Vai trò của nhà nước trong việc giải quyết xung đột xã hội ở Việt Nam hiện nay (Luận án tiến sĩ) - Pdf 60

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA
HỒ CHÍ MINH

HỌC VIỆN BÁO CHÍ VÀ TUYÊN TRUYỀN

LÊ THỊ THẢO

VAI TRÒ CỦA NHÀ NƢỚC TRONG VIỆC
GIẢI QUYẾT XUNG ĐỘT XÃ HỘI
Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
Chuyên ngành: Triết học
Mã số: 9 22 90 01

LUẬN ÁN TIẾN SĨ TRIẾT HỌC

Người hướng dẫn khoa học: 1. GS.TS. Trần Phúc Thăng
2. PGS,TS. Trần Hải Minh

HÀ NỘI - 2020


LỜI CAM ĐOAN
Tôi cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, dưới sự hướng
dẫn của thầy GS.TS Trần Phúc Thăng và thầy PGS.TS Trần Hải Minh.
Các số liệu, tài liệu tôi đã sử dụng trong luận án là hoàn toàn trung thực, đảm
bảo tính khách quan, có nguồn gốc, xuất xứ rõ ràng và không trùng lắp với
những công trình đã công bố.
Hà Nội, ngày




MỤC LỤC
MỞ ĐẦU .......................................................................................................... 1
TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI
LUẬN ÁN ......................................................................................................... 6
1. Những công trình nghiên cứu ngoài nước về xung đột xã hội và vai trò
của nhà nước trong việc giải quyết xung đột xã hội ...................................... 6
1.1. Quan điểm của các nhà tư tưởng phương Đông ................................. 6
1.2. Quan điểm của các nhà tư tưởng Phương Tây .................................... 8
1.3. Lý luận xung đột xã hội ngoài mác xít .............................................. 14
1.4. Lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin về xung đột xã hội và vai trò nhà
nước trong việc giải quyết xung đột xã hội .............................................. 16
2. Những công trình liên quan đến xung đột xã hội và vai trò của nhà nước
trong việc giải quyết xung đột xã hội ở Việt Nam ...................................... 23
2.1. Những công trình liên quan đến xung đột xã hội ở Việt Nam .......... 23
2.2. Những công trình liên quan đến xung đột xã hội và vai trò của nhà
nước trong việc giải quyết xung đột xã hội ở Việt Nam .......................... 25
2.3. Những công trình liên quan đến các giải pháp nhằm nâng cao vai trò
của nhà nước trong việc giải quyết xung đột xã hội ở Việt Nam ............ 28
2.4. Đánh giá khái quát những kết quả các công trình tổng quan và những
vấn đề luận án cần tiếp tục giải quyết ...................................................... 31
Chƣơng 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ LÝ LUẬN XUNG ĐỘT XÃ
HỘI VÀ VAI TRÒ CỦA NHÀ NƢỚC TRONG VIỆC GIẢI QUYẾT
XUNG ĐỘT XÃ HỘI .................................................................................... 35
1.1. Một số khái quát về lý luận xung đột xã hội ........................................ 35
1.1.1. Khái niệm về xung đột xã hội ........................................................ 35
1.1.2. Nguyên nhân của xung đột xã hội .................................................. 40
1.1.3. Các dạng cơ bản của xung đột xã hội ............................................ 43
1.1.4. Các giai đoạn phát triển của xung đột xã hội ................................. 46

3.1.2. Quan điểm “vì dân, vì tiến bộ xã hội và vì sự nghiệp xây dựng và
bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN” ........................................................ 129


3.1.3. Việc giải quyết mọi XĐXH ở Việt Nam hiện nay đòi hỏi nhà nước
phải phát huy được sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị và của
nhân dân ................................................................................................. 136
3.2. Một số giải pháp cơ bản để nâng cao vai trò của nhà nước trong việc
giải quyết xung đột xã hội ở Việt Nam hiện nay ....................................... 138
3.2.1. Tiếp tục xây dựng và hoàn thiện hệ thống văn bản quy phạm pháp
luật, nhất là trong các lĩnh vực thường xảy ra XĐXH ........................... 138
3.2.2. Thường xuyên củng cố, kiện toàn và hoàn thiện bộ máy thực thi
pháp luật ................................................................................................. 140
3.2.3. Đẩy mạnh việc giáo dục ý thức pháp luật và ý thức cộng đồng cho
cán bộ và mọi tầng lớp nhân dân............................................................ 144
3.2.4. Nâng cao tính khoa học của các quy trình giải quyết xung đột xã
hội của nhà nước .................................................................................... 147
3.2.5. Nâng cao vai trò chủ động của chính quyền cấp cơ sở trong việc
giải quyết XĐXH ................................................................................... 149
KẾT LUẬN .................................................................................................. 154
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ................................................... 156


DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
CHỮ VIẾT TẮT

CHỮ VIẾT ĐẦY ĐỦ

CNH, HĐH


XHCN

Xã hội chủ nghĩa


1
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
1.1. Thời kỳ đổi mới ở Việt Nam bắt đầu từ 1986 là một thời kỳ đặc thù
trong quá trình phát triển đất nước theo định hướng XHCN. Đường lối cách
mạng của thời kỳ này được xây dựng trên cơ sở nền tảng lý luận của chủ
nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh cùng thực tiễn sinh động của Việt
Nam từ 1975, nhất là từ khi đất nước bước vào quá trình đổi mới. Thời kỳ đổi
mới là thời kỳ phá dỡ nhiều rào cản để cho kinh tế xã hội được “bung ra” và
đời sống xã hội trở nên sôi động. Mọi mặt của đời sống xã hội và đặc biệt là
tư duy của con người đều có những bước phát triển đáng kể. Sự phát triển của
kinh tế cũng đã tạo điều kiện cho hàng loạt những nhu cầu mới về học tập,
chăm sóc y tế, bảo vệ môi trường, sinh hoạt văn hóa… nảy sinh. Những nhu
cầu về dân chủ, về bình đẳng xã hội, công bằng xã hội cũng ngày càng cao.
Trong khi đó, chế độ tập trung quan liêu, bao cấp còn để lại không ít những
hậu quả dai dẳng trong xã hội, đặc biệt là cơ chế “xin cho” đã làm cho bộ máy
quản lý nảy sinh nhiều bất cập. Các hiện tượng tiêu cực trong xã hội có điều
kiện bộc lộ một cách công khai gây ra những bức xúc trong xã hội. Nhiều
mâu thuẫn xã hội nảy sinh từ quá trình phát triển nền kinh tế thị trường định
hướng XHCN và hội nhập quốc tế. Những mâu thuẫn này tích tụ theo thời
gian đã tạo ra nhiều vụ xung đột xã hội ở hầu khắp các địa phương trong cả
nước ở nông thôn cũng như ở thành phố, ở miền núi cũng như ở đồng bằng.
Trong đó có những XĐXH đã phát triển thành điểm nóng chính trị xã hội ảnh
hưởng đến sự ổn định và phát triển của xã hội. Có những XĐXH còn bị các
thế lực phản động trong và ngoài nước lợi dụng để chống phá Đảng, Nhà

được nhiều giải pháp có tính khả thi cao. Tuy nhiên, các công trình này phần
lớn được phân tích dưới góc độ chính trị học, xã hội học. Cũng có các công


3
trình đã phân tích dưới góc độ triết học. Tuy nhiên, trong tất cả các công trình
trên, ngay từ những khái niệm cơ bản nhất như khái niệm XĐXH cũng chưa
thực sự thống nhất. Các công trình cũng chỉ đề cập đến vai trò của nhà nước
Việt Nam trong việc giải quyết XĐXH một cách lẻ tẻ ở phần thực trạng hoặc
giải pháp và những ý kiến đã nêu cũng còn khác nhau. Thực tế, chưa có công
trình chuyên biệt nào phân tích đậm nét dưới góc độ triết học về vai trò của
nhà nước trong việc giải quyết XĐXH ở Việt Nam hiện nay.
1.5. Từ những lý do trên, NCS thấy cần thiết phải tập trung làm rõ hơn
các vấn đề lý luận dưới góc độ triết học về XĐXH và vai trò của nhà nước
trong việc giải quyết XĐXH, có những nhận xét thỏa đáng về việc giải quyết
các XĐXH của Nhà nước Việt Nam trong thời kỳ đổi mới. Từ đó, có thể rút
ra những bài học cần thiết và tìm ra những giải pháp thiết thực, khả thi nhằm
nâng cao vai trò của Nhà nước Việt Nam trong việc giải quyết XĐXH trong
giai đoạn tới. Đề tài luận án tiến sĩ triết học “Vai trò của nhà nước trong việc
giải quyết xung đột xã hội ở Việt Nam hiện nay” mà NCS lựa chọn là nhằm
đáp ứng những yêu cầu trên.
2. Mục đích và nhiệm vụ của luận án
2.1. Mục đích
Trên cơ sở phân tích một số vấn đề lý luận về XĐXH và thực chất vai
trò của Nhà nước Việt Nam trong việc giải quyết các XĐXH ở thời kỳ đổi
mới, luận án đề xuất một số quan điểm và giải pháp nhằm nâng cao vai trò
của Nhà nước Việt Nam trong việc giải quyết các XĐXH trong giai đoạn mới.
2.2. Nhiệm vụ
- Tổng quan các công trình khoa học đã nghiên cứu về XĐXH và vai
trò của nhà nước trong việc giải quyết XĐXH.

pháp phân tích, tổng hợp, phương pháp so sánh, phân tích tài liệu, tổng kết lý
luận, thực tiễn để rút ra những kết luận mang tính khái quát.


5
5. Đóng góp mới về khoa học của luận án
- Luận án góp phần khái quát những quan niệm có tính triết học về
XĐXH trong đó chú trọng trình bày những quan điểm mới về XĐXH từ khi
đổi mới đến nay. Trên cơ sở đó, luận án phân tích rõ tầm quan trọng của việc
xây dựng hệ thống các văn bản pháp luật và xây dựng bộ máy quyền lực để
giải quyết XĐXH.
- Luận án phân tích và khẳng định những thành công chủ yếu trong
việc giải quyết XĐXH nhất là giải quyết điểm nóng xã hội đồng thời cũng
phân tích rõ những mặt còn hạn chế cơ bản và một số nguyên nhân khách
quan cũng như chủ quan, một số vấn đề đặt ra trong quá trình thực hiện vai
trò giải quyết XĐXH của Nhà nước Việt Nam thời kỳ đổi mới.
- Luận án đưa ra một số quan điểm và giải pháp chủ yếu nhằm góp
phần phát huy vai trò của Nhà nước Việt Nam trong giai đoạn tiếp theo.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận án
- Về lý luận: Luận án góp phần làm rõ thêm những vấn đề lý luận về
XĐXH và vai trò của nhà nước trong việc giải quyết các XĐXH.
- Về thực tiễn:
+ Luận án có thể góp phần làm cơ sở cho việc xác định các quan điểm
và nhất là các giải pháp thích hợp cho việc nâng cao vai trò của chính quyền
các cấp và nhà nước đối với việc giải quyết các XĐXH ở Việt Nam hiện nay.
+ Luận án cũng có thể làm tài liệu tham khảo cho việc nghiên cứu,
giảng dạy các môn: Triết học; Chính trị học, Xã hội học và các môn học khác
liên quan đến việc xây dựng nhà nước, giữ gìn trật tự kỷ cương của xã hội.
7. Kết cấu luận án
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, luận án

và bổn phận của mình. Họ đưa ra những phương thức khác nhau để khắc phục


7
tình trạng này. Những phương thức này, tùy thuộc vào quan điểm của từng nhà
triết học về nguồn gốc tạo ra xung đột. Nho giáo, do quan niệm nguyên nhân
của XĐXH là do sự suy đồi của đạo đức nên Khổng Tử đã đưa ra học thuyết
“Nhân lễ” và thuyết “Chính danh” để giáo dục lòng thương yêu và trách nhiệm,
bổn phận xã hội của con người. Cả hai học thuyết đó đều xác định rõ mục tiêu
giáo hóa con người trong đó có những nhà cầm quyền trong xã hội. Để thực
hiện được sự giáo hóa này, Khổng Tử yêu cầu các bậc vương giả cũng phải
“đạt được nhân đạo và thiên đạo” [13, tr.58-59]. Đồng thời, ông cũng xác định
rõ: “Nhà cầm quyền cần ba điều, lương thực dồi dào, binh lực mạnh mẽ và
được lòng tin của dân” [13, tr.59]. Đặc biệt ông kêu gọi các bậc đế vương
phải biết lấy đạo đức để giáo hóa dân, làm gương sáng cho dân. Những quan
niệm này tuy mang tính duy tâm nhưng vẫn có giá trị cho đến ngày nay.
Cùng thời với Khổng Tử là Lão Tử, người sáng lập đạo giáo. Lão Tử
lên án sự áp bức, bóc lột của giai cấp địa chủ, phong kiến và ông cũng phản
đối việc dùng bạo lực để trấn áp hay dập tắt các cuộc đấu tranh của nhân dân.
Để ổn định xã hội, theo ông giai cấp thống trị phải tuân thủ các quy luật của
tự nhiên. Điều này cũng có thể hiểu là phải tuân theo các quy luật khách quan
không được áp đặt ý muốn chủ quan của mình vào xã hội.
Khác với tư tưởng đề cao giáo dục, trường phái Pháp gia mà Hàn Phi Tử
(280-233) là một đại biểu điển hình, chủ trương phải sử dụng pháp luật, lấy
pháp luật làm công cụ, một phương tiện cơ bản để thống trị xã hội. Hàn Phi Tử
đã kế thừa, phát triển lý luận về “tính ác” của Tuân Tử và cho rằng “ích kỷ” là
bản tính của con người. Từ đó, Hàn Phi Tử đã nêu lên một luận điểm quan
trọng: “Lợi ích vật chất là cơ sở của tất cả các quan hệ xã hội và hành vi con
người” [13, tr.339]. Từ đó Hàn Phi Tử thấy cần thiết phải sử dụng pháp luật,
nội dung chủ yếu của pháp luật đó là “thưởng” và “phạt”. Ông xem đó là “hai

quyền uy, nên chính trị cũng là sự thống trị của trí tuệ tối cao. Nhưng một xã
hội không thể tránh khỏi sự suy đồi do những nguyên nhân tâm lý và điều đó
đã gây nên sự hỗn loạn trong xã hội. Những khuyết tật của xã hội hiện hành là


9
do các kiểu nhà nước đã và đang tồn tại đều có tính tiêu cực. Ở các nhà nước
này, những sự đồng thuận và nhất trí đã được thay bằng sự bất hòa, bạo lực và
cưỡng bức. Sự phân phối nghĩa vụ một cách công bằng đã được thay bằng sự
tham vọng quyền lực. Khát vọng vươn tới những mục tiêu cao nhất và chân
chính nhất đã được thay bằng những mục tiêu thấp hèn, thói hám lợi, bon
chen và đua tranh tiền bạc. Những quan niệm đúng mực về lợi ích và nhu cầu
vật chất đã được thay bằng thói tham lam cùng với những mâu thuẫn giữa
giàu và nghèo. Từ đó, trong mỗi nhà nước hầu như đều có sự phân đôi thành
hai nhà nước thù địch nhau. Đó là nhà nước của những người nghèo và nhà
nước của những người giàu. Dưới con mắt của ông mọi sự xấu xa, thối nát
của xã hội đều từ nhà nước ấy mà ra. Từ đó, ông mong có được những nhà
nước lý tưởng. Nhà nước ấy phải do những nhà triết học, nhà thông thái, luôn
luôn hướng tới trật tự phúc lợi tối cao, tới sự thật và công lý, đảm nhận được
vai trò lãnh đạo, trị vì xã hội. Các tầng lớp xã hội khác đều làm việc theo
những bản tính vốn có của mình mà ông gọi là những người có linh hồn mang
tính đặc thù. Mỗi tầng lớp xã hội đều có những chức năng xác định và đảm
bảo những phần việc cụ thể của xã hội. Như vậy, Platon đã thấy vai trò quan
trọng, thậm chí có ý nghĩa quyết định của nhà nước với việc giữ gìn trật tự, kỷ
cương của một xã hội, trong đó vai trò của những thành viên trong bộ máy
nhà nước là quan trọng nhất.
Nhân vật thứ hai phải kể đến ở đây là Arixtốt (384 - 322 TCN). Arixtốt
cũng là một nhà triết học, một nhà bác học có đầu óc bách khoa. Ông đã nhìn
rõ sự bất công của xã hội đương thời và đặc biệt chú ý đến vai trò nhà nước
trong việc quản lý xã hội. Theo Arixtốt, trong thời kỳ Hy Lạp cổ đại, quyền

Arixtốt cho rằng, xét từ góc độ nào đó, mỗi thể chế tốt đẹp đều có một hình
thức thối nát tương ứng với nó.
Từ những lập luận của mình, Arixtốt cho rằng, để có một nhà nước lý
tưởng, phải có đa số dân thuộc tầng lớp trung lưu tham gia. Tầng lớp nghèo


11
khổ chiếm đa số trong bộ máy nhà nước sẽ là một gánh nặng đối với nền an
ninh quốc gia. Đồng thời, sự vượt trội về số lượng người giàu thuộc tầng lớp
thượng lưu cùng tạo ra tình trạng mất cân đối về mặt phân phối phúc lợi và
quyền lực trong đất nước. Giới trung lưu chiếm đa số và quyền điều hành
thuộc về giới trung lưu là điều kiện “lành mạnh nhất” đối với sự phát triển của
một quốc gia. “Mọi hình thức thái quá đều phải được loại trừ”. Arixtốt cũng
cho rằng việc dành quá nhiều nhân lực cho một chức nghiệp nào đó hay tập
trung quá nhiều cho một lĩnh vực nào đó sẽ phá vỡ sự cân bằng và ổn định
của một đất nước.
Như vậy, có thể thấy Arixtốt đã nhìn thấy khá toàn diện những nguyên
nhân gây ra sự bất ổn của xã hội và ông cũng thấy nhà nước có vai trò to lớn
trong việc duy trì hay tạo nên những sự xáo trộn trong đời sống cộng đồng.
Tư tưởng về nhà nước của ông đã đề cập đến vai trò của các lực lượng xã hội,
các giai tầng khi họ nắm giữ chính quyền. Điều đó liên quan trực tiếp tới các
phương thức duy trì trật tự xã hội của một nhà nước.
Thời kỳ phục hưng và cận đại ở Tây Âu
Thời kỳ phục hưng và cận đại ở Tây Âu là thời kỳ xã hội phong kiến
suy tàn và phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa ra đời và bắt đầu phát triển
ở một số quốc gia như: Anh, Hà Lan, Pháp, Đức… và các giai cấp mới đã
xuất hiện điển hình là giai cấp tư sản. Điều đó đã tạo cơ sở kinh tế - xã hội
cho một cuộc cách mạng nhằm thay đổi thể chế chính trị, xóa bỏ chế độ
phong kiến đã lỗi thời, hình thành nhà nước mới phù hợp với yêu cầu phát
triển của lực lượng sản xuất. Tuy nhiên, từ thực tế đó vẫn nảy sinh hai xu

hiện tốt hơn vai trò này.
Người thứ hai cần nói tới là S.L.Môngtetxkiơ sinh năm 1689 và mất năm
1775. Ông là một nhà tư tưởng chính trị xuất sắc người Pháp với các tác phẩm
chính là “Tinh thần pháp luật” và “Những bức thư thành Ba Tư”. Trong tác


13
phẩm“Tinh thần pháp luật”, ông đã thể hiện rõ sự cảm tình của mình đối với
nền cộng hòa và sự phản đối đối với chế độ chuyên chế. Ông cho rằng sự
cường thịnh của La Mã là do nền cộng hòa, còn sự sụp đổ của La Mã là do đạo
đức bị suy đồi, tự do bị tiêu hủy và xã hội bị phân thành bạo chúa và nô lệ. Từ
đó, Môngtetxkiơ đã đề cập đến những tư tưởng quan trọng về sự phân chia
quyền lực và vai trò của pháp luật trong đời sống xã hội. Những tư tưởng của
Môngtetxkiơ có nhiều ý nghĩa trong việc nâng cao vai trò của nhà nước trong
việc quản lý, điều hành xã hội và đặc biệt giữ gìn tật tự an ninh xã hội.
Đại biểu thứ ba cần đề cập đến là J. J. Rútxô (1712 - 1778). Ông là một
nhà triết học thuộc trào lưu khai sáng của nước Pháp. Tác phẩm tiêu biểu của
Rútxô là “Khế ước xã hội hay những nguyên tắc của quyền chính trị”.
Nguyên tắc cơ bản trong lý luận của Rútxô là chủ quyền của nhân dân. Điểm
cốt yếu nhất trong hệ thống tư tưởng này là sự bất bình đẳng và con đường để
khắc phục sự bất bình đẳng. Rútxô cho rằng, trong trạng thái tự nhiên, mọi người
đều bình đẳng. Đó là thời kỳ hoàng kim, chưa có tư hữu và những sự bất công
trong xã hội. Đặc điểm của trạng thái tự nhiên là tự do và bình đẳng. Trong trạng
thái đó chỉ có một dạng bất công về thể chất do sức khỏe và tuổi tác tạo nên. Từ
đó, Rútxô đã phát hiện chính chế độ tư hữu đã làm nảy sinh kẻ giầu và người
nghèo cũng như cuộc đấu tranh giữa họ. Rútxô cũng cho rằng nhà nước được
hình thành là do con người đã bị những kẻ giàu có lừa dối mà từ bỏ các quyền tự
nhiên của mình thông qua “khế ước xã hội” để có được tự do công dân và để
được bảo vệ. Tuy nhiên, do chính quyền trở thành chuyên chế và lập nên chế độ
lộng quyền cực đoan đã đưa đến tình trạng mọi người đều trở thành vô quyền

ra nguồn gốc của XĐXH. Họ nhấn mạnh, sự phân tầng xã hội và sự hình
thành lợi ích nhóm khác nhau (lợi ích của các giai cấp, tầng lớp, cộng đồng xã
hội) là nguồn gốc sâu xa của xung đột xã hội và xung đột xã hội lại trở thành
một tác nhân gây nên các biến đổi về chính trị, kinh tế, xã hội…
Lý luận xung đột ngoài mác xít trong thế kỷ XX chủ yếu phát triển
dưới hình thức xã hội học và chính trị học. Có thể nói đây là thời kỳ các lý


15
thuyết về xung đột xã hội phát triển nhanh nhất và phong phú nhất. Trong các
lý luận này, các khái niệm cơ bản được tập trung nghiên cứu và các loại hình
xung đột xã hội đã được phân tích một cách cụ thể trên nhiều phương diện.
Các tác giả tiêu biểu có thể kể đến là M.Weber, W.Pareto, Dahrendorf,
Collins, Vilfredo Pareto, Gaetano Mosca, C.Wright Mills…
Cuối thế kỷ XX đến nay, ở phương Tây có một số công trình nghiên
cứu sâu về xung đột xã hội, cụ thể: 1). Nhóm tác giả Burton, John, and Dukes,
Frank với Conflict: Resolution and provention (1990), các tác giả đã làm rõ
xung đột xã hội và đưa ra giải pháp dung hòa, phòng ngừa xung đột xã hội nói
chung; 2). Mitchell, ChristopherR. And Banks, Michael với Handbook of
Conflict Resolution: the Analytical Problem Solving Approach, (1998) đã đưa
ra nhiều giải pháp quan trọng giải quyết các xung đột xã hội; 3). Manes Pierre
với What are some of the causes of conflict between whites and blacks in the
US, (2005); 4). Endruweit G và TrommSdorvffG với Từ điển xã hội học, Nxb
Thế giới, Hà Nội, 2002; 5). Endruweit G với Các lý thuyết xã hội học hiện
đại, Nxb Thế giới, Hà Nội, 1999; 6). Rutkevich M.N với Xung đột xã hội Chiếu cạnh triết học, Viện Thông tin Khoa học xã hội, Hà Nội, 1994; 7).
Chang Hee Lee, Quan hệ lao động và giải quyết tranh chấp lao động tại Việt
Nam, Tổ chức Lao động quốc tế tại Việt Nam, năm 2006; 8). Babette
Wehrmann, Eschborn, Xung đột đất đai - Hướng dẫn thực tế để giải quyết các
xung đột đất đai, Babette Wehrmann, Eschborn, năm 2008; 9). Luixa Kozer,
Chức năng thiết thực của xung đột; 10). Bàn về khế ước xã hội, Rouseau, J.J,

Những lý luận trên cũng là những tiền đề lý luận quan trọng cho sự ra
đời của triết học Mác - Lênin.
1.4. Lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin về xung đột xã hội và vai trò
nhà nước trong việc giải quyết xung đột xã hội
Quan điểm về xung đột xã hội
Thời đại Mác, Ăngghen, Lênin là thời đại lịch sử mà nhân loại bước
vào một giai đoạn phát triển mới. Sự ra đời và phát triển của chủ nghĩa tư bản
với nền đại công nghiệp cơ khí và nền kinh tế thị trường rộng lớn đã tạo ra


17
bước đột phá trong sự phát triển của lực lượng sản xuất. Của cải xã hội đã
tăng lên một cách nhanh chóng nhưng xã hội lại rơi vào những bế tắc mới.
Phong trào đấu tranh của công nhân liên tiếp nổ ra ở các nước có nền công
nghiệp phát triển nhất như Anh, Pháp, Đức... Trong tình hình ấy, các tư tưởng
Mác, Ăngghen và sau đó là Lênin đã ra đời. Có thể nói Mác, Ăngghen và
Lênin không có một tác phẩm nào bàn riêng về xung đột xã hội như các tác
giả phương Tây sau này, các ông cũng không đưa ra một định nghĩa nào về
xung đột xã hội nhưng các lý thuyết khoa học về giai cấp và đấu tranh giai
cấp của các ông thì không chỉ những người mác xít mà ngày nay nhiều nhà
nghiên cứu phương Tây vẫn xem đó là một mẫu mực về lý thuyết XĐXH. Lý
luận này được thể hiện trong hàng loạt tác phẩm kinh điển của chủ nghĩa Mác
- Lênin suốt từ những năm 40 của tế kỷ XIX cho đến tận hai thập kỷ đầu của
thế kỷ XX. Một số tác phẩm tiêu biểu nhât có thể kể đến là: “Góp phần phê
phán triết học pháp quyền của Hêghen - Lời nói đầu ”, “Luận cương về
Phoiơbắc” (C.Mác), “Gia đình thần thánh”, “Hệ tư tưởng Đức”, “Tuyên
ngôn của Đảng cộng sản” (C.Mác và Ph. Ăng ghen), “Đấu tranh giai cấp ở
Pháp” (C.Mác), “Nguồn gốc của gia đình, của chế độ tư hữu và của nhà
nước” (Ph. Ăng ghen), “Nhà nước và cách mạng”, “Những nhiệm vụ trước
mắt của chính quyền xô viết”, “Sáng kiến vĩ đại”, “Chính sách kinh tế mới”

đó, Mác và Ăngghen đã phân tích một cách biện chứng nền sản xuất tư bản
chủ nghĩa, chỉ rõ những mâu thuẫn nội tại của nền kinh tế đó và tính tất yếu
diệt vong của nó. Những XĐXH trong chủ nghĩa tư bản đã tác động tiêu cực
đến sự tồn tại và phát triển của xã hội loài người. Chúng kìm hãm và thậm chí
phá hoại cả nền sản xuất ở những thập kỷ giữa thế kỷ XIX. Giai cấp tư sản đã
tỏ ra bất lực trong một thời kỳ dài và giai cấp công nhân đã xuất hiện trên vũ
đài chính trị với tư cách là giai cấp cách mạng. Sự xung đột giữa giai cấp tư
sản và giai cấp vô sản nổi lên như một xung đột đặc trưng của xã hội tư bản
chủ nghĩa. Đó cũng là mâu thuẫn điển hình giữa lực lượng sản xuất và quan
hệ sản xuất. Sự xung đột giữa tư sản và vô sản có quy mô lớn, có tính quốc tế



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status