MỤC LỤC
1
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Theo học thuyết hình thái kinh tế - xã hội của Mác, lịch sử xã hội loài
người đã, đang và sẽ trải qua các hình thái kinh tế - xã hội từ Cộng sản
nguyên thủy đến Chủ nghĩa cộng sản mà giai đoạn đầu là Chủ nghĩa xã hội. Ở
Việt Nam, chế độ phong kiến không những là giai đoạn phát triển tất yếu mà
còn là giai đoạn lịch sử dài nhất trong quá trình phát triển của chế độ xã hội
có giai cấp. Từ lúc hình thành vào đầu thế kỉ II trước công nguyên đến khi
thực dân Pháp xâm lược vào giữa thế kỉ XIX, chế độ phong kiến Việt Nam đã
tồn tại trên hai nghìn năm. Cho đến nay, tư tưởng phong kiến còn ảnh hưởng
sâu sắc đến xã hội hiện đại ở nhiều lĩnh vực, bao gồm cả mặt tích cực lẫn hạn
chế. Ngày nay, “trong quá trình đẩy mạnh công nghiệp hóa – hiện đại hóa đất
nước, chúng ta đã, đang và sẽ phải giải quyết hiệu quả mối quan hệ giữa
truyền thống và hiện đại. Tiếp thu, phát triển sáng tạo tinh hoa các giá trị
truyền thống, trong đó có các di sản tư tưởng của các danh nhân lịch sử nhằm
phục vụ thiết thực công cuộc đổi mới đất nước là trách nhiệm của toàn Đảng,
toàn dân, trước hết là các nhà khoa học - xã hội, nhân văn…” [51, tr8].
Trong lịch sử các triều đại phong kiến nước ta, triều Lê là một giai đoạn
sáng lạng và huy hoàng. Song song với những chiến công oanh liệt quét sạch
quân Minh dựng lại nền độc lập và dẹp tan giặc Chiêm Thành để an định bờ
cõi. Các vua nhà Lê, nhất là trong thế kỷ XV, còn hướng mọi sự cố gắng vào
việc trị nước an dân, ban hành một nền pháp chế có một tinh thần đặc sắc Việt
Nam, vừa phù hợp với nhu cầu của quốc gia, vừa thỏa mãn các nguyện vọng
chân chính của nhân dân.
Ảnh hưởng của nền pháp chế tân kỳ ấy đã in sâu vào các tầng lớp xã
đức con người Việt Nam hiện nay.
Xuất phát từ những lí do như trên, tác giả chọn đề tài: “Tư tưởng đạo
đức của Lê Thánh Tông và ý nghĩa của nó đối với việc xây dựng đạo đức xã
hội ở Việt Nam hiện nay” làm đề tài nghiên cứu trong luận văn thạc sĩ của
mình.
3
2. Lịch sử nghiên cứu
Là một vị vua anh minh trong lịch sử, từ trước đến nay Lê Thánh Tông
đã được nhiều nhà khoa học, nhà nghiên cứu tìm hiểu, phân tích dưới những
góc độ, khía cạnh khác nhau. Có thể kể ra một số công trình nghiên cứu sau:
Trần Trọng Kim với cuốn Việt Nam sử lược (Nxb Văn hóa thông tin,
Hà Nội, 2001). Trong tác phẩm này, Trần Trọng Kim viết về Lê Thánh Tông
khá toàn diện bao gồm việc cai trị, việc thuế lệ, việc canh nông, nhà tế sinh,
việc sửa phong tục…
Năm 1959, tác giả Phan Huy Lê viết sách chuyên khảo: Chính sách
ruộng đất và kinh tế nông nghiệp thời Lê sơ ( thế kỉ XV). Tác phẩm cho ta tư
liệu về tình hình kinh tế thời Lê sơ nói chung và dưới triều Lê Thánh Tông
nói riêng.
Năm 1963, Lê Kim Ngân xuất bản tác phẩm Tổ chức chính quyền thời
Lê Thánh Tông (Bộ Quốc gia giáo dục, Sài Gòn, 1963). Tác phẩm cung cấp
cho chúng ta tư liệu về tình hình chính trị dưới thời Lê Thánh Tông.
Bên cạnh đó các bộ giáo trình thông sử như Lịch sử Việt Nam từ 1427
đến 1858 của Trương Hữu Quýnh, Nguyễn Phan Quang, Nguyễn Cảnh Minh
(NXB Giáo dục Hà Nội, 1967), Lịch sử Việt Nam tập 1 của Ủy ban khoa học
xã hội Việt Nam cũng viết khá nhiều về thời Lê sơ
Cuốn Lịch sử tư tưởng Việt Nam, tập 1 (PGS Nguyễn Tài Thư chủ
. Thân thế
. Xây dựng vương triều
.Phát triển kinh tế - xã hội
.Củng cố quốc phòng
. Mở mang văn hóa
Trong đó đáng chú ý là các bài viết:
Về đường lối trị nước của Lê Thánh Tông (PGS.TS Nguyễn Thừa Hỷ)
Tư tưởng Lê Thánh Tông và triều đại thịnh trị của ông (PGS.TS Nguyễn
Tài Thư)
Một số vấn đề về sự điều chỉnh pháp luật của nhà Lê trong Quốc triều
hình luật (PTS Hoàng Thị Kim Quế): trong đó có nội dung “mối quan hệ giữa
pháp luật và đạo đức.”
5
Cuốn sách Lê Thánh Tông về tác gia và tác phẩm (NXB Giáo dục)
dành nhiều trang viết về cuộc đời vua Lê Thánh Tông và sự nghiệp văn thơ
của ông.
Năm 1997, Nhà xuất bản Đà Nẵng xuất bản cuốn sách Nhân vật họ Lê
trong lịch sử Việt Nam, đây là công trình khá đồ sộ của tác giả Phạm Ngô
Minh và Lê Duy Anh. Cuốn sách dành gần 100 trang để viết khá bao quát và
toàn diện về thân thế và sự nghiệp vua Lê Thánh Tông. Các thành tựu tiêu
biểu trong sự nghiệp của Lê Thánh Tông được tác giả đề cập bao gồm: Sự
chăm lo đời sống và thương yêu nhân dân; minh oan cho Nguyễn Trãi; vua Lê
Thánh Tông với việc xây dựng pháp luật, Lê Thánh Tông với sự cải cách
hành chính; cải cách về chế độ tuyển chọn và sử dụng quan chức; chính sách
ruộng đất; chiến công bình Chiêm mở nước; chính sách bênh vực người phụ
nữ… Đánh giá về công lao của vua Lê Thánh Tông, tác giả viết: “Lịch sử
nước ta trong thời phong kiến, chưa có thời nào, triều đại nào, khởi sắc như
Đại học KHXHNV.
- Bài phê bình văn học: “Tư tưởng thân dân trong thơ nôm của Lê
Thánh Tông” của Trần Lan Anh…
Như vậy, những nghiên cứu về cuộc đời, sự nghiệp, đường lối trị nước
của Lê Thánh Tông thì có nhiều, song những nghiên cứu về tư tưởng đạo đức
của ông và rút ra giá trị hiện thời của nó thì dường như chưa có công trình
nào. Kết quả nghiên cứu của các nhà khoa học đi trước sẽ là tài liệu hết sức
bổ ích để tác giả kế thừa, tham khảo đi vào nghiên cứu tư tưởng đạo đức của
Lê Thánh Tông.
3. Mục đích, đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Mục đích nghiên cứu:
Trên cơ sở nghiên cứu, làm rõ tư tưởng đạo đức của Lê Thánh Tông và
ý nghĩa của nó đối với việc xây dựng đạo đức xã hội ở Việt Nam hiện nay.
- Đối tượng nghiên cứu:
Tư tưởng đạo đức của Lê Thánh Tông.
- Phạm vi nghiên cứu:
Luận văn tập trung làm sáng tỏ những nội dung cơ bản trong tư tưởng
đạo đức của Lê Thánh Tông và rút ra ý nghĩa của những tư tưởng đó với việc
xây dựng đạo đức xã hội ở Việt Nam hiện nay.
4. Những luận điểm cơ bản và đóng góp mới của luận văn
- Những luận điểm cơ bản:
7
Để đạt được mục đích nghiên cứu như trên luận văn tập trung làm rõ
những luận điểm sau:
Thứ nhất, Lê Thánh Tông là vị vua anh minh trong lịch sử của dân tộc
Việt Nam. Nét nổi bật nhất, bao trùm lên toàn bộ cuộc đời và sự nghiệp của
ông là tinh thần xả thân xây dựng một xã hội “thái binh – thịnh trị ”, một quốc
ĐẠO ĐỨC CỦA LÊ THÁNH TÔNG
2.1.
Cơ sở hình thành tư tưởng đạo đức của Lê Thánh Tông
2.1.1. Con người và sự nghiệp chính trị của Lê Thánh
Lê Thánh Tông (1460-1497)tên thật là Lê Tư Thành con vua Lê Thái
Tông, mẹ ông là bà Ngô Thị Ngọc Dao vì quá được vua Thái Tông yêu quý
nên có nhiều chuyện ghen tuông rắc rối xảy ra, có khi nguy đến tính mạng.
Nguyễn Trãi lúc đó là bạn thân với ông Ngô Từ, bố bà Ngọc Dao, nên đã bàn
với vợ là Nguyễn Thị Lộ (lúc này đang được vua Lê Thái Tông yêu quý) tìm
cách cứu Ngọc Dao. Nhờ thế Ngọc Dao được lánh ra khỏi chốn Hoàng cung,
vào chùa Huy Vǎn (khu Vǎn Chương Hà nội bây giờ). Lúc đó bà đang mang
thai Lê Tư Thành. Sau này được vua Lê Nhân Tông đưa về Thǎng Long
phong cho làm Bình Nguyên Vương.
Việc lên ngôi của Lê Thánh Tông, đã được sử sách ghi chép một cách
rõ ràng. Khi ông vua cướp ngôi - Lê Nghi Dân bị lật đổ, các vị đại thần đứng
đầu là Nguyễn Xí, đều nhận định rằng Lê Tư Thành, thiên tư sáng suốt, hùng
tài đại lược thật xứng đáng làm vua. Họ đã đem xe kiệu đến đón vua ở cung
riêng (gọi là cung Gia Để). Lê Tư Thành rõ ràng đã có đủ một số điều kiện.
Chàng thanh niên này có tiếng là ham học hỏi, tính tình tốt, lâu nay không có
điều tiếng gì. Không ai thấy ông ham chơi rượu chè, cờ bạc, đi sǎn, hay tìm
thú vui phóng khoáng với các bạn trai cùng lứa. Ông có bà mẹ rất gương mẫu,
luôn luôn nhắc nhở con chǎm chỉ học hành, đối xử với người trong họ nội
ngoại, với bà con làng xóm rất phép tắc, và hợp lẽ. Nơi ở của ông, chỉ toàn là
9
thách này. Sau một vài giây suy nghĩ Lê Tư Thành điềm nhiên đáp lại: “Dầu
đề quan lớn ra khó quá. Nhưng Tôi cũng xin phép không dám để quan lớn đợi
chờ lâu hơn. Tôi xin đọc”:
“ Bác mẹ sinh ra vốn áo sồi
Chốn nghiêm thăm thẳm một mình ngồi
Tắc lưỡi dăm ba con kiến gió
Nghiến răng chuyển động bốn phương trời…”
Chỉ cần nghe những câu thơ đối đáp của Lê Tư Thành thì vị quan kia
đã tâm phục khẩu phục. Và tiếp đó như ta đã biết, các triều thần nhất trí rước
ông về điện Tường Quang, đưa ông lên ngôi hoàng đế và lấy niên hiệu là
Quang Thuận nǎm thứ nhất 1460). Mười nǎm sau đổi niên hiệu là Hồng Đức
(1470), trị vì 38 nǎm, đến 1497 ông mất.
Lê Thánh Tông là một trong những ông vua ở ngôi lâu trong lịch sử (38
nǎm), đã đưa đất nước lên một thời kỳ thịnh trị nhất trong cả ngàn nǎm lịch sử
Việt Nam. Ông cũng có một số khuyết điểm, nhưng không phải là cơ bản.
Nhìn toàn cục, cuộc đời Lê Thánh Tông là một quá trình hoạt động sôi nổi
trên nhiều lĩnh vực mà mặt nào cũng rất xuất sắc. Ông làm được rất nhiều
việc, xuất phát từ cái chất đa nǎng của tuổi trẻ. Trước nhất, ông luôn luôn tỏ
ra là người không quên gốc. Vừa lên làm vua, ông cảm ơn các vị lão thần, đặc
biệt là rất trân trọng Nguyễn Xí là người đã diệt Nghi Dân, đưa ông lên ngai
vàng. Tiếp đó ông thường xuyên về Thanh Hóa "bái yết sơn lǎng", để tổ chức
cúng lễ cho Lê Thái Tổ cùng các vị tổ tiên trong dòng họ.
11
Ông rất trân trọng lịch sử nước nhà, giao cho Ngô Sĩ Liên viết bộ "Đại
Việt sử ký toàn thư", giao cho Thân Nhân Trung (cùng nhiều người nữa) biên
soạn bộ sách "Thiên Nam dư hạ tập" có đến một trǎm quyển, là bộ sách bách
khoa ghi chép tất cả những kiến vǎn về đất nước Đại Việt trong giai đoạn bấy
dân. Lê Thánh Tông luôn luôn tâm niệm: "Thay việc trời, dám biếng đâu",
nghĩa là không dám lười biếng không dám chơi bời. Sức khỏe và ý chí đã
giúp ông thực hiện vai trò của mình một cách bền bỉ. Các nhà nho ngày xưa
thường thích làm thơ, làm vǎn nhưng phần lớn đó là những người đỗ đạt hoặc
có điều kiện theo dõi việc bút nghiên. Lê Thánh Tông vừa là một nhà chính trị
song ông còn là một nhà thơ. Lê Thánh Tông là tác giả của chín tập thơ chữ
Hán và hàng trǎm bài thơ Nôm khác. Không những thế ông còn có sáng kiến
thành lập một hội Tao Đàn, tương tự như một câu lạc bộ thơ ca của chúng ta
thời nay. Ông tự xưng là Tao Đàn nguyên súy, tập trung xung quanh mình 28
học giả vào câu lạc bộ này, gọi một cách vǎn vẻ là Tao Đàn nhị thập bát
tú. Nội dung thơ vǎn của Lê Thánh Tông là vô cùng phong phú. Một tình cảm
gắn bó thiết tha với sơn hà, xã tắc, một mối lo cho dân, lo cho nước khôn
nguôi, một tâm hồn dễ xúc động trước cảnh vật, trước con người.
Nhà vua ham thích vǎn chương, tất nhiên cũng phải để tâm đến việc đề
cao học vấn. Việc giáo dục thi cử dưới thời Lê Thánh Tông được coi là thịnh
đạt nhất trong lịch sử giáo dục và khoa cử thời phong kiến Việt Nam. Ông
cho lập nhà thái học, đặt các giáo thụ ở các châu, lộ, khuyến khích việc học,
đưa sách xuống dân. Ông cho hoàn thiện các chế độ chính sách, đưa ra các
luật thi cử, chính danh các học hàm. Ông giành những vinh quang đặc biệt
cho những người đạt thành tích trong khoa cử: cho tổ chức lễ xướng danh, lễ
vinh qui bái tổ, cho dựng bia tiến sĩ. Có lẽ chính sáng kiến này đã gây được
phong trào tranh đua học tập trong suốt một thời gian dài. Trong lịch sử nước
13
ta, rất hiếm những giai đoạn mà ở các làng, các tỉnh lại có những gia đình đạt
thành tích cao trong giáo dục như thời lê Thánh Tông.
Quan tâm đến Vǎn chương, song Lê Thánh Tông cũng không hề coi
nhẹ việc võ bị. Thời gian ở ngôi, là thời gian ông rất chú ý việc cho quân sĩ
Lê Thánh Tông lên ngôi vua không mấy thuận lợi trong một cuộc biến loạn
cung đình. Nhưng khi đã yên vị ông lại được thừa hưởng những lợi thế đặc
biệt của các tiên đế nhà Lê. Do được thừa hưởng những thành quả mà các vị
vua trước để lại nên thời Lê Thánh Tông có điều kiện phát triển nhanh hơn về
mọi mặt, không chỉ ổn định về chính trị, mở mang về văn hóa mà nền kinh tế
Đại Việt thời Lê Thánh Tông cũng rất phát triển.
Trong nông nghiệp, Lê Thánh Tông với tư tưởng “trọng nông” đã ban
hành nhiều chính sách ưu tiên phát triển nông nghiệp. Chẳng hạn như: năm
1475 cho đặt hai chức quan Hà đê và quan Khuyến nông trông coi việc đê
điều và đôn đốc nhân dân cày cấy; thường xuyên đốc thúc các quan địa
phương phải chú ý đến sản xuất nông nghiệp, chăm lo việc đê điều, sửa
đường sá, không được để nơi nào ngập lụt hay hạn hán. Đích thân ông đi cày
theo lễ Tịch điền để làm gương cho các quan, đồng thời, thể hiện sự quan tâm
của mình với sản xuất nông nghiệp của nhân dân. Không những vậy, để bảo
vệ quyền lợi của nhân dân cũng như quy định rõ trách nhiệm của quan lại,
trong bộ Quốc triều hình luật Lê Thánh Tông đã dành ra rất nhiều điều khoản
cụ thể, đã có tác dụng tích cực làm phục hồi và phát triển kinh tế nông nghiệp,
thúc đẩy sản xuất của xã hội, kích thích sự phát triển của thủ công nghiệp và
thương nghiệp.
Khác hẳn với triều Lý- Trần, nhà Lê thực hiện chính sách lộc điền, đem
ruộng đất thuộc quyền sở hữu của nhà nước ban cấp cho tầng lớp quan lại cao
cấp. Chế độ lộc điền được thi hành ngay từ những triều vua đầu tiên của nhà
Lê nhưng chưa trở thành quy chế. Đến thời vua Lê Thánh Tông, vào năm
15
1477, mới được quy định và ban hành trong cả nước. Theo đó, “người được
cấp là quan lại cao cấp từ thân vương đến tòng tứ phẩm và những người thân
thuộc gần gũi nhà vua, các chức quan thân cận trong triều. Quan lại từ tứ
phẩm trở lên thường nắm giữ các trọng trách quan trọng trong triều hay đứng
và phụ thuộc vào số ruộng đất công của mỗi xã. Người được cấp quân điền
phải nộp tô cho nhà nước với mức nhẹ hơn các loại ruộng đất khác.
Như vậy, để thực hiện quyền sở hữu tối cao về ruộng đất của nhà vua,
Lê Thánh Tông đã thông qua đơn vị làng, xã thay mặt nhà nước quản lý đất
đai, tiến hành thu tô thuế cho nhà nước, biến giai cấp nông dân thành tá điền
của mình. Đây là một quyền rất đặc trưng của các nhà nước Phương Đông, là
sở hữu kiểu Châu Á như C. Mác phân tích khi nghiên cứu về các kiểu nhà
nước của phương Đông. Chính sách quân điền của thời Lê sơ một mặt xuất
phát từ việc bảo vệ lợi ích của nhà nước, mặt khác phần nào đáp ứng được lợi
ích của đại bộ phận các tầng lớp nhân dân. Trong xã hội phong kiến, đất đai là
tư liệu sản xuất chủ yếu, bằng phép quân điền, nhà Lê đảm bảo số ruộng đất
tối thiểu cho người nông dân để cày cấy, đảm bảo cuộc sống cho họ. Phép
quân điền đã góp phần củng cố nền kinh tế tiểu nông, khôi phục và phát triển
sản xuất nông nghiệp. Đây là yếu tố tương đối tiến bộ của chính sách kinh tế
dưới thời Lê sơ, góp phần giải quyết các mâu thuẫn, lợi ích trong xã hội, đáp
ứng yêu cầu phát triển của đất nước.
Lúc này nhiệm vụ khôi phục và phát triển kinh tế trở thành nhiệm vụ lịch
sử cấp thiết của toàn bộ xã hội. Trong đó nhiệm vụ hàng đầu là khôi phục và
phát triển kinh tế nông nghiệp. Bên cạnh sự lao động cần cù của hàng triệu nông
dân lao động, nhà nước phong kiến đầu Lê sơ đã có nhiều đóng góp tích cực.
Trải qua thời kì suy vong cuối nhà Trần và hai mươi năm thống trị tàn
bạo của nhà Minh, nền kinh tế của nước nhà bị tàn phá, đình trệ và tiêu điều.
Đê điều hư hỏng, đồng ruộng bị bỏ hoang, trâu bò bị cướp bóc trở nên thiếu
thốn. Quang cảnh hoang tàn, đói khổ do chiến tranh và cướp bóc bao trùm
17
khắp đất nước. Để khôi phục nền kinh tế nông nghiệp, trước hết phải phục hồi
lại diện tích đất cày cấy, giải quyết tình trạng ruộng đất bị bỏ hoang.
trình thủy lợi lớn do nhà nước tổ chức, huy động sức dân. Nhưng bên cạnh
đó, những công trình tiểu thủy nông nhỏ của người nông dân cá thể chiếm vai
trò quan trọng trong nền kinh tế tiểu nông. Đó là những công việc hằng ngày
của người nông dân như đào mương tháo nước, đắp bờ giữ nước…Trong điều
kiện nền sản xuất cá thể trình độ thấp thì những công trình thủy lợi nhỏ bé ấy
đóng vai trò vô cùng quan trọng trong sản xuất nông nghiệp.
Chính sách trọng nông là chính sách truyền thống của nhà nước phong
kiến Việt Nam. Chính sách ấy bắt nguồn từ quyền lợi của giai cấp phong kiến
lấy việc bóc lột địa tô của nông dân làm cơ sở. Nhưng trong điều kiện triều
đại phong kiến còn đóng vai trò tiến bộ thì chính sách trọng nông có những
tác dụng tích cực nhất định đối với sự phát triển của nông nghiệp.
Hằng năm vào đầu mùa xuân nhà vua đích thân cày mấy đường mở đầu
mùa cày cấy của nhân dân. Không dừng lại ở những biện pháp mang tính tâm
linh, chính sách trọng nông của nhà nước Lê sơ còn được thể hiện ở rất nhiều
hoạt động tích cực khác. Vào những tháng mùa màng, nhà nước hoãn lại mọi
công dịch để tập trung sức lao động vào sản xuất nông nghiệp. Trong xã hội
phong kiến, tuyệt đại đa số nhân dân là nông dân, quân lính cũng như tất cả
những người phục dịch cho nhà nước phong kiến đều là nông dân. Trong điều
kiện ấy, nhà nước thực hiện chính sách “ngụ binh ư nông” mở rộng cho cả
công tượng, lính coi ngục và đầu bếp. Sau khi kháng chiến chống Minh thắng
lợi, Lê Lợi giảm số quân thường trực từ 35 vạn xuống 10 vạn, cho 25 vạn về
làm ruộng. Mười vạn quân ở lại được chia thành năm phiên, cứ lần lượt thay
nhau một phiên lưu ban và bốn phiên về làm ruộng. Năm 1466, công tượng ở
các cục bách tác, lính nuôi voi, trông ngựa cũng được chia làm hai ban, thay
nhau một nửa ở lại ứng dịch, một nửa về làm ruộng. Chính sách “ngụ binh ư
nông” được thực hiện triệt để có tác dụng tập trung sức lao động, hạn chế số
người thoát li sản xuất.
19
nông dân và những phường hội của thợ thủ công chuyên nghiệp. Nghề thủ
công của nông dân tuy không sản xuất thường xuyên nhưng cũng đóng vai trò
quan trọng trong nền kinh tế. Người nông dân ngoài sản xuất nông nghiệp
thường kết hợp với một vài nghề phụ như đan lát, dệt vải, làm nón… Phần
sản xuất này một phần giải quyết nhu cầu trong gia đình và một phần cung
cấp cho thị trường địa phương. Sự kết hợp giữa nông nghiệp và thủ công
nghiệp phản ánh tính chất tự nhiên, tự cung tự cấp của nền kinh tế thời Lê sơ.
Ngoài các nghề thủ công của nhân dân, nhà nước phong kiến còn có
những tổ chức sản xuất thủ công riêng gọi là cục bách tác. Cục bách tác
chuyên sản xuất những sản phẩm cung cấp cho nhu cầu của nhà nước như
tiền, vũ khí, các đồ nghi trượng, đồ dùng vua quan như áo, mũ, đồ trang
sức… Những ngươi thợ thủ công sản xuất trong cục bách tác gọi là công
tượng. Họ là những người thợ thủ công giỏi bị nhà nước trưng tập. Ngoài
công tượng, trong các xưởng thủ công của nhà nước còn có công nô (những
người bị tội đồ sung vào sản xuất). Mô hình cục bách công không có tác dụng
thúc đẩy kinh tế hàng hóa. Chế độ công tượng với tính chất cưỡng bách của
nó làm người thợ thủ công không phấn khởi sản xuất, không yên tâm phát
triển tài năng. Dù còn tồn tại nhiều mặt hạn chế nhưng tựu chung lại kinh tế
thủ công nghiệp thời Lê sơ đã tiến thêm một bước so với các triều đại trước.
Trên cơ sở kinh tế nông nghiệp và thủ công nghiệp phục hồi và phát
triển, kinh tế thương nghiệp (buôn bán) cũng phát triển thêm một bước.
Nhưng do chính sách của nhà nước phong kiến, nội thương có phát triển,
ngoại thương vẫn bế tắc. Thương nghiệp đầu thế kỉ XV căn bản chỉ là sự trao
đổi giữa các địa phương. Công cuộc thống nhất đất nước thắng lợi đã tạo điều
kiện thuận lợi cho việc lưu thông, vận chuyển giữa các vùng miền.
Lúc này, những trung tâm buôn bán lớn chưa nhiều, tồn tại chủ yếu là
các chợ địa phương. Trong mỗi địa phương, từng xã hoặc mấy xã lân cận
21
quốc đều bị nghiêm trị, phạt tiền rất nặng. Những chính sách như vậy làm
ngoại thương thời Lê không phát triển được.
Đó là tất cả những điều kiện thuận lợi và khó khăn về kinh tế, là tiền đề
để Lê Thánh Tông tiếp tục phát triển đất nước, đưa Đại Việt trở thành quốc
gia cường thịnh ở vùng Đông Nam Á.
2.1.2.2.
Điều kiện chính trị - xã hội thời vua Lê Thánh Tông
Điều kiện chính trị: Năm 1428, vị lãnh tụ tối cao của cuộc khởi nghĩa là
Lê Lợi lên ngôi hoàng đế, đặt lại tên nước là Đại Việt. Để khẳng định ý thức
độc lập, tự chủ của mình, Lê Lợi xây dựng bộ máy nhà nước theo mô hình cũ
của nhà Trần.
Trong một thời gian nhất định, tình hình chính trị tạm ổn. Nhưng dần
dần, do sản xuất nông nghiệp phục hồi và phát triển, kinh tế hàng hóa ngày
càng mở rộng và phát huy tác dụng, bộ máy nhà nước đã bộc lộ những hạn
chế cố hữu. Về chức vụ, tuy các Tướng quốc, Bình chương, Bộc xạ là trọng
thần song vai trò mờ nhạt. Vua thường dựa vào các công thần cùng họ như
Đại tư đồ Lê Sát, Đại tư mã Lê Ngân, Thiếu phó Lê Văn Linh… để giải quyết
công việc. Vả lại các vua kế vị Lê Thái Tổ còn nhỏ tuổi. Thái Tông lên ngôi
lúc mười tuổi, Nhân Tông lên ngôi lúc 2 tuổi. Quyền nhiếp chính thường
thuộc về các bà thái hậu với sự giúp đỡ của các đại thần thân tín. Nhờ tinh
thần đoàn kết xây dựng của những năm khởi nghĩa Lam Sơn, nhà Lê tạm thời
đứng vững trong những năm đầu. Nhưng sau đó, tình trạng mâu thuẫn, tranh
quyền trong nội bộ các công thần nảy sinh và phát triển dẫn đến việc vu
khống và sát hại lẫn nhau mà không một vị vua nào có đủ khả năng kiềm chế.
Lớp quí tộc công thần được phong từ sau kháng chiến chống Minh ngày càng
phân hóa. Số tích cực như Nguyễn Trãi, Lưu Nhân Chú, Trần Nguyên Hãn...
bị sát hại, số ít còn lại bị cô lập.
24
phải đi đày châu xa. Mặc dầu sau kháng chiến chống Minh, Lê Lợi, Nguyễn
Trãi đã ra lệnh khoan hồng với những người theo giặc.
Còn tệ hối lộ thì tràn lan: Lê Sát, Lê Ngân, Lê Văn Linh, Lê Thụ, Lê
Soạn đều là những trùm ăn hối lộ. Điển hình như vụ Lê Sát, con Lê Thụ được
cưới công chúa bị câm 10 tuổi, vậy mà “...Những kẻ cầu cạnh ngoi lên tranh
nhau cúng của cải để mưu phú quí, đến nỗi gấm thêu, lĩnh là, vóc lụa bán ở
ngoài phố vì vậy mà hết nhẵn cả. Lê Thụ lại bắt quan lại các trấn, lộ, huyện
phải sắm đủ trâu dê các thứ, rồi bọn quan lại các trấn, lộ, huyện... lại bắt quân
lính và dân chúng phải đóng góp để mong lấy lòng Lê Thụ...”[41, tr113].
Nạn tham quan, ô lại, hà hiếp dân, ăn hối lộ diễn ra tệ hại đến nỗi Lê
Thánh Tông phải ra lệnh chỉ: “Nay các khanh không kính giữ phép công, người
giữ tiền bạc, sổ sách cả nước thì chậm trễ hoặc gây khó dễ. Thuếđáng thu hay
đáng miễn thì không chịu phê tấu dứt khoát để làm khổ dân. Người coi quan thì
không thương dân đau khổ, mượn đồ của dân đến nỗi hỏng mất, đến khi có việc
lại đến hạch sách. Còn kẻ coi dân thì chỉ vụ lợi riêng, không lo nuôi dưỡng dân,
hoặc tha cho người giàu, bắt tội người nghèo...Lại như các quan nơi phiên trấn,
quan ải, khi có người lạ qua lại thì sơ hở để nó trốn thoát, không chịu chú ý xét
bắt, chỉ lo buôn bán để kiếm chác cho mình”. [41, tr114].
Chính sự rối ren như vậy nhưng nhà vua, đại diện cho chính quyền trung
ương, tuy nhận rõ tệ hại nhưng mọi cố gắng giải quyết đều chưa hiệu quả.
Đặc biệt là sự thống nhất giữa các dân tộc trong một quốc gia đang bị
đe dọa. Nội bộ đất nước rất phức tạp, trước năm 1446 hàng loạt các cuộc phản
quốc đã diễn ra: Năm 1441, thổ tù ở châu Thuận Mỗi (Sơn La) tên là Nghiễm
làm phản.Từ việc chống lại triều đình của tù trưởng châu Mường Lễ là Đèo
Cát Hãn cùng con là Đèo Mạnh Vương xảy ra thời Thuận Thiên (1432) khiến
25