ĐỀ 1: Chuyên Bắc Giang
Câu 1: (4.0 điểm)
Đọc đoạn trích sau và thực hiện các yêu cầu bên dưới:
Dọc khắp các vùng quê, đâu cũng có những ngôi đình, ngôi chùa để nhân dân cầu
bình an. Muốn bình yên cần học cách đối xử hiền hòa với thiên nhiên. Vào thời điểm
này, những con sông bậc nhất Bắc Kỳ, dòng sông của thi ca, dòng sông của tiếng hát
quan họ vẫn còn lóng lánh đón mặt trời vào mỗi sớm mai, còn đong đưa những thứ
ánh sáng huyền diệu của trăng lên, những canh hát hội, tiếng gõ mạn thuyền gọi cá
tôm vào lưới. Người Bắc Giang đang có những dòng sông đẹp như cô gái đang thời
xuân sắc. Giá trị trong lành của những dòng sông không nơi nào có được, cần phải
giữ gìn và nâng cao chất lượng của dòng nước. Thiên nhiên ban cho người Bắc
Giang những dòng sông, ngọn núi đẹp, là những báu vật để dành cho tương lai. Ở
những nước giàu có, nhờ những dòng sông đẹp, nhiều nơi đã phát triển được hệ
thống đường thủy trong giao thương và du lịch. Mọi dòng sông đều đổ hết về biển lớn.
Trên hành trình về biển, sông đi qua bao gian khó và thử thách […].
Có lẽ mơ ước của những dòng sông đổ về biển lớn mang theo mơ ước của người
Bắc Giang về sự hội nhập và phát triển kinh tế - văn hóa – xã hội cũng từ đây.
(Theo Nguyễn Thị Thu Hà, Những dòng nước huyền thoại,
Ngàn năm dưới bóng quê nhà, trang 81- 82, NXB Quân đội Nhân dân 2018)
1. Nhận biết
Theo đoạn trích trên:
a. Con người cần phải làm gì nếu muốn bình yên?
b. Thiên nhiên đã ban tặng cho người Bắc Giang những gì?
2. Thông hiểu
Hãy chỉ rõ và nêu tác dụng của biện pháp tu từ trong câu sau:
Người Bắc Giang đang có những dòng sông đẹp như cô gái đang thời xuân sắc.
3. Thông hiểu
Nhận xét ngắn gọn về tâm tư, tình cảm của tác giả với những dòng sông quê
hương.
Câu 2: (6.0 điểm) Vận dụng cao
Từ hình ảnh mọi dòng sông đều đổ về biển lớn với bao gian khó và thử thách
- Tác dụng: nhấn mạnh khẳng định vẻ đẹp tràn đầy sức sống của những dòng sông ở
Bắc Giang.
3. Phương pháp: phân tích, tổng hợp
Cách giải:
- Tình yêu dành cho những dòng sông quê.
- Niềm tự hào về những dòng sông gắn với văn hóa lâu đời của người dân: dòng sông
của thi ca, dòng sông của tiếng hát quan họ vẫn còn lóng lánh đón mặt trời vào mỗi
sớm mai
Câu 2:
Phương pháp: phân tích, tổng hợp.
Cách giải:
* Yêu cầu về hình thức
- Đoạn văn 400 - 500 chữ, sử dụng phép lập luận tổng – phân – hợp.
- Diễn đạt rõ ràng, không mắc lỗi diễn đạt, dùng từ, đặt câu.
* Yêu cầu về nội dung:
*Nêu vấn đề.
*Giải thích vấn đề:
- Hội nhập là tham gia vào một cộng đồng để cùng hoạt động và phát triển với cộng
đồng ấy (thường nói về quan hệ giữa các dân tộc, các quốc gia).
- Hình ảnh mọi dòng sông đều đổ về biển lớn với bao gian khó và thử thách gợi liên
tưởng về những khó khăn lớn lao mà thế hệ trẻ phải vượt qua để hội nhập với thế giới
bởi cũng như những dòng sông muốn đổ về biển lớn phải vượt qua bao nhiêu gềnh
thác.
*Phân tích, bàn luận vấn đề:
- Tại sao khi hội nhập, giới trẻ phải vượt qua nhiều thử thách?
+ Do sự cách biệt về văn hóa và ngôn ngữ.
+ Do điều kiện về kinh tế và xã hội giữa nước ta với các nước khác có sự chênh lệch
khá nhiều.
- Giới trẻ cần làm gì để xóa bỏ những khó khăn, thử thách trên:
+ Cần trau dồi cho mình tri thức và kinh nghiệm sống.
+ “im phăng phắc”: bao dung, độ lượng và nghiêm khắc -> cái im lặng chứa đựng lời
nhắc nhở, cảnh báo, thức tỉnh con người.
- Người “giật mình” -> thức tỉnh:
+ Nhận ra những cám dỗ vật chất khiến con người đánh mất đi những giá trị tinh thần
đẹp đẽ, khiến tâm hồn họ trống rỗng, nghèo nàn.
+ Nhận ra: không được lãng quên quá khứ, không được thờ ơ, bội bạc với nghĩa tình
sâu nặng, thiêng liêng.
+ Biết trở về nâng niu, trân trọng quá khứ; biết sống ân nghĩa, thủy chung.
->Với khoảnh khắc giật mình, nhà thơ đã gieo vào lòng người đọc niềm tin và sức
sống mãnh liệt của lương tri con người.
=> Nhận xét
- Nội dung:
+ Lời nhắn gửi con người không được lãng quên quá khứ gian khổ mà sâu đậm nghĩa
tình.
+ Lời nhắc nhở về nghĩa tình thiêng liêng của nhân dân, đạo lí uống nước nhớ nguồn.
- Nghệ thuật:
+ Thể thơ ngũ ngôn với nhiều sáng tạo độc đáo.
+ Sự kết hợp hài hòa giữa chất tự sự và trữ tình.
+ Ngôn ngữ, hình ảnh giản dị, gần gũi mà giàu sức gợi.
+ Giọng điệu tâm tình thấm thía, khi thì thiết tha cảm xúc, lúc lại trầm lắng, suy tư.
b. Đoạn trích Đồng chí
Sức mạnh và vẻ đẹp của tình đồng chí:
* Được xây dựng trên nền một hoàn cảnh khắc nghiệt:
- Thời gian, không gian: rừng đêm hoang vu, lạnh lẽo.
- Không khí căng thẳng trước một trận chiến đấu.
-> Tâm hồn họ vẫn bay lên với hình ảnh vầng trăng nơi đầu súng.
-> Họ vẫn xuất hiện trong tư thế điềm tĩnh, chủ động “chờ giặc tới”.
=> Nhờ tựa vào sức mạnh của tinh thần đồng đội. Họ “đứng cạnh bên nhau” và trở
3.Tổng kết
ĐỀ 2: Chuyên Bình Định (Năm học 2018 - 2019)
Câu 1: (2,0 điểm)
Đọc văn bản và thực hiện các yêu cầu sau:
“Buồn trông cửa bể chiều hôm,
Thuyền ai thấp thoáng cánh buồm xa xa?
Buồn trông ngọn nước mới sa,
Hoa trôi man mác biết là về đâu?
Buồn trông nội cỏ rầu rầu,
Chân mây mặt đất một màu xanh xanh,
Buồn trông gió cuốn mặt duềnh
Ầm ầm tiếng sóng kêu quanh ghế ngồi.”
(Trích Truyện Kiều – Nguyễn Du, Ngữ văn 9, Tập một, NXB Giáo Dục Việt Nam,
trang 94)
a) Nhận biết
Xác định phương thức biểu đạt chính của đoạn trích trên.
b) Nhận biết
Trong đoạn trích trên tác giả đã sử dụng những từ láy nào ?
c) Thông hiểu
Chỉ rõ và nêu tác dụng của phép điệp từ được sử dụng trong đoạn trích trên.
Câu 2: (3,0 điểm) Vận dụng cao
Trong tác phẩm Dế mèn phưu lưu kí (Tô Hoài), trước khi chết, nhân vật Dế Choắt đã
nói với Dế Mèn: “Ở đời mà có thói hung hăng bậy bạ, có óc mà không biết nghĩ, sớm
muộn rồi cũng mang vạ vào mình đấy”.
Lời trăn trối đó của Dế Choắt khiến em có những suy nghĩ gì về một thói xấu ở một
bộ phận không nhỏ người Việt Nam và đang là vấn đề nóng khiến xã hội quan tâm?
Câu 3: (5 điểm) Vận dụng cao
Trình bày cảm nhận của em về ý nghĩa thiêng liêng của chiếc lược bằng ngà trong tác
Cách giải:
Trong tác phẩm Dế Mèn phiêu lưu kí (Tô Hoài), trước khi chết, nhân vật Dế Choắt đã
nói với Dế Mèn: “Ở đời mà có thói hung hăng bậy bạ, có óc mà không biết nghĩ, sớm
muộn rồi cũng mang vạ vào mình đấy”.
Lời trăn trối đó của Dế Choắt khiến em có những suy nghĩ gì về một thói xấu ở một
bộ phận không nhỏ của người Việt Nam và đang là vấn đề nóng khiến xã hội quan
tâm?
*Nêu vấn đề
*Giải thích vấn đề
- Lời trăn trối của Dế Choắt khiến ta suy nghĩ đến một thói xấu của một bộ phận không
nhỏ của người Việt Nam đó là thói kiêu căng, tự mãn.
- Kiêu căng là tự cho mình hơn người và xem thường người khác một cách lộ liễu.
- Tự mãn là tự lấy làm thỏa mãn về những gì mình đạt được mà không cần cố gắng hơn
nữa.
=> Kiêu căng, tự mãn là một thói xấu, cần phải sửa đổi.
*Bàn luận vấn đề:
+ Do “ngủ quên trên chiến thắng”…
- Biện pháp khắc phục:
+ Mỗi người cần phải giảm bớt “cái tôi” của cá nhân mình, cần biết lắng nghe và chia
sẻ nhiều hơn để biết cuộc đời này là vô cùng, vô tận.
+ Mỗi người cần đọc sách, tìm hiểu, mở mang kiến thức để thấy rằng những gì mình
đã biết chỉ là điều vô cùng nhỏ bé trong cả đại dương bao la.
+ Cần rèn cho mình thói quen luôn suy nghĩ, luôn cân nhắc và xem xét về bản thân
cũng như các nhân tố xung quanh mình để biết mình như thế nào.
*Liên hệ bản thân: Em có phải người kiêu căng, tự mãn.
Câu 3:
Phương pháp: phân tích, tổng hợp.
Cách giải:
* Yêu cầu về kĩ năng:
- Viết đúng kiểu bài nghị luận văn học.
chiếc lược ngà để thực hiện mơ ước giản dị của con. Khi ở chiến khu ông vừa nhớ
thương con vừa ân hận, day dứt. Nhớ lời Thu ông dồn hết tâm trí làm chiếc lược ngà
tặng con.
Khi tìm được chiếc ngà, ông cố công, tỉ mẩm mài từng chiếc răng lược. Chính tình
yêu con đã biến ông từ một người chiến sĩ trở thành một người nghệ sĩ, người nghệ sĩ
với một tác phẩm duy nhất, tác phẩm dạt dào tình yêu thương. Nó không chỉ là chiếc
lược xinh xắn mà còn là kết tinh của tình cha con thắm thiết sâu nặng, biểu tượng của
tình phụ tử bất diệt. Mỗi khi ngắm chiếc lược lòng ông dịu bớt nỗi ân hận, nỗi nhớ con
và bừng lên khao khát trở về. Nhưng khao khát giản dị ấy mãi mãi không trở thành
hiện thực. Trước lúc từ giã cõi đời ông chỉ đau đáu tâm nguyện phải đưa chiếc lược
cho con. Không đủ sức nói điều gì, nhưng ánh mắt tha thiết cũng đủ để bác Ba hiểu
được tâm nguyện ấy của ông. Đó đâu chỉ là hành động trao gửi chiếc lược mà còn là
sự chuyển giao sự sống, ông Sáu mãi mãi ra đi nhưng tình yêu thương ông dành cho
bé Thu thì sống mãi cùng chiếc lược ngà.
+ Không chỉ vậy, chiếc lược còn làm ông vơi bớt đi phần nào nỗi ân hận vì đã lỡ đánh
con.
- Đối với bác Ba: chiếc lược ngà là biểu hiện của tình đồng chí đồng đội. Bác đã tận tay
trao lại kỉ vật của ông Sáu cho bé Thu.
=> Hình ảnh chiếc lược đã góp phần thể hiện chủ đề của tác phẩm: ca ngợi tình cảm
cha con sâu nặng trong hoàn cảnh éo le của chiến tranh
* Về nghệ thuật: chiếc lược ngà giúp mạch truyện phát triển và ghép nối hai phần
truyện với nhau.
3. Liên hệ tác phẩm Nói với con
Lựa chọn một trong các đoạn thơ của bài để phân tích.
- Giới thiệu tác giả, tác phẩm
- Tình yêu thương con được thể hiện trong đoạn trích.
=> Tình phụ tử là tình cảm thiêng liêng, đẹp đẽ và đáng trân trọng. Những ông bố
luôn dành những gì tốt đẹp nhất cho đứa con của minh.
4. Đánh giá chung
Chiếc lược ngà là biểu tượng nghệ thuật giàu giá trị, ý nghĩa, chứa đựng giá trị tư
đọc câu chuyện trên.
Câu 3: (5.0 điểm) Vận dụng cao
Từ quan niệm của Chế Lan Viên về chất muối trong mỗi vần thơ:
“Cái kết tinh của một vần thơ và muối bể
Muối lắng ở ô nề và thơ đọng ở bề sâu”
(Đối thoại mới – Chế Lan Viên)
Em hãy tìm thứ “muối thơ” qua một số bài thơ em biết.
HƯỚNG DẪN LÀM BÀI
Câu 1:
a. Phương pháp: căn cứ các biện pháp tu từ đã học
Cách giải:
- Liệt kê: + người mẹ, người vợ, người em;
Tác dụng: Nhấn mạnh đối tượng của sự hy sinh.
+Trường Sơn, Hồng Hà, Cửu Long.
Tác dụng: Khẳng định công lao to lớn và sự mất mát đau thương của những tiền nhân
cho Tổ quốc.
- So sánh: Trường Sơn ngút ngàn dễ gì đo được; Hồng Hà, Cửu Long đâu thể sánh cùng
=> Nhấn mạnh nỗi đau, sự mất mát không gì có thể sánh nổi đồng thời ca ngợi công
lao của tiền nhân đối với đất nước.
b. Phương pháp: căn cứ Lựa chọn trật tự từ trong câu
Cách giải:
- Bao người mẹ, người vợ, người em được đảo lên trước từ “nước mắt”: trật tự này biểu
hiện sự nhấn mạnh về đối tượng chịu nhiều đau thương, mất mát.
- Hồng Hà, Cửu Long: trật tự này biểu hiện thứ tự của sự vật – trình tự không gian từ
Bắc vào Nam
=> Tác dụng: Nhấn mạnh sự hy sinh lớn lao, cao cả của các bậc tiền nhân cho Tổ
quốc đồng thời ca ngợi công lao của họ và thể hiện niềm tự hào dân tộc, lòng yêu
nước thiết tha.
mỗi cá nhân. Khi nhận thức được điều đó, mỗi người sẽ tự biết mình cần làm gì để các
mối quan hệ trong gia đình trở nên tốt đẹp hơn.
*Liên hệ bản thân: Em đã làm gì để cải thiện mối quan hệ của mình với cha mẹ? Hãy
chia sẻ đôi điều với bạn bè của mình về quan hệ giữa mình và cha mẹ để giúp các thế
hệ cùng trang lứa với mình hiểu nhiều về gia đình mình hơn
Câu 3:
Phương pháp: phân tích, tổng hợp
Cách giải:
1. Giới thiệu chung
2. Giải thích nhận định
- Câu thơ của Chế Lan Viên để nói về hành trình sáng tạo nghệ thuật và giá trị của thơ
ca chân chính.
- Tác giả dùng hình ảnh muối kết tinh để nói về hành trình sáng tạo nghệ thuật. Để có
một hạt muối trăng trẻo, có giá trị phải trải qua biết bao công đoạn nhọc nhằn. Sáng
tạo nghệ thuật cũng tương tự như vậy, người nghệ sĩ phải lao động nghiêm tục, không
ngừng sáng tạo nên có được những bài thơ kết tinh về nội dung và nghệ thuật. Chất
thơ cũng chính là kết tinh tài năng, tư tưởng của người nghệ sĩ.
=> Nhận định đã khẳng định giá trị của một tác phẩm chân chính phải hội tụ đầy đủ ở
cả hai phương diện nội dung và nghệ thuật
3. Phân tích, chứng minh.
Học sinh có thể lựa chọn vài tác phẩm đã học trong chương trình lớp 9 để chứng minh
cho nhận định:
Làng, Sang thu,…
Với mỗi tác phẩm học sinh cần phát hiện những điểm mới mẻ trên cả hai phương diện
Nội dung và Nghệ thuật.
Ví dụ: Tác phẩm Làng – Kim Lân
- Nội dung
+ Niềm tự hào, nỗi nhớ về làng cũng mang nét mới: Xa làng đi tản cư, ông Hai nhớ
“Đêm nay rừng hoang sương muối
Đứng cạnh bên nhau chờ giặc tới
Đầu súng trăng treo”
(Trích bài thơ Đồng chí, Chính Hữu, SGK Ngữ văn 9, tập 1, NXB Giáo dục, 2017)
1. Nhận biết
Xác định phương thức biểu đạt chính
2. Nhận biết
Từ ngữ, hình ảnh nào trong đoạn thơ thể hiện hoàn cảnh chiến đấu của người lính?
3. Thông hiểu
Nêu ý nghĩa của hình ảnh “Đầu súng trăng treo”.
4. Vận dụng
Trình bày cảm nhận của em về hình ảnh người lính trong đoạn thơ trên (trả lời ngắn từ
5 – 7 dòng)
Phần II. Làm văn (7,0 điểm)
Câu 1: (2,0 điểm) Vận dụng cao
Hãy viết một đoạn văn nghị luận (khoảng 200 chữ) nêu suy nghĩ về vai trò của tình
bạn trong cuộc sống con người.
Câu 2: (5,0 điểm) Vận dụng cao
Cảm nhận của em về hình tượng nhân vật Vũ Nương trong Chuyện người con gái
Nam Xương của Nguyễn Dữ. Từ đó, hãy liên hệ với người phụ nữ Việt Nam trong xã
hội hiện nay.
HƯỚNG DẪN LÀM BÀI
Câu 1:
1. Phương pháp: căn cứ các phương thức biểu đạt đã học: tự sự, miêu tả, biểu cảm,…
Cách giải: Phương thức biểu đạt chính: Biểu cảm
2. Phương pháp: phân tích, tổng hợp
Cách giải:
- Hình ảnh: rừng hoang sương muối, đứng cạnh bên nhau chờ giặc tới, đầu súng.
hợp với chuẩn mực đạo đức và pháp luật.
*Yêu cầu về nội dung:
1. Giải thích vấn đề
3. Mở rộng vấn đề và liên hệ bản thân
- Dân gian có câu “Giàu vì bạn, sang vì vợ” nhưng cũng có câu “Tin bạn mất bò” bởi
lẽ có nhiều người tưởng như là bạn nhưng thật ra lại lợi dụng ta để mưu cầu lợi ích cá
nhân. Vì thế phải suy nghĩ cẩn thận để chọn người bạn tốt để tránh xa những kẻ trục
lợi, lừa thầy phản bạn.
- Liên hệ bản thân.
Câu 3: Phương pháp: phân tích, tổng hợp
Cách giải:
* Yêu cầu về kĩ năng:
- Viết đúng kiểu bài nghị luận văn học.
- Lý lẽ rõ ràng, dẫn chứng xác thực.
- Văn viết giàu cảm xúc, diễn đạt trôi chảy.
- Bố cục ba phần rõ ràng, cân đối.
- Trình bày sạch đẹp; ít sai lỗi câu, từ, chính tả.
* Yêu cầu về kiến thức: đảm bảo được các ý sau:
1. Giới thiệu chung
- Nguyễn Dữ (khoảng thế kỉ XVI) quê Thanh Miện, tỉnh Hải Dương.
- Thời đại: nhà Lê bắt đầu khủng hoảng, các tập đoàn phong kiến tranh giành quyền lực,
nội chiến liên miên, đời sống nhân dân vô cùng cực khổ.
- Con người:
+ Nổi tiếng học rộng, tài cao.
+ Chỉ làm quan một năm rồi lui về sống ẩn dật ở miền núi Thanh Hóa.
+ Sưu tầm truyện dân gian để sáng tác “Truyền kì Mạn Lục”.
- Tác phẩm:
+ Là truyện thứ 16 trong tổng số 20 truyện của “Truyền kì Mạn Lục”. Lấy nguồn gốc
từ một truyện cổ dân gian “Vợ chàng Trương”.
+ Nổi bật trong tác phẩm là nhân vật Vũ Nương có vẻ đẹp toàn diện nhưng số phận
=> Tấm lòng son sắt, thủy chung.
- Giàu lòng vị tha:
+ Khi bị chồng đổ oan, mắng nhiếc, đánh đuổi đi, Vũ Nương chỉ đau khổ, thanh minh
mà chẳng hề oán hận, căm ghét chồng.
+ Sống dưới thủy cung nàng vẫn một lòng nhớ thương gia đình, quê hương.
+ Gặp lại Trương Sinh, Vũ Nương không trách móc mà còn hết lời cảm tạ Trương
Sinh.
=> Vũ Nương trở thành hiện thân cho vẻ đẹp của người phụ nữ Việt Nam thảo hiền,
đức hạnh.
b. Số phận bất hạnh:
❖ Phải sống trong nỗi cô đơn, vất vả:
- Vất vả thể xác:
+ Gánh vác gia đình.
+ Nuôi dạy con thơ.
+ Chăm sóc mẹ già.
- Cô đơn tinh thần (phải vượt lên):
+ Cảnh sống lẻ loi.
+ Nỗi nhớ thương khắc khoải.
+ Nỗi lo lắng cho chồng đang chinh chiến nơi xa.
❖ Phải gánh chịu nỗi oan lạ lùng và phải tìm đến cái chết:
- Nguyên nhân (của nỗi oan):
+ Do lời nói ngây thơ của bé Đản.
+ Do Trương Sinh vốn đa nghi, hay ghen lại đang buồn vì mẹ mất.
+ Do chiến tranh gây ra 3 năm xa cách, niềm tin vào Vũ Nương bị thử thách, bị lung
lay.
+ Do cuộc hôn nhân bất bình đẳng giữa Vũ Nương và Trương Sinh, do xã hội phong
kiến trọng nam, khinh nữ cho phép Trương Sinh được đối xử rẻ rúng, tàn tệ với vợ
mình.
- Hậu quả (của nỗi oan):
HƯỚNG DẪN LÀM BÀI
Câu 1:
Phương pháp: phân tích, lí giải, tổng hợp
Cách giải:
*Nêu vấn đề.
*Giải thích vấn đề:
- Đừng sống theo điều anh ước muốn mà hãy sống theo điều anh có thể.
+ “Ước muốn”: thứ quá cao xa, không thực hiện được điều mơ ước sẽ dẫn đến bất
hạnh.
+ “Điều ta có thể” là sống theo những cái ta làm được, có thể tìm kiếm hạnh phúc từ
những cái mình đang có, hoặc sẽ có trong tầm tay.
Cả câu nói khuyên con người ta cần phải sống hiện thực, tìm kiếm hạnh phúc và
thành công từ những thứ nằm trong khả năng của mình, không nên viển vông, hão
huyền.
- Người chiến thắng là người biết ước mơ và không bao giờ bỏ cuộc.
+ “Người chiến thắng”: người gặt hái được những thành tựu nhất định.
+ “Ước mơ”: điều mong muốn tốt đẹp trong tương lai.
+ “Không bao giờ bỏ cuộc”: luôn luôn giữ vững niềm tin, hành động cho dù mình có
từng vấp ngã.
Câu nói khuyên con người ta phải biết sống có ước mơ và luôn cố gắng, nỗ lực
không ngừng.
➔ Hai câu nói trên bổ sung ý nghĩa cho nhau. Từ hai câu nói ta có thể rút ra bài
học: Trong cuộc sống, con người cần có ước mơ và phải cố gắng hết mình nhưng
cần phải thực tế và tìm kiếm thành công trong giới hạn năng lực của mình.
*Phân tích, bàn luận vấn đề:
-Tại sao còn người cần tìm kiếm thành công trong khả năng của mình?
+ Trong khả năng của mình, con người sẽ làm được một cách dễ dàng.
+ Nếu viển vông và thiếu thực tế, có thể cả đời bạn chỉ đi tìm những thứ xa vời, không
3. Chứng minh vấn đề
a. Đoạn trích Kiều ở lầu Ngưng Bích
- Giới thiệu nội dung đoạn trích
- Giá trị nội dung:
b. Bài thơ Ánh trăng
- Giới thiệu nội dung tác phẩm
- Giá trị nội dung:
+ Sự gắn bó của con người và vầng trăng trong quá khứ
+ Mối quan hệ giữa con người và vầng trăng trong hiện tại:
• Cuộc sống hòa bình làm con người quên đi người bạn khi xưa, vầng trăng chỉ như
“người dưng” qua đường.
• Biến cố dẫn đến sự thức tỉnh của con người.
+ Sự thức tỉnh của con người.
- Nghệ thuật:
+ Thể thơ ngũ ngôn với nhiều sáng tạo độc đáo.
+ Sự kết hợp hài hòa giữa chất tự sự và trữ tình.
+ Ngôn ngữ, hình ảnh giản dị, gần gũi mà giàu sức gợi.
+ Giọng điệu tâm tình thấm thía, khi thì thiết tha cảm xúc, lúc lại trầm lắng, suy tư.
=> Với khoảnh khắc giật mình, nhà thơ đã gieo vào lòng người đọc niềm tin và sức
sống mãnh liệt của lương tri con người. Đây cũng là lời nhắn gửi con người không
được lãng quên quá khứ gian khổ mà sâu đậm nghĩa tình. Lời nhắc nhở về nghĩa tình
thiêng liêng của nhân dân, đất nước và đạo lí uống nước nhớ nguồn.
4. Bình luận
- Để có thể tạo ra chất thơ cho thơ, người sáng tác cần lao động nghệ thuật nghiêm túc,
không ngừng sáng tạo.
- Viết bằng trái tim nhiệt huyết, đồng cảm.
Đề thi chính thức vào 10 môn Văn Chuyên Hoàng Văn Thụ Hòa Bình
Sáng. (Sách giáo khoa Ngữ văn 9, tập 1, NXB Giáo dục.
HƯỚNG DẪN LÀM BÀI
Câu 1:
a. Phương pháp: Căn cứ các phương thức biểu đạt đã học
Cách giải:
Phương thức biểu đạt chính của đoạn trích trên: nghị luận.
b. Phương pháp: Căn cứ bài Liên kết câu và liên kết đoạn văn
Cách giải:
01 phép liên kết về hình thức là phép lặp: Thời gian
c. Phương pháp: Phân tích, lí giải
Cách giải:
“Thời gian là một dòng chảy đều đặn, lạnh lùng, chẳng bao giờ chờ đợi sự chậm trễ”
Thời gian sẽ liên tục trôi qua mà không biện pháp nào có thể ngăn cản; nó không phụ
thuộc vào bất cứ điều gì. Dù bạn có nhanh hay chậm, thời gian vẫn sẽ cứ tuần hoàn
trôi đi.
d. Phương pháp: Phân tích, tổng hợp
Cách giải: Bài học có ý nghĩa nhất: Con người cần biết quý trọng thời gian, biết sử
dụng quỹ thời gian của mình cho hợp lí để không bỏ lỡ các cơ hội trong cuộc đời hay
hối tiếc vì những gì đã qua.
Câu 2:
Phương pháp: HS vận dụng các phương pháp giải thích, phân tích, chứng minh vào
để làm bài văn về nghị luận xã hội.
Cách giải:
*Yêu cầu về kĩ năng:
- Học sinh biết kết hợp kiến thức và kĩ năng để viết một bài văn nghị luận xã hội.
- Bài văn phải có bố cục, kết cấu rõ ràng; lập luận thuyết phục; diễn đạt mạch lạc;
không mắc lỗi chính tả, từ ngữ, ngữ pháp.
- Học sinh có thể làm bài theo nhiều cách khác nhau; có thể bày tỏ quan điểm, suy nghĩ
riêng nhưng phải có lí lẽ và căn cứ xác đáng; có thái độ chân thành, nghiêm túc, phù
hợp với chuẩn mực đạo đức và pháp luật.
- Văn viết giàu cảm xúc, diễn đạt trôi chảy.
- Bố cục ba phần rõ ràng, cân đối.
- Trình bày sạch đẹp; ít sai lỗi câu, từ, chính tả.
Yêu cầu về kiến thức: đảm bảo được các ý sau:
1. Giới thiệu chung
- Nguyễn Quang Sáng là nhà văn miền Nam, những tác phẩm của ông chủ yếu viết về
cuộc sống và con người Nam Bộ trong hai cuộc kháng chiến cũng như sau hòa bình.
- Chiếc lược ngà được sáng tác năm 1966 khi tác giả tham gia chiến đấu ở chiến trường
Nam Bộ.
– Tác phẩm:
+ Ca ngợi tình cha con thắm thiết, sâu nặng trong hoàn cảnh éo le của chiến tranh. Từ
đó khẳng định tình cảm cha con thiêng liêng như một giá trị nhân bản sâu sắc.
+ Gợi cho người đọc nghĩ tới và thấm thía những đau thương, mất mát và éo le mà
chiến tranh đã gây ra với con người.
2. Tình yêu thương cha sâu nặng của bé Thu.
a. Trước khi nhận ông Sáu là cha:
- Bé Thu gặp lại cha sau 8 năm xa cách, một người mà Thu mới chỉ nhìn thấy trong ảnh.
Nhưng ngay từ lần đầu gặp mặt, cô bé đã vô cùng hoảng sợ và phải gọi “Má!Má!”, nó
nhìn ông Sáu bằng đôi mắt xa lạ.
- Rồi những ngày sau đó Thu tỏ ra ngang ngạnh, bướng bỉnh, gan lì kiên quyết không
gọi ông Sáu là ba. Bị mẹ ép gọi ba vào ăn cơm nó chỉ nói trống không, khi bị đẩy tới
bước đường cùng chắt nước cơm nó cũng linh hoạt tự làm một mình.
- Nhất là khi ông Sáu gắp cho nó cái trứng cá, nó hất ra khỏi bát cơm, khiến cơm văng
tung tóe. Lúc bị đánh những tưởng nó sẽ khóc, nhìn bằng ánh mắt căm giận, nhưng nó
chỉ lặng lẽ gắp cái trứng cá ra rồi bỏ về nhà ngoại. Nó không chấp nhận bất cứ sự quan
tâm nào của ông Sáu với nó.
=> Đây là sự biểu hiện của một cái tính mạnh mẽ, đồng thời cũng rất phù hợp với tâm
lý thường thấy của con người. Bởi trong hoàn cảnh xa cách và trắc trở của chiến tranh,
Thu còn quá nhỏ để biết được những tình thế khắc nghiệt và éo le của cuộc sống.
=> Nhưng đằng sau tất cả sự từ chối đến cứng đầu đấy của bé Thu là tình yêu thương
đây có cùng thể thơ với bài thơ “Ông đồ”?
A. Nói với con
B. Sang thu
C. Viếng lăng Bác D. Đồng chí b/ Tác
phẩm nào sau đây không thuộc văn học trung đại?
A. Làng
B. Vũ trung tùy bút C. Lục Vân Tiên D. Truyện Kiều c/
Bài thơ “Đồng chí” của Chính Hữu được sáng tác năm nào?
A. 1947
B. 1948
C. 1949
D. 1950
d/ Câu “Nói ngọt lọt đến xương” thuộc kiểu loại nào sau đây?
A. Thành ngữ
B. Tục ngữ
C. Ca dao
D. Dân ca
2. Tiếng Việt (2 điểm)
a. (Nhận biết) Chỉ ra và gọi tên thành phần biệt lập trong các câu sau:
- Chao ôi, bắt gặp một con người như anh ta là một cơ hội hãn hữu cho sáng tác, nhưng
hoàn thành sáng tác còn là một chặng đường dài.
(Nguyễn Thành Long, Lặng lẽ Sa Pa)
- Lúc đi, đứa con gái đầu lòng của anh – và cũng là đứa con duy nhất của anh, chưa đầy
một tuổi.
(Nguyễn Quang Sáng, Chiếc lược ngà)
b. (Thông hiểu) Chỉ ra và phân tích hiệu quả nghệ thuật của các biện pháp tu từ trong
đoạn thơ sau:
Việt Nam, ôi Tổ quốc thương yêu! Trong khổ đau, Người đẹp hơn
nhiều Như bà mẹ sớm chiều gánh nặng Nhẫn nại nuôi con suốt
đời im lặng…
đủ cho ta giật mình.
(Nguyễn Duy, Ánh trăng, Ngữ văn 9, Tập một, NXB Giáo dục Việt Nam, 2016,
trang 156)
Câu IIIb: (5 điểm)
Phân tích hình tượng nhân vật Phương Định trong truyện ngắn Những ngôi sao xa xôi
của Lê Minh Khuê (phần trích SGK Ngữ văn 9, Tập hai) để làm nổi bật vẻ đẹp tâm
hồn, tư tưởng và những phẩm chất cao cả của con người Việt Nam trong cuộc kháng
chiến chống Mĩ cứu nước.
HƯỚNG DẪN LÀM BÀI
Phần A: Câu I:
1. Trắc nghiệm
a – B,
b – A,
c – B,
d–A
2. Tiếng Việt
a)
- Thành phần biệt lập: Chao ôi – thành phần biệt lập cảm thán.
- Thành phần biệt lập: và cũng là đứa con duy nhất của anh – thành phần biệt lập phụ
chú. b)
- Biện pháp tu từ được sử dụng trong đoạn thơ là so sánh (như bà mẹ) và nhân hóa .
- Tác dụng:
+ Giúp câu thơ trở nên sinh động giàu hình ảnh.
+ Hai biện pháp nghệ thuật khẳng định sự gắn bó giữa Tổ quốc và mỗi người dân như
tình mẫu tử thiêng liêng.
+ Đồng thời ngợi ca bà mẹ Tổ quốc, làm nổi bật sự nhẫn nại, lam lũ, hy sinh, bao bọc
cho các con mình, suốt đời vất vả mà vẫn bình thản
Câu II:
Phần B: Câu IIIa:
A. Giới thiệu chung:
- Giới thiệu nhà thơ Nguyễn Duy, nhà thơ quân đội, một gương mặt tiêu biểu cho lớp
nhà thơ trẻ thời chống Mĩ cứu nước.
- Tập thơ “Ánh trăng” của ông được tặng giải A của Hội Nhà Văn Việt Nam năm 1984.
Trong đó, có bài thơ mà tựa đề dùng làm nhan đề cho cả tập thơ : Ánh Trăng. Bài thơ
là một câu chuyện riêng nhưng có ý nghĩa triết lý như một lời tự nhắc nhở thấm thía
của nhà thơ về lối sống nghĩa tình, thủy chung với quá khứ gian lao, với thiên nhiên,
đất nước và đồng đội.
- Bài thơ Ánh trăng của Nguyễn Duy có gợi nhắc thấm thía về thái độ sống “Uống
nước nhớ nguồn”,
ân nghĩa thủy chung cùng quá khứ. Bốn khổ thơ cuối bài thơ đã thể hiện nội dung tư
tưởng đó.
B. Phân tích:
1. Vầng trăng trong hiện tại và tính huống bất ngờ ập đến
- Hoàn cảnh sống: “Từ hồi về thành phố”
+ Bản lề: khép lại một thời gian chiến tranh gian khó, mở ra những năm tháng hòa
bình.
+ Đánh dấu những đổi thay trong cuộc đời con người; họ đã đi qua chiến tranh để
bước vào một cuộc sống đầy đủ hơn về tiện nghi, vật chất.
+ Hoàn cảnh sống thay đổi: xa rời cuộc sống giản dị của quá khứ, con người được
sống sung túc trong “ánh điện cửa gương”
- cuộc sống đầy đủ, tiện nghi, khép kín trong những căn phòng hiện đại, xa rời thiên
nhiên.
- “Vầng trăng đi qua ngõ – như người dưng qua đường”:
+ Vầng trăng bây giờ đối với người lính năm xưa giờ chỉ là dĩ vãng, dĩ vãng nhạt nhòa
của quãng thời gian xa xôi nào đó.
+ Biện pháp nhân hóa, so sánh→ “Vầng trăng tình nghĩa” trở thành “người dưng qua
→ Chính thứ ánh sáng dung dị đôn hậu đó của trăng đã đánh thức bao tâm tình vốn
tưởng chừng ngủ quên trong góc tối tâm hồn người lính. Chất thơ mộc mạc chân thành
như vầng trăng hiền hòa, ngôn ngữ hàm súc, giàu tính biểu cảm như “có cái gì rưng
rưng”, đoạn thơ đã đánh động tình cảm nơi người đọc.
- Hình ảnh “trăng cứ tròn vành vạnh” là tượng trưng cho quá khứ nghĩa tình, thủy
chung, đầy đặn, bao dung, nhân hậu.
- Hình ảnh “ánh trăng im phăng phắc” mang ý nghĩa nghiêm khắc nhắc nhở, là sự
trách móc trong lặng im. Chính cái im phăng phắc của vầng trăng đã đánh thức con
người, làm xáo động tâm hồn người lính năm xưa. Con người “giật mình” trước ánh
trăng là sự bừng tỉnh của nhân cách, là sự trở về với lương tâm trong sạch, tốt đẹp. Đó
là lời ân hận, ăn năn day dứt, làm đẹp con người.
C. Kết luận:
- Nội dung: Đoạn thơ đã cho thấy và lí giải sự đổi thay của người lính trước và sau
chiến tranh; từ đó tạo tình huống thức tỉnh tâm hồn họ. Hai khổ cuối bài thơ cho ta
thấy sự thức tỉnh của con người.
+ Lời nhắn gửi con người không được lãng quên quá khứ gian khổ mà sâu đậm nghĩa
tình.
+ Lời nhắc nhở về nghĩa tình thiêng liêng của nhân dân, đất nước và đạo lí uống nước
nhớ nguồn.
- Nghệ thuật:
+ Thể thơ ngũ ngôn với nhiều sáng tạo độc đáo.
+ Sự kết hợp hài hòa giữa chất tự sự và trữ tình.
+ Ngôn ngữ, hình ảnh giản dị, gần gũi mà giàu sức gợi.
+ Giọng điệu tâm tình thấm thía, khi thì thiết tha cảm xúc, lúc lại trầm lắng, suy tư.
Câu IIIb:
Phân tích nhân vật Phương Định trong tác phẩm "Những ngôi sao xa xôi" của Lê
Minh Khuê (Ngữ văn 9, tập hai) để thấy được vẻ đẹp của thế hệ trẻ Việt Nam trong
cuôn cuộc bảo vệ Tổ quốc.
Yêu cầu về kĩ năng:
nguyện dâng hiến hết mình cho đất nước.
- Tinh thần dũng cảm:
+ Đối mặt với nguy hiểm, cô và những người đồng đội của mình thật sự là những anh
hùng. Phương Định nghĩ về hoàn cảnh sống nơi đây một cách giản dị và cho là có cái
thú riêng.
+ Đặc biệt, hi sinh mất mát của bản thân cũng được Phương Định coi hết sức nhẹ
nhàng: “Tôi bây giờ vẫn còn một vết thương chưa lành miệng ở đùi. Tất nhiên Tôi
không vào viện quân y”. Nếu không có cái nhìn lạc quan và một tinh thần dũng cảm
thì Phương Định không thể có cách nói bình thản như thế.
+ Cuộc sống nơi chiến trường luôn đối mặt với thử thách, nguy hiểm và cái chết đã tôi
luyện ở Phương Định lòng quả cảm, không sợ hi sinh. (Phương Định trong một lần
phá bom)
b. Tính hồn nhiên, mơ mộng, và tinh nghịch của Phương Định:
- Nét nổi bật và cũng là điểm hấp dẫn nhất ở Phương Định chính là vẻ đẹp của một tâm
hồn trong sáng, hồn nhiên và mơ mộng:
+ Phương Định mê hát và thích nhiều bài hát. Thích hát, Phương Định còn bịa ra lời
mà hát, ngồi dựa vào thành đá và khe khẽ hát.
+ Vẻ đẹp tâm hồn Phương Định ngời sáng nhất khi cơn mưa đá bất ngờ ập đến. Chỉ
một trận mưa đá vụt đi qua cũng đánh thức ở Phương Định rất nhiều kỉ niệm và nỗi
nhớ về thành phố, quê hương, về gia đình, về tuổi thơ thanh bình của mình.
c. Tình đồng chí, đồng đội nồng ấm:
- Ở Phương Định nét đẹp còn được ngời sáng trong tình đồng đội thắm thiết. Cô luôn
yêu thương trìu mến và quan tâm đến đồng đội. Cô lo lắng cho chị Thao và Nho lên
cao điểm chưa về đến nỗi “nói như gắt vào máy” khi đại đội trưởng hỏi tình hình.
- Chăm sóc chu đáo, cẩn thận cho Nho khi Nho bị thương
- Đặc biệt, cô dành tình yêu và niềm cảm phục cho tất cả những chiến sĩ mà cô gặp
ngày đêm trên con đường ra mặt trận. Với cô “những người đẹp nhất, thông minh,
cam đảm và cao thượng nhất là những người mặc quân phục có ngôi sao trên mũ”.
→ Tình đồng chí đồng đội của Phương Định thật thiêng liêng, cao cả và đáng quý!
Chính điều đó đã tiếp thêm sức mạnh cho cô để cô hoàn thành tốt nhiệm vụ của mình.
Mày cứ bơi ra, tao sao thể cầm lòng...
Bơi vào đi, Vàng ơi, có nghe không
Mày quyến luyến làm lòng tao chợn sóng
Đại dương mênh mông, thân thể mày bé bỏng
Cứ ngước về tàu, sao tao thể cách xa...
Bơi vào đi, Vàng ơi, quay lại nhà
Tao phải về thôi bởi đã xong nghĩa vụ
Và tao biết đêm qua mày mất ngủ
Cứ liếm tay tao, sợ trốn mày về.
Đừng vậy nữa mà, Vàng ơi, tao thương quá
Thương những đêm tao và mày đứng gác
Gió bão từng cơn mày vẫn không sai khác
Phủ phục canh me bọn cướp biển chực chờ.
Về đi mày, đừng bơi nữa, tao nhờ
Tao xin lỗi, bởi đã xong nghĩa vụ
Và tao biết chừng ấy vẫn chưa đủ
Nhưng phải vào bờ, anh em khác ra thay.
Về đi mày, đừng bơi nữa, mắt cay...
(Hoàng Hải Lý – Học viên Trường Sĩ quan không quân Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa –
Báo Tuổi trẻ, ngày 11/8/2016)
Câu 1: (1.0 điểm) Nhận biết
Xác định biện pháp tu từ được sử dụng trong khổ thơ sau:
Bơi vào đi, Vàng ơi, có nghe không
Mày quyến luyến làm lòng tao chợn sóng
Đại dương mênh mông, thân thể mày bé bỏng
Cứ ngước về tàu, sao tao thể cách xa...
Câu 2: (1.0 điểm) Nhận biết