng tôn giáo,
bài trừ mê tín, dị đoan; đoàn kết đồng bào có tín ngưỡng tôn giáo và đồng bào
không có tín ngưỡng, tôn giáo cũng như đồng bào theo tôn giáo khác nhau;
quan tâm cải thiện đời sống vật chất, tinh thần của đồng bào có tôn giáo.
- Tác phẩm Tư tưởng Hồ Chí Minh về tôn giáo và công tác tôn giáo của
02 tác giả Lê Hữu Nghĩa – Nguyễn Đức Lữ (2003), Nhà xuất bản Tôn giáo,
Hà Nội;đã đề cập tới rất nhiều khía cạnh, góc độ khác nhau trong tư tưởng Hồ
Chí Minh về tôn giáo và công tác tôn giáo, góp phần tạo ra sự thống nhất về
3
nhận thức tư tưởng và phương pháp giải quyết vấn đề tôn giáo trong tình hình
mới.
- Luận văn thạc sỹThực hiện chính sách tôn giáo từ thực tiễn thành phố
Đà Nẵng của tác giảTào Gia Cát Linh (2014) đã nghiên cứu thực trạng thực
hiện chính sách tôn giáo từ thực tiễn thành phố Đà Nẵng, quá trình thực hiện,
kết quả và những hạn chế trong quá trình thực hiện chính sách tôn giáo tại
thành phố Đà Nẵng, đề xuất những giải pháp nhằm nâng cao công tác thực
hiện chính sách tôn giáo tại thành phố Đà Nẵng.
Những công trình, luận văn trên đã đề cập đến nhiều khía cạnh của vấn
đề tôn giáo, công tác tôn giáo ở Việt Nam,công tác quản lý nhà nước và thực
trên địa bàn quận Hải Châu.
4.2. Phạm vi nghiên cứu gồm
Về không gian: quận Hải Châu
Về thời gian: Từ năm 2010 đến nay và một số dự báo cho tương lai
5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
5.1. Cơ sở lý luận
Quan điểm của Chủ nghĩa Mác – Lê nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, cùng
các quan điểm, chính sách pháp luật của Đảng, Nhà nước là cơ sở phương
pháp luận để thực hiện đề tài.
5.2. Phương pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng phương pháp của chủ nghĩa duy vật biện chứng, chủ
nghĩa duy vật lịch sử. Bên cạnh đó, luân văn còn sử dụng phương pháp chính
sách công, phương pháp nghiên cứu tài liệu; so sánh; tổng kết thực tiễn và
phương pháp phân tích tổng hợp.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn
6.1. Ý nghĩa lý luận
- Trên cơ sở lý luận về tôn giáo và chính sách tác tôn giáo, luận văn làm
5
rõ thực tiễn quá trình thực hiện chính sách tôn giáo trên địa bàn quận Hải
Châu. Đánh giá kết quả đạt được và chỉ ra những tồn tại, nguyên nhân trong
quá trình thực hiện chính sách tôn giáo.
6.2. Ý nghĩa thực tiễn
- Luận văn đưa ra dự báo tình hình tôn giáo và đề xuất các giải pháp thiết
thực giúp Thường trực Quận ủy, UBND, Ban Chỉ đạo T98 và các cơ quan
chức năng của quận Hải Châu nói riêng và thành phố Đà Nẵng nói chung
hoàn thiện và nâng cao hiệu quả tổ chức thực hiện chính sách tôn giáo trong
thời gian đến.
7. Bố cục của luận văn
Với những nhận định trên, Các Mác và Ăngghen đã tìm được câu trả lời
cho các nhà tư tưởng lúc bấy giờ là cái quyết định của sự phát triển xã hội loài
người nói chung, tôn giáo nói riêng chủ yếu là yếu tố kinh tế hay tinh thần.
Các Mác cho rằng, chỉ có phân tích điều kiện kinh tế thì mới giải đáp được
thắc mắc đó.
Qua sự phản ánh của tôn giáo, những lực lượng tự phát của tự nhiên và
xã hội trở thành sức mạnh siêu nhiên có quyền uy tối thượng và đã tác động
7
đến một cộng đồng. Tôn giáo chỉ ra đời khi xuất hiện giai cấp và xảy ra đấu
tranh giai cấp. Chính vì vậy, khi nói về tôn giáo, Lênin đã định nghĩa: “Tôn
giáo là một trong những hình thức áp bức về tinh thần, luôn luôn và bất cứ ở
đâu cũng đè nặng lên quần chúng nhân dân khốn khổ vì phải lao động suốt
đời cho người khác hưởng, vì phải chịu cảnh bần cùng và cô độc”.
Tư tưởng Hồ Chí Minh về tôn giáo dựa trên những luận điểm cơ bản của
chủ nghĩa Mác - Lênin về tôn giáo và vận dụng sáng tạo vào Việt Nam.Đó là
tư tưởng đoàn kết lương giáo, hòa hợp dân tộc, xây dựng khối đại đoàn kết
toàn dân tộc. Chủ tịch Hồ Chí Minh nêu mối quan hệ chặt chẽ giữa tôn giáo
với dân tộc một cách dễ hiểu, giản dị nhưng rất sâu sắc như: kính Chúa gắn
với yêu nước, phụng sự Thiên chúa và phụng sự Tổ quốc, nước vinh đạo mới
sáng.
Nội dung cơ bản tư tưởng Hồ Chí Minh về tôn giáo là tôn trọng và bảo
đảm quyền tự do tín ngưỡng của nhân dân. Tư tưởng đó đã trở thành nguyên
tắc, nền tảng xuyên suốt trong chính sách của Đảng và Nhà nước ta đối với
tôn giáo.
Tư tưởng của Hồ Chí Minh về đoàn kết tôn giáo, về tôn trọng và bảo
đảm quyền tự do tín ngưỡng của nhân dân cho đến nay vẫn còn nguyên giá
trị. Nghiên cứu tư tưởng của Người về vấn đề tôn giáo là cơ sở cho Đảng và
Nhà nước ta hoạch định chính sách đối với tôn giáo, công tác QLNN về tôn
Chính phủ về quy định chi tiết và biện pháp thi hành luật tín ngưỡng tôn giáo.
Thực hiện quan điểm của Đảng và Nhà nước, để thống nhất trong công
tác chỉ đạo, điều hành, giải quyết các vấn đề liên quan đến việc thực hiện
chính sách tôn giáo. Năm 1998, Thành ủy Đà Nẵng đã ra Quyết định thành
lập Ban Chỉ đạo công tác tôn giáo lấy tên gọi là T98 do đồng chí Phó Bí thư
Thường trực Thành ủy làm Trưởng ban chỉ đạo, ngay sau khi thành lập Ban
chỉ đạo T98 đã chỉ đạo UBND thành phố ban hành Quyết định số 83 ngày
9
08/7/1999 quy định về quản lý nhà nước đối với một số hoạt động tôn giáo
trên địa bàn thành phố; tiếp đó thực hiện Nghị định 22 ngày 01/3/2005 của
Chính phủ về hướng dẫn thực hiện Pháp lệnh tín ngưỡng, tôn giáo, ngày
02/8/2008 UBND thành phố ban hành Quyết định số 52 về quản lý nhà nước
về tôn giáo trên địa bàn thành phố Đà Nẵng; 02 văn bản quy phạm pháp luật
trên cụ thể hóa việc thực hiện quan điểm của Đảng, Nhà nước và Thành ủy
Đà Nẵng về thực hiện chính sách tôn giáo, qua đó thể hiện được công tác
quản lý nhà nước về lĩnh vực công tác tôn giáo một cách rõ nét nhất, được
nhân dân cũng như các tổ chức tôn giáo toàn thành phố đồng tình, ủng hộ. Từ
năm 2010 đến nay, cấp ủy, chính quyền thành phố Đà Nẵng đã ban hành
nhiều văn bản nhằm tiếp tục tăng cường lãnh đạo, chỉ đạo công tác tôn giáo
như: Chỉ thị số 16-CT/TU ngày 08/6/2012 của Thành ủy về việc tăng cường
lãnh đạo, chỉ đạo công tác tôn giáo trên địa bàn thành phố; Kế hoạch số 23
ngày 9/5/2010 của Thành ủy về việc thực hiện một số nhiệm vụ về công tác
tôn giáo; Hướng dẫn số 08 ngày 19/11/2014 của Thành ủy ban hành Đề án
xây dựng lực lượng cốt cán trong chức sắc, tín đồ tôn giáo, Chỉ thị 01 ngày
02/4/2018 của UBND thành phố về triển khai thực hiện Luật tín ngưỡng tôn
giáo trên địa bàn thành phố. Những văn bản trên tiếp tục thể hiện sự quan tâm
của cấp ủy, chính quyền thành phố đối với công tác tôn giáo và đảm bảo việc
thực hiện chính sách tôn giáo trên địa bàn thành phố đạt kết quả.
nhân dân nói chung, trong đó có đồng bào tín đồ các tôn giáo.
- Công tác thực hiện chính sách tôn giáo có liên quan đến nhiều lĩnh vực
của đời sống xã hội, các ngành, các cấp và các địa phương. Chính vì vậy,
Đảng và Nhà nước cho rằng, việc thực hiện tốt chính sách tôn giáo là trách
nhiệm của toàn bộ hệ thống chính trị do Đảng lãnh đạo. Bộ máy và đội ngũ
cán bộ làm công tác tôn giáo có trách nhiệm trực tiếp, cần được củng cố, kiện
toàn. Việc quản lý nhà nước đối với các tôn giáo và công tác đấu tranh chống
11
việc lợi dụng tôn giáo để chống chế độ chỉ đạt kết quả nếu làm tốt công tác
vận động quần chúng.Mọi quần chúng tín đồ đều được quyền tự do hành đạo
tại gia đình mình và các cơ sở thờ tự hợp pháp được Nhà nước công nhận.
Các tổ chức tôn giáo được Nhà nước công nhận được hoạt động theo pháp
luật và được Nhà nước bảo hộ, được phép mở trường đào tạo chức sắc, nhà tu
hành, được xuất bản kinh sách và xây dựng, sửa chữa cơ sở thờ tự của mình
theo đúng các quy định của pháp luật. Việc truyền đạo, theo đạovà mọi hoạt
động khác đều phải tuân thủ theo Hiến pháp, pháp luật; nghiêm cấm ép buộc
người dân theo đạo và lợi dụng tôn giáo để tuyên truyền tà đạo, hoạt động mê
tín dị đoan.
- Gần đây nhất, Chỉ thị 18-CT/TW, ngày 10/01/2018 của Ban Chấp hành
Trung ương Đảng khóa XII về tiếp tục thực hiện Nghị quyết 25 đã khẳng định
quan điểm của Đảng và Nhà nước về công tác tôn giáo đã đi vào cuộc sống và
đạt được nhiều kết quả, góp phần xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc,
đóng góp tích cực vào sự nghiệp xây dựng, bảo vệ và hội nhập quốc tế của đất
nước.
1.1.3.2. Nguyên tắc
Trong mọi giai đoạn lịch sử, Đảng ta luôn thể hiện nguyên tắc cần phải
tôn trọng và bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo và tự do không tín
ngưỡng tôn giáo của công dân. Mọi công dân đều bình đẳng về quyền lợi và
đẹp và nguồn lực của tôn giáo cho quá trình phát triển đất nước.
Ba là, tiếp tục hoàn thiện chính sách, pháp luạt về tôn giáo. Sửa đổi, bổ
sung chính sách, pháp luật có liên quan đến tôn giáo như: Đất đai, văn hóa,
giáo dục, y tế…bảo đảm đồng bộ với pháp luật về tôn giáo và các công ước
quốc tế mà Việt Nam tham gia. Siết chặt kỷ cương, tăng cường hiệu lực, hiệu
quả công tác quản lý nhà nước về tôn giáo, đồng thời xử lý nghiêm các hành
vi vi phạm pháp luật. Chủ động giải quyết các tranh chấp, khiếu nại, tố cáo về
13
đất đai, cơ sở thờ tự có liên quan đến tôn giáo, sớm hoàn thành việc cấp giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất cơ sở tôn giáo. Sắp xếp hợp lý, củng cố kiện
toàn tổ chức bộ máy quản lý nhà nước về tôn giáo; tăng cường cán bộ làm
công tác tôn giáo, quan tâm bố trí cán bộ làm công tác tôn giáo ở vùng có
đông tín đồ tôn giáo, tăng cường đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ chuyên
môn nghiệp vụ công tác tôn giáo để đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ thực tiễn, nâng
cao năng lực quản lý, thực thi pháp luật bảo đảm kinh phí hoạt động và có chế
độ, chính sách khuyến khích, thu hút cán bộ làm công tác tôn giáo.
Bốn là, nâng cao chất lượng của hệ thống chính trị cơ sở, bảo đảm vai trò
lãnh đạo của cấp ủy, tổ chức Đảng ở vùng có đông đồng bào theo tôn giáo,
chú trọng công tác phát triển đảng viên là người có đạo gắn với công tác xây
dựng và phát huy hiệu quả vai trò của lực lượng cốt cán trong tôn giáo làm
nòng cốt trong công tác tuyên truyền, vận động tổ chức, chức sắc, tín đồ các
tôn giáo. Chủ động nắm chắc tình hình tôn giáo, chỉ đạo giải quyết kịp thời,
dứt điểm các vấn đề liên quan đến tôn giáo không để phát sinh các điểm nóng
phức tạp. Đổi mới nội dung phương thức hoạt vận động của Mặt trận Tổ quốc
các đoàn thể chính trị - xã hội phù hợp với đặc điểm vùng đồng bào có tôn
giáo, quần chúng có tôn giáo khác nhau để phát huy nguồn lực tôn giáo đóng
góp tích cực vào phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm an ninh quốc phòng, đẩy
mạnh các phong trào thi đua yêu nước, “sống tốt đời đẹp đạo” trong quần
nước với các công cụ giải pháp cụ thể nhằm bảo đảm quyền tự do tín
ngưỡng tôn giáo theo hay không theo tôn giáo nào của công dân, bảo đảm
các tôn giáo bình đẳng trước pháp luật, quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo là
quyền của công dân. Nhà nước ta là Nhà nước của dân, do dân và vì dân,
Nhà nước ban hành chính sách tôn giáo là để đảm bảo quyền tự do tín
ngưỡng tôn giáo của người dân nhằm phát huy sức mạnh đại đoàn kết đồng
bào theo các tôn giáo khác nhau vì sự nghiệp xây dựng và bảo vệ đất nước.
15
1.2.2. Tổ chức thực hiện chính sách tôn giáo
Tổ chức thực hiện chính sách tôn giáo là quá trình chuyển hóa ý chí
của chủ thể chính sách thành hiện thực. Đây là khâu đặc biệt quan trọng
trong chu trình chính sách tôn giáo: Nó có nhiệm vụ hiện thực hóa chính
sách tôn giáo của Nhà nước, đưa chính sách tôn giáo của Nhà nước vào
cuộc sống, là sự kết nối các khâu trong chu trình chính sách tôn giáo.
1.2.3. Ý nghĩa, tầm quan trọng của việc tổ chức thực hiện chính sách
tôn giáo
Xây dựng, hoạch định được chính sách tôn giáo đúng là quan trọng
nhưng việc thực hiện đúng chính sách tôn giáo còn quan trọng hơn. Có
chính sách tôn giáo đúng nhưng không tổ chức thực hiện được trên thực tế
thì cũng trở thành vô nghĩa. Chính sách tôn giáo của Nhà nước thực hiện
không đúng và đầy đủ thì sẽ dẫn đến sự thiếu niềm tin, bất mãn và chống
đối của các chức sắc và tín đồ của tôn giáo,gây bất lợi về mặt chính trị, xã
hội, gây khó khăn cho công tác quản lý cuả Nhà nước. Thực tiễn thực hiện
chính sách tôn giáo mới biết được chính sách tôn giáo có đúng và phù hợp
hay không, có đi vào cuộc sống hay không. Quá trình thực hiện chính sách
tôn giáo với những hoạt động thực tiễn sẽ góp phần điều chỉnh, bổ sung và
hoàn thiện chính sách cho phù hợp với thực tiễn, đáp ứng yêu cầu của cuộc
sống và nguyện vọng của tín đồ tôn giáo mà trong quá trình xây dựng và
nội dung:
Một là, Kế hoạch tổ chức, điều hành bao gồm:
- Hệ thống các chủ thể, cơ quan, đơn vị chủ trì và phối hợp triển khai
thực hiện.
- Chất lượng và số lượng nguồn nhân lực tham gia thực hiện.
- Dự kiến về cơ chế trách nhiệm của cán bộ, công chức trong quá trình
thực hiện;
17
- Cơ chế tác động giữa các cấp thực thi chính sách tôn giáo.
Hai là, Kế hoạch dự kiến các nguồn lực bao gồm:
- Các nguồn lực tài chính, các vật tư, văn phòng phẩm...
Ba là, Kế hoạch thời gian triển khai thực hiện
Dự kiến về thời gian duy trì chính sách, các bước tổ chức triển khai
thực hiện từ tuyên truyền đến tổng kết rút kinh nghiệm về chính sách.
Bốn là, Kế hoạch kiểm tra, đôn đốc thực hiện chính sách tôn giáo bao
gồm:
- Thời gian, tiến độ, hình thức, phương thức kiểm tra giám sát việc tổ
chức thực hiện chính sách.
- Dự kiến về trách nhiệm, nhiệm vụ, và quyền hạn của cán bộ, công
chức và các cơ quan nhà nước tham gia tổ chức điều hành chính sách.
- Các biện pháp khen thưởng, kỷ luật các cá nhân và tập thể trong quá
trình thực thi chính sách tôn giáo.
1.3.2. Phổ biến tuyên truyền chính sách tôn giáo
Sau khi kế hoạch triển khai thực hiện chính sách tôn giáo được thông
qua, các cơ quan QLNN tiến hành tổ chức triển khai thực hiện theo kế
hoạch. Việc đầu tiên là truyên truyền vận động quần chúng tham gia thực
hiện chính sách. Đây là một hoạt động quan trọng, có ý nghĩa lớn với cơ
quan nhà nước và các đối tượng thực hiện chính sách.
dân mạnh dạn tham gia quản lý xã hội, trong đó tự giác chấp hành chính
sách tôn giáo và tham gia nghiên cứu, đề xuất biện pháp thực hiện mục tiêu
với các cơ quan nhà nước để điều chỉnh bổ sung chính sách tôn giáo ngày
càng hoàn chỉnh.
Những hoạt động đồng bộ trên sẽ góp phần tích cực vào việc duy trì
chính sách tôn giáo trong đời sống xã hội.
1.3.5. Điều chỉnh chính sách tôn giáo
Trong quá trình tổ chức thực hiện chính sách tôn giáo, việc điều chỉnh
19
chính sách là hoạt động cần thiết, nó được thực hiện bởi cơ quan QLNN
cấp Trung ương để chính sách tôn giáo ngày càng phù hợp với yêu cầu tình
hình thực tế của đất nước. Thực tế cho thấy việc điều chỉnh các biện pháp
và cơ chế tôn giáo diễn ra rất linh hoạt, năng động mà không làm thay đổi
mục tiêu của chính sách tôn giáo.Chính sách tôn giáo chỉ được điều chỉnh
các biện pháp, cơ chế thực hiện mục tiêu chính sách tôn giáo hoặc bổ sung,
hoàn chỉnh mục tiêu theo yêu cầu thực tế.
1.3.6. Theo dõi kiểm tra, đôn đốc việc thực hiện chính sách tôn giáo
Kiểm tra về thực hiện chính sách tôn giáo nhằm bảo đảm được quyền
tự do tín ngưỡng, tôn giáo của công dân, bảo đảm cho các hoạt động tôn
giáo được diễn ra bình thường theo đúng qui định của pháp luật; qua đó
tuyên truyền sâu rộng để chức sắc, tín đồ và quần chúng nhân dân nắm
vững và hiểu rõ quan điểm, chủ trưởng chính sách, pháp luật về tôn giáo
của Đảng, Nhà nước ta.
Qua công tác kiểm tra, phát hiện kịp thời, xử lý nghiêm các hành vi vi
phạm về chính sách tôn giáo, các hành vi vi phạm trong quá trình quản lý
nhà nước về tôn giáo nhằm bảo đảm các chính sách, pháp luật về tôn giáo
của Đảng, Nhà nước được thực hiện đúng pháp luật, cũng như phát huy
những giá trị tốt đẹp về văn hoá - đạo đức của tôn giáo.