Quyền Con Người Trong Tạm Giữ, Tạm Giam Từ Thực Tiễn Tỉnh Đắk Lắk - Pdf 60

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

TRẦN ĐÌNH PHƯƠNG

QUYỀN CON NGƯỜI TRONG TẠM GIỮ, TẠM GIAM
TỪ THỰC TIỄN TỈNH ĐẮK LẮK

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Chuyên ngành: Luật Hiến pháp và Luật Hành chính
Mã số: 8. 38. 01. 02

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
GS. TS. HOÀNG THẾ LIÊN

ĐẮK LẮK - NĂM 2019


LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan luận văn này là công trình nghiên cứu khoa học độc lập của
cá nhân tôi.
Nội dung cũng như các số liệu trình bày trong luận văn hoàn toàn trung thực.
Những kết luận khoa học của luận văn chưa từng được công bố trong bất kỳ các công
trình nghiên cứu khoa học nào khác.
Tác giả luận văn

Trần Đình Phương


LỜI CẢM ƠN

TẠM GIAM .......................................................................................................... 7
1.1. Khái niệm quyền con người trong tạm giữ, tạm giam ................................... 7
1.1.2. Khái niệm quyền con người ...................................................................... 14
1.1.2. Đặc điểm quyền con người ....................................................................... 16
1.2. Quyền con người trong tạm giữ, tạm giam ................................................. 17
1.2.1. Nội dung quyền con người trong tạm giữ, tạm giam ................................ 17
1.2.3. Sự cần thiết phải bảo đảm quyền con người trong tạm giữ, tạm giam ..... 27
1.3 Các yếu tố ảnh hưởng quyền con người trong tạm giữ, tạm giam................ 29
1.3.1. Thể chế pháp lý ......................................................................................... 29
1.3.2. Tổ chức bộ máy ......................................................................................... 33
1.3.3. Đội ngũ điều tra viên, kiểm sát viên, thẩm phán ...................................... 36


1.3.4. Cơ sở vật chất và nguồn lực kinh phí........................................................ 38
Tiểu kết Chương 1 ............................................................................................... 39
Chương 2: THỰC TRẠNG QUYỀN CON NGƯỜI TRONG TẠM GIỮ, TẠM
GIAM Ở TỈNH ĐẮK LẮK ................................................................................. 41
2.1. Khái quát về người bị tạm giữ, tạm giam ở tỉnh Đắk Lắk ........................... 41
2.1.1. Đặc điểm tự nhiên, cơ sở vật chất tại các cơ sở tạm giữ, tạm giam ở tỉnh
Đắk Lắk ............................................................................................................... 41
2.1.2. Tình hình người bị tạm giữ, tạm giam ở tỉnh Đắk Lắk ............................. 44
2.2. Thực trạng quyền con người trong tạm giữ, tạm giam ở tỉnh Đắk Lắk ....... 49
2.2.1. Quyền không bị bắt giam tùy tiện ............................................................. 49
2.2.2. Quyền không phân biệt đối xử và đối xử bình đẳng ................................. 50
2.2.3. Quyền không bị tra tấn, đối xử hoặc trừng phạt tàn bạo, vô nhân đạo hoặc
hạ nhục ................................................................................................................ 52
2.2.4. Quyền không bị coi là có tội khi chưa có bản án kết tội đã có hiệu lực
pháp luật của Tòa án............................................................................................ 53
2.2.5. Quyền được bào chữa................................................................................ 54
2.3. Đánh giá chung thực trạng quyền con người trong tạm giữ, tạm giam ở tình

1

NNPQ

Nhà nước pháp quyền

2

XHCN

Xã hội chủ nghĩa

3

TTHS

Tố tụng hình sự

4

BLTTHS

5

THTT

Tiến hành tố tụng

6


cách vô điều kiện.
Ở Việt Nam, bảo đảm quyền con người là vấn đề quan trọng, luôn được Đảng,
Nhà nước và nhân dân quan tâm, bảo vệ bằng nhiều văn bản pháp luật khác nhau như
Hiến pháp, Bộ Luật Hình sự, Bộ luật tố tụng hình sự, v.v... Nhà nước bảo đảm quyền
con người, quyền công dân bằng việ ghi nhận các quyền con người và quyền công dân
trong Bộ luật tố tụng hình sự của nước ta. Các quy định về bắt người, tạm giữ, tạm
giam là một trong các quy định nhằm bảo vệ quyền con người, quyền công dân của
nhân dân và của cả bị can, bị cáo, của người bị bắt. Những quy định của Hiến pháp,
Bộ Luật tố tụng hình sự, luật tạm giữ tạm giam về bắt, tạm giữ, tạm giam đều góp
phần phát huy tính dân chủ , tăng cường hơn nữa hiệu lực của Nhà nước trong việc bảo
đảm quyền con người, quyền công dân để xây dựng một xã hội công bằng, dân chủ,
văn minh và giàu mạnh. Khi bị bắt thì người bắt người, tạm giữ, tạm giam bị hạn chến
một số quyền công dân, quyền con người của người bị bắt. Để đảm bảo quyền con
người, quyền công dân trong hoạt động tố tụng cần nâng cao trình độ chuyên môn
nghiệp vụ cho điều tra viên, kiểm sát viên, thẩm phán, phải không ngừng bồi dưỡng
nâng cao ý thức pháp luật, ý thức chính trị và đạo đức công vụ cho những cán bộ này;
thực hiện tốt chế độ báo cáo đối với cơ quan có thẩm quyền; đảm bảo cơ chế kiểm tra,
giám sát của thẩm quyền và nhân dân.
Tuy nhiên, trước yêu cầu của sự nghiệp đổi mới đất nước, hội nhập kinh tế quốc
tế, nhất là yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền (NNPQ) xã hội chủ nghĩa (XHCN)

1


của dân, do dân, vì dân, bảo đảm quyền con người trong tạm giữ, tạm giam đã bộc lộ
những yếu kém, bất cập; việc nhận thức không đầy đủ về tính chất, vai trò và tầm quan
trọng của hoạt động bắt người, tạm giữ, tạm giam cũng như các quy định của pháp luật
về trình tự, thủ tục giải quyết vụ án làm cho quá trình vận dụng thiếu chính xác dễ dẫn
đế tùy tiện, trái pháp luật, xâm hại đến quyền con người, lợi ích hợp pháp của công
dân. Không ít trường hợp các cơ quan và người tiến hành tố tụng chưa nắm vững các

quốc gia, 2004; Đinh Văn Mậu, "Quyền lực Nhà nước và quyền con người", Nhà xuất
bản Tư pháp, 2003; Tường Duy Kiên, "Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt
Nam với việc bảo đảm quyền con người", Nhà xuất bản Nghề luật, 2004;…
Quyền con người là một quyền thiên liêng cao cả nên luật quôc tế cũng như Việt
Nam đều quy định một cánh rõ ràng và đầy đủ, cụ thể: "Bảo đảm quyền con người
trong hoạt động tư pháp ở Việt Nam hiện nay", của Nguyễn Huy Hoàng, Luận án tiến
sĩ Luật học, Hà Nội, 2005; "Những vấn đề lý luận về bảo vệ quyền con người bằng
pháp luật hình sự và pháp luật tố tụng hình sự trong giai đoạn. xây dựng nhà nước
pháp quyền Việt Nam" do GS.TSKH Lê Văn Cảm, PGS.TS Nguyễn Ngọc Chí,
PGS.TS Trịnh Quốc Toản đồng chủ biên, Đề tài khoa học cấp Đại học Quốc gia, Hà
Nội, 2006; "Luật tố tụng hình sự Việt Nam với việc bảo vệ quyền con người" - đề tài
nghiên cứu khoa học, chủ trì TS. Nguyễn Ngọc Chí - Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà
Nội, 2011; "Bảo vệ quyền con người trong tố tụng hình sự Việt Nam", của Nguyễn
Quang Hiền, Luận án tiến sĩ Luật học, Hà Nội, 2008; "Bảo vệ quyền con người trong
luật hình sự, luật tố tụng hình sự Việt Nam", sách chuyên khảo của TS Trần Quang
Tiệp, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, 2004;... Trong các công trình này, các tác giả
nghiên cứu việc bảo vệ quyền con người trong hoạt động tư pháp nói chung, kể cả
hình sự, dân sự. Thực tế thì số tác giả củng đã có những đề tài nghiên cứu về quyền
con người nhưng dưới nhiều góc độ khác nhau, người cứu về Bộ luật hình sự và Tố
tụng hình sự, các thủ tục tố tụng hình sự, các biện pháp cưỡng chế tố tụng liên quan
đến quyền con người của người bị tạm giữ, tạm giam.
Cuốn sách về “Bảo vệ và thúc đẩy quyền con người trong khu vực Asean " do
Trung tâm nghiên cứu quyền con người và quyền công dân thuộc Khoa Luật - Đại học
quốc gia Hà Nội phát hành đã đề cập tới quyền của con người dưới góc nhìn của khu
vực; giới thiệu và phân tích khái quát thực tiễn nhân quyền tại các quốc gia trong khu
vực, sự hình thành chuẩn mực, các cơ chế khu vực bảo vệ và thúc đẩy nhân quyền,
cũng như vai trò chủ thể khác nhau ở Asean (nhà nước, tổ chức phi chính phủ, cơ sở
giáo dục, nghiên cứu...)
Tình hình nghiên cứu trên đây cho thấy, các công trình khoa học, các bài báo,
luận văn, luân án, sách chuyên khảo trong chừng mực nhất định đã góp phần làm sáng

4.1. Đối tượng nghiên cứu của luận văn
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là các quy định của pháp luật hiện hành và tổ
chức thực hiện pháp luật về bảo đảm quyền con người trong tạm giữ, tạm giam ở tỉnh
Đắk Lắk.

4


4.2. Phạm vi nghiên cứu của luận văn
Dưới góc độ nghiên cứu của Luật Hiến pháp và Luật Hành chính, quyền con
người trong tạm giữ, tạm giam ở tỉnh Đắk Lắk là vấn đề có nội dung rộng lớn và phức
tạp. Vì vậy, về không gian luận văn nghiên cứu quyền con người trong tạm giữ, tạm
giam ở tỉnh Đắk Lắk trong thời gian từ 2014 đến nay. Về nội dung, luận văn nghiên
cứu về các quyền con người trong tạm giữ, tạm giam theo quy định của pháp luật hiện
hành.
5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu của luận văn
5.1. Phương pháp luận của luận văn
Luận văn được nghiên cứu trên cơ sở lý luận của Chủ nghĩa Mác- Lênin về duy
vật biện chứng và duy vật lịch sử; quan điểm, chủ trương của Đảng, chính sách và
pháp luật của Nhà nước Việt Nam và tư tưởng Hồ Chí Minh về quyền con người và
bảo đảm quyền con người trong tạm giữ, tạm giam.
5.2. Phương pháp nghiên cứu của luận văn
Xuất phát từ mục đích và nội dung nghiên cứu, luận văn sử dụng các phương
pháp nghiên cứu như: phân tích, tổng hợp, thống kê, so sánh pháp luật, dự báo để chọn
lọc những tri thức khoa học cũng như kinh nghiệm thực tiễn về bảo đảm quyền con
người trong tạm giữ, tạm giam ở các địa phương có điều kiện tự nhiên, văn hóa pháp
lý tương đồng.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
Về lý luận, những kết quả nghiên cứu của luận văn sẽ là những bổ sung quan
trọng vào lý luận và thực tiễn Luật Hiến pháp và Luật Hành chính, góp phần hoàn

tụng hình sự (TTHS). Bởi lẽ, đây là một lĩnh vực hoạt động đặc biệt của nhà nước và
cũng là lĩnh vực mà quyền con người dễ bị xâm phạm nhất và hậu quả của nó nặng nề
nhất, vì nó động chạm đến quyền cơ bản và quan trọng nhất của con người như quyền
sống, quyền bất khả xâm phạm về sức khỏe, danh dự, nhân phẩm... Bên cạnh đó, tạm
giữ, tạm giam cũng là một trong những biện pháp cưỡng chế khá phổ biến trong tố
tụng hình sự và tác động trực tiếp nhất đến quyền con người.
Tội phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội, thực hiện dưới hành vi cố ý, hoặc vô
ý và có lỗi, xâm phạm đến quyền và lợi ích của các quan hệ xã hội được pháp luật hình
sự bảo vệ. Tội phạm là hiện tượng xã hội tiêu cực chỉ xuất hiện khi xã hội có giai cấp
và nhà nước. Lịch sử nhà nước và pháp luật cho thấy đấu tranh ngăn ngừa tội phạm là
một trong những nhiệm vụ quan trọng nhất của bất cứ nhà nước nào. Muốn phát hiện
tội phạm và người phạm tội đưa người này ra xử lý trước pháp luật. Mỗi nhà nước điều
có những cách thức, thủ tục khác nhau. Sự khác nhau này phụ thuộc vào nhiều yếu tố
như bản chất nhà nước, trình độ phát triển kinh tế - xã hội, nhận thức....Tuy nhiên, thủ
tục đưa người phạm tội ra xử lý được gọi dưới một tên chung là thủ tục tố tụng. Như
vậy, “TTHS là trình tự do pháp luật quy định cách thức hiện các quy định của pháp
luật để xác minh, kiểm tra, điều tra các vụ việc, phát hiện nhanh chóng, chính xác, để
mọi hành vi vi phạm pháp luật đều được xử lý kịp thời mọi hành vi tội phạm”. Như
vậy, định nghĩa trên cho thấy nhiệm vụ bao trùm nhất TTHS là “phát hiện” và “xử lý”
tội phạm. Tuy nhiên, trong lĩnh vực TTHS, quyền lực nhà nước rất mạnh. Bằng một hệ
thống cơ quan cưỡng chế tác động đến con người phạm bằng các biện pháp cưỡng chế
đặc biệt như bắt, tạm giữ, tạm giam để phát hiện xử lý tội phạm. Khi quyền lực nhà
nước mạnh như thế dẫn đến hệ quả là phía bên kia của TTHS là người bị buộc tội ở vị
trí rất rất yếu. Một bên mạnh, một bên yếu dễ dẫn đến quyền của bên yếu sẽ bị xâm

7


phạm. Chính vì vậy để “quân bình” lực lượng thì phải tăng quyền cho bên người bị
buộc tội, có phương pháp, có cơ hội bảo vệ quyền của mình, đó là quyền tối thiểu của


tội phạm, xử lý công minh mọi hành vi phạm tội, không để lọt tội phạm. Để thực hiện
được nhiệm vụ này Bộ luật TTHS Việt Nam năm 2015 có nhiều chế định, quy phạm
cho phép các cơ quan tiến hành tố tụng áp dụng nhiều biện pháp cụ thể trong quá trình
phát hiện xử lý người phạm tội. Một trong những biện pháp ngăn chăn, các biện pháp
ngăn chặn. Việc quy định của pháp luật TTHS và việc áp dụng các biện pháp ngăn
chặn trong thực tế phải đảm bảo các nguyên tắc suy đoán vô tội. Về mặt khái niệm: “
Biện pháp ngăn chặn là biện pháp cưỡng chế trong TTHS áp dụng đối với bị can bị
cáo, người phạm tội quả tang và người cần phải bắt trong trường hợp khẩn cấp để kịp
thời ngăn chặn tội phạm của họ, ngăn chặn những người đó gây khó khăn cho việc
điều tra, truy tố, xét xử và tiếp tục phạm tội hoặc trốn [18, tr.12]
Mặc dù xuất hiện trong giai đoạn điều tra và do cơ quan điều tra thực hiện nhưng
các biện pháp cưỡng chế TTHS nêu trên là biện pháp ngăn chặn chứ không phải biện
pháp điều tra. Thật nguy hiểm nếu ai đó nhầm lẫn biện pháp ngăn chặn là biện pháp
điều tra bởi như vậy sẽ dẫn đến tình trạng để thuận lợi cho việc điều tra các cơ quan
điều tra sẽ lạm dụng các biện pháp tạm giam, bắt khẩn cấp….xâm phạm đến quyền
con người của những người bị tình nghi.
Biện pháp ngăn chặn không phải là hình phạt mà nó chỉ là biện pháp cưỡng chế
TTHS có tính chất tạm thời trước khi có bản án hiệu lực pháp luật kết tội một người có
tội hay không được áp dụng đối với người bị tình nghi, bị cáo, những người bị nghi là
đã thực hiện tội phạm. Biện pháp ngăn chặn có thể bị huỷ bỏ, thay thế bằng biện pháp
ngăn chặn khác bởi không chỉ là toà án mà bất kỳ các cơ quan tiến hành tố tụng nào
trong bất kỳ giai đoạn tố tụng nào trước khi bản án kết tội có hiệu lực pháp luật nếu nó
không cần thiết. Một trong những biện pháp ngăn chặn cơ quan THTT được áp dụng
đó chính là biện pháp tạm giữ, tạm giam. Từ việc áp dụng biện pháp tạm giữ tạm giam
này làm xuất hiện chủ thể bị áp dụng hai biện pháp cưỡng chế này là người bị tạm giữ
và người bị tam giam.
Khoản 1 Điều 59 Bộ luật TTHS 2015 quy định: Người bị tạm giữ là người bị giữ
trong trường hợp khẩn cấp, bị bắt trong trường hợp phạm tội quả tang, bị bắt theo
quyết định truy nã hoặc người phạm tội tự thú, đầu thú và đối với họ đã có quyết định

đã có hiệu lực pháp luật trong trường hợp chờ thi hành hình phạt tử hình, quyết định
khởi tố bị can của cơ quan điều tra, hoặc quyết định dẫn độ.
- Người bị tạm giam bị hạn chế đi một số quyền công dân của người bị tạm giam,

10


nhưng không phải là bị luật pháp tước bỏ hết các quyền con người, quyền công dân
của người bị tạm giam mà chỉ là hạn chế trong một thời gian nhất định do các cơ quan
và người có thẩm quyền tiến hành theo luật định. Khi áp dụng biện pháp tạm giam,
mục đích là để ngăn chặn kịp thời hành vi phạm tội và ngăn chặn tội phạm có thể xảy
ra, phục vụ cho việc đấu tranh phòng chống tội phạm có hiệu quả cao.
Họ đã bị áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giam theo quy định của Bộ luật
TTHS. Tạm giam là biện pháp tước bỏ tự có thời hạn do cơ quan điều tra, viện kiểm
sát, tòa án áp dụng với bị cáo, người bị kết án phạt tù, người bị kết án tử hình mà bản
án chưa có hiệu lực pháp luật hoặc đang chờ thi hành án, người bị tạm giam để thực
hiện việc dẫn độ để ngăn chặn, có thể bỏ trốn, gây cản trở cho việc điều tra, truy tố, xét
xử, tiếp tục phạm tội hoặc để đảm bảo thi hành bản án hoặc quyết định dẫn độ. Đây là
biện pháp cưỡng chế nghiêm khắc nhất trong TTHS nên để đảm bảo yêu cầu bảo vệ
quyền con người của những người bị tạm giam, Bộ luật TTHS có quy định rất chặt chẽ
và cụ thể về căn cứ, thẩm quyền, thủ tục áp dụng biện pháp tạm giam.
Theo tinh thần của nguyên tắc suy đoán vô tội: người bị buộc tội không bị coi là
có tội cho đến khi có bản án kết tội đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án thì người bị
tam giam chưa phải là người có tội và không được đối xử với họ như người đã có tội
(phạm nhân đang chấp hành hình phạt tù); trại tạm giam khác với nhà tù, chế độ giam
giữ khác với chế độ của tù nhân….
Quyền của người bị tạm giữ, tạm giam là một một lĩnh vực đặc thù của quyền
con người. Nó mang đầy đủ đặc điểm của quyền con người nói chung nhưng cũng có
những dấu hiệu riêng. Từ khái niệm quyền con người, người bị tạm giữ, tạm giam sẽ
làm cơ sở nghiên cứu về quyền của người bị tạm giữ, tạm giam:

biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú, bảo lãnh là đủ. Hoạt động TTHS phải được thực hiện
trên cơ sở coi trọng các yếu tố đó; bỏ qua hoặc coi nhẹ yếu tố này hay yếu tố khác nói
trên đều ảnh hưởng nghiêm trọng đến việc đạt được mục đích tố tụng. Nếu muốn
chứng minh tội phạm, xử lý tội phạm bằng bất cứ giá nào thì dễ dẫn đến vi phạm
quyền con người; ngược lại nếu quá chú ý đến việc bảo đảm quyền con người thái quá
mà không mạnh dạn áp dụng các biện pháp cưỡng chế tố tụng để phát hiện, chứng
minh tội phạm thì sẽ làm cho hoạt động tố tụng thiếu hiệu quả, không thể phát hiện, xử
lý kịp thời người phạm tội, thậm chí bỏ lọt tội phạm v.v…
Thứ tư, việc bảo đảm quyền con người trong TTHS được thực hiện thông qua

12


các biện pháp khác nhau, nhưng tập trung ở biện pháp xây dựng và hoàn thiện các quy
định của BLTTHS cũng như thực hiện nghiêm chỉnh các quy định đó trong thực tiễn
điều tra, truy tố, xét xử vụ án hình sự và thi hành bản án, quyết định có hiệu lực pháp
luật của Tòa án. Đặc biệt là các đảm bảo cơ sở vật chất, kỹ thuật phục vụ việc tạm giữ,
tạm giam bởi điều kiện này liên quan trực tiếp, cụ thể đến những quyền tự nhiên, cơ
bản của bị tạm giữ, tạm giam.
Quyền con người của người bị tạm giữ, tạm giam được thể hiện ở hai khía cạnh:
Một là, xử lý người phạm tội trước pháp luật, qua đó bảo vệ quyền con người nói
chung;
Hai là, khi tiến hành tố tụng các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố
tụng phải bảo đảm được quyền của người bị tạm giữ, tạm giam, đồng thời ngăn ngừa
nguy cơ lạm dụng từ phía những người tiến hành tố tụng.
Từ cách tiếp cận đó có thể đưa ra định nghĩa về quyền con người trong tạm giữ,
tạm giam: “Quyền con người trong tạm giữ, tạm giam là những giá trị cơ bản của con
người chỉ dành cho con người khi họ bị tạm giữ, tạm giam mà Nhà nước có nghĩa vụ
phải ghi nhận trong Hiến pháp, pháp luật và bảo đảm thực hiện trên thực tế”. Có thể
thấy đó là các quyền: quyền được bào chữa, được nhận các quyết định tố tụng theo

tổng hợp lại các quan niệm đó được phân chia thành ba quan niệm chủ yếu, khác nhau
về quyền con người như sau :
- Quan niệm thứ nhất: Bắt nguồn từ chỗ coi con người là một thực thể tự nhiên,
nên quyền con người phải là quyền "bẩm sinh", là "đặc quyền", nghĩa là quyền con
người, quyền lợi của con người với tư cách là người, gắn liền với cá nhân con người,
không thể tách rời.
- Về quan niệm thứ hai: Không đồng quan niệm thứ nhất, quan niệm này chỉ đặt
con người và quyền con người trong mối quan hệ xã hội nên nó được chế độ nhà nước,
pháp luật điều chỉnh bảo vệ. [29, tr.35]
Các tư tưởng ở quan niệm nay coi quyền con người là một khái niệm có tính lịch
sử, đặt con người trong tổng hòa các mối quan hệ xã hội..
- Quan niệm thứ ba: Quan niệm của chủ nghĩa Mác- Lênin về vấn đề quyền con
người. Quan niệm này đã khắc phục được tính phiến diện, phản khoa học về con
người, quyền con người ở các quan niệm trên [29, tr.36].
Xuất phát từ quan niệm coi con người vừa là sản phẩm tự nhiên, vừa là sản phẩm

14


của xã hội, con người mặc dù vẫn là một thực thể tự nhiên như các loài động vật khác,
nhưng lại khác với loài động vật khác ở chỗ con người chỉ thực sự tồn tại với tư cách
là một con người khi nó được tồn tại trong cộng đồng xã hội. Hai mặt này tồn tại biện
chứng trong một con người. Trong cái tự nhiên của con người có mặt xã hội và trong
cái xã hội của con người có mặt tự nhiên. Mặt này trở thành tiền đề cho mặt kia trong
mối quan hệ chặt chẽ không thể tách rời. Xuất phát từ quan niệm này về quyền con
người nên chủ nghĩa Mác - Lênin cho rằng vấn đề quyền con người: "Về bản chất bao
hàm cả hai mặt tự nhiên và xã hội":
C.Mác cho rằng, con người là "động vật có khả năng tái sinh ra con người", con
người là động vật cao cấp. Do đó, về mặt này, cũng như quan niệm thứ nhất, quyền con
người trước hết là một thuộc tính tự nhiên.

này không chỉ khắc phục được tính phiến diện của các định nghĩa khác, mà nó còn xác
định rõ ràng "ranh giới" của vấn đề, hạn chế của việc hiểu và vận dụng lệch lạc về
quyền con người. Chúng tôi tán thành với khái niệm này.
1.1.2. Đặc điểm quyền con người
Quyền con người có những tính chất cơ bản sau đây:
Tính phổ biến: Quyền con người là quyền chung được áp dụng cho tất cả mọi
người không có phân biệt màu da, dân tộc, giới tính, tôn giáo, độ tuổi, thành phần xuất
thân. Con người, dù ở trong những chế độ xã hội nào, thuộc dân tộc, văn hóa truyền
thống khác nhau vẫn được công nhận là con người và được hưởng những quyền và sự
tự do cơ bản.
Tính đặc thù: Tính đặc thù của quyền con người là tất cả mọi người đều được
hưởng quyền con người, nhưng những quyển đó được hưởng còn phụ thuộc vào từng
cá nhân như năng lực cá nhân của từng người, hoàn cảnh chính trị, truyền thống văn
hóa xã hội mà người đó đang sống.
Tính không thể bị tước bỏ: Quyền con người là gắn với mỗi con người từ khi sinh
ra cho đến khi chết đi, quyền đó không ai có thể tước bỏ. Tuy nhiên, trong một số
trường hợp nhất định được pháp luật quy định trước, chỉ có những chủ thể đặc biệt
mới có thể hạn chế quyền con người. Ví dụ: người bị tạm giữ, tạm giam khi bị tình
nghi thực hiện tội phạm, tù nhân bị giam do thực hiện hành vi phạm tội.
Tính liên hệ và phụ thuộc lẫn nhau giữa các quyền: Các quyền con người có mối
liên hệ chặt chẽ với nhau, việc thực hiện quyền này sẽ ảnh hưởng đến thực hiện quyền

16


khác. Ngược lại, khi có một quyền bị xâm phạm thì sẽ ảnh hưởng đến các quyền khác.
Ví dụ: nếu một người không được làm việc, không có một mức sống đảm bảo cho sự
sống cũng của họ và người thân thì người đó sẽ ít chú ý đến các quyền dân chủ như
quyền bầu cử hoặc quyền tham gia quản lý nhà nước, xã hội.
1.2. Quyền con người trong tạm giữ, tạm giam

Theo đó, quy định trên được áp dụng đối với mọi đối tượng bị tước tự do, bao
gồm cả người bị giữ, giam vì hành vi phạm tội, do tâm thần, nghiện ma túy hay phục
vụ mục đích giáo dục, kiểm soát nhập cư.
Khi bắt giữ người đều phải được thông báo vào lúc bị bắt những lý do vì sao họ
bị bắt và phải được thông báo về sự buộc tội đối với họ”.
Quy định này nhằm tạo điều kiện cho người bị bắt giữ biết được mình có bị bắt
vì tội danh nào, lý do gì mình bị bắt, đảm bảo quyền được biết và quyền không bị bắt
tùy tiện bởi một cơ quan có thẩm quyền xét xử.
Các biện pháp tạm giữ, tạm giam được sử dụng với tính chất là biện pháp ngăn
chặn, thì việc giam, giữ này phải được tiến hành theo trình tự, thủ tục luật định và phải
bảo đảm quyền được thông tin cho bị can, quyền được tòa án quyết định tính hợp pháp
của việc giam giữ. Trong đó, việc bắt giữ, giam người chỉ trong những trường hợp,
điều kiện, trình tự thủ luật định và việc áp dụng các chế tài tước tự do đối với người
phạm tội là cần thiết nhằm bảo đảm hiệu quả phòng, chống tội phạm, duy trì trật tự xã
hội, bảo vệ lợi ích xã hội, quyền và lợi ích của cá nhân, đồng thời tăng cường giáo dục
người phạm tội.
Những nội dung trên nhằm bảo vệ quyền không bị bắt, giam giữ tùy tiện, độc
đoán của mỗi người dân, buộc các cơ quan xét xử phải công tâm, làm việc khách quan
và đúng pháp luật, tránh tình trạng lạm quyền, vi phạm luật pháp dẫn đến oan sai, truy
tố người vô tội.
Hiến pháp năm 2013 và BLTTHS 2015 của Việt Nam đã thể hiện khá đầy đủ nội
dung của quyền không bị bắt giữ tùy tiện của Luật quốc tế. Nên các cơ quan tiến hành
tố tụng đựơc áp dụng các biện pháp ngăn chặn sau đây: Bắt tạm giữ, tạm giam, bảo
lãnh, cấm đi khỏi nơi cư trú, đặt tiền hoặc tài sản có giá trị để đảm bảo. Khi áp dụng
các biện pháp ngăn chặn cơ quan có thẩm quyền phải dựa vào các căn cứ sau đây:
- Để kịp thời ngăn chặn tội phạm: Dưới góc độ luật hình sự thì tội phạm bao giờ
cũng gây thiệt hại, đe doạ gây thiệt hại cho các quan hệ xã hội được luật hình sự bảo

18


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status