Hoạt động sản xuất và xuất khẩu tại công ty TNHH Minh Trí - Pdf 61

Trường Đại Học Ngoại Thương Báo cáo thu hoạch tốt nghiệp
LỜI MỞ ĐẦU
Quá trình đổi mới cơ chế quản lý kinh tế từ nền kinh tế hàng hoá tập trung
quan liêu bao cấp sang nền kinh tế thị trường có sự điều tiết của nhà nước đã có tác
dụng to lớn trong việc khuyến khích sản xuất hàng xuất khẩu,trong đó có ngành
may mặc xuất khẩu Cùng với sự chuyển mình của đất nước trong việc từng bước
hội nhập vào nền kinh tế khu vực cũng như trên thế giới,công nghệ sản xuất, xuất
khẩu hàng dệt may Việt Nam cũng có những chuyển biến tích cực,kịp thời phù hợp
với xu hướng phát triển chung,có thể đáp ứng được những yêu cầu mới của nền
kinh tế quốc dân.Cùng với những ngành kinh tế mũi nhọn khác,dệt may Việt Nam
đã thực sự là chiếc cầu nối Việt Nam với thế giới.
Tuy có trải qua nhiều thăng trầm do có sự biến đổi của nền kinh tế-chính trị
thế giới nhưng ngành dệt may xuất khẩu Việt Nam đã nhanh chóng tìm được bạn
hàng và ngày càng có vị trí vững chắc trên thị trường thế giới.Theo thống kê của
Bộ Thương Mại, xuất khẩu hàng dệt may 8 tháng năm 2003 đạt 2,597 tỷ USD,tăng
58% so với cùng kỳ năm ngoái, đứng thứ hai sau dầu thô về kim ngạch xuất
khẩu.Với những lợi thế và đặc điểm riêng có như vốn đầu tư không lớn,thời gian
thu hồi vốn nhanh,thu hút được nhiều lao động, ngành dệt may xuất khẩu Việt
Nam đã được phát triển trong môi trường hết sức thuận lợi.Tuy nhiên để khai thác
triệt để ưu thế của ngành, có thể mở rộng cả trong và ngoài nước,Nhà nước cũng
cần phải có những chính sách và biện pháp tạo điều kiện cho ngành phát triển và
bản thân mỗi doanh nghiệp cũng cần nhanh chóng nắm bắt được những yêu cầu
của thị trường, tích cực tranh thủ nguồn vốn, kỹ thuật cũng như kinh nghiệm quản
lý từ nước ngoài để tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh xuất nhập khẩu sao
cho đạt hiệu quả cao nhất.
Qua quá trình tìm hiểu thực tiễn hoạt động sản xuất và xuất khẩu tại công ty
TNHH Minh Trí, em đã chọn đề tài : “Hoạt động sản xuất và xuất khẩu tại công
ty TNHH Minh Trí” làm đề tài nghiên cứu cho bản thu hoạch thực tập của mình.
GVHD:Ths.Nguyễn Quang Hiệp Sinh viên: Nguyễn Phạm Tuân
Trường Đại Học Ngoại Thương Báo cáo thu hoạch tốt nghiệp
Trên cơ sở xem xét thực trạng hoạt động ở công ty,em muốn đề ra một số ý kiến và

lụa,... sản xuất hàng dệt và may mặc cùng thời tiết khí hậu phù hợp với việc phát
triển cây bông, một nguyên liệu chủ yếu cho ngành dệt may mặc.Ngoài ra,vị trí địa
lý của Việt Nam vô cùng thuận lợi ,ven biển giáp danh với 3 nước,là điểm giao lưu
thuận tiện của các loại phương tiện vận tải đi quốc tế.Cùng với nguồn tài nguyên
thiên nhiên vô cùng phong phú đa dạng,cung cấp khá đầy đủ nguyên liệu cho cả
ngành dệt và may mặc phát triển theo hướng công nghiệp hiện đại.Đặc biệt với
một đội ngũ nhân công dồi dào,cần cù chăm chỉ, có khả năng thích ứng nhanh với
công nghệ cao,máy móc thiết bị hiện đại,tạo ra những sản phẩm có chất lượng đạt
tiêu chuẩn quốc tế và được thị trường thế giới chấp nhận.
Bên cạnh đó những đặc điểm riêng có của ngành dệt may Việt Nam nói riêng
cũng như thế giới nói chung có thể nói cũng là những lợi thế của ngành này so với
các ngành công nghiệp khác.Đó là: ngành dệt may sử dụng một số lượng lớn lao
động đặc biệt là lao động nữ,số công nhân trong ngành may chiếm gần 60% tổng
số lao động trong toàn ngành công nghiệp cả nước,mà giá nhân công nước ta lại
khá rẻ so với các nước khác trong khu vực và trên thế giới. Lao động trong ngành
may lại không đòi hỏi phải đào tạo ở trình độ cao và phức tạp. Thêm vào đó, số
vốn đầu tư không lớn nhưng tỷ lệ lãi cao ,máy móc thiết bị trong ngành lại không
thuộc loại công nghệ phức tạp nên số tiền đầu tư thấp lơn nhiều so với ngành
khác.Chỉ cần bỏ ra 0,8 đến 1 triệu USD đưa vào hoạt động một nhà máy có công
suất 1 triệu sản phẩm /năm. Mặt khác tốc độ quay vòng vốn nhanh (4-5
vòng/năm) ,theo đó chỉ cần sau 3 năm là có thể thu hồi lại vốn.Đây chính là điểm
GVHD:Ths.Nguyễn Quang Hiệp Sinh viên: Nguyễn Phạm Tuân
Trường Đại Học Ngoại Thương Báo cáo thu hoạch tốt nghiệp
thuận lại nhất cho các nước nghèo muốn vươn lên thực hiện công nghiệp hoá hiện
đại hoá trong đó có Việt Nam.
Như vậy,khi chưa có lợi thế về kỹ thuật cao,công nghệ hiện đại tiên tiến thì
những lợi thế về nguồn lao động với giá nhân công rẻ,truyền thống sản xuất lâu đời
chính là những lợi thế và tiền đề cơ bản để ngành dệt may Việt Nam tham gia vào
thương mại quốc tế. Nhờ những lợi thế trên, ngành dệt may xuất khẩu Việt Nam
càng có thêm cơ sở để vững tin hơn vào một sự phát triển ổn định và vững chắc

850
11 50
1502
1747
1892
2750
3500
1975.4
1450
0
1000
2000
3000
4000

1995 1996 1997 1998 1999 2000 2001 2002 2003
Nguồn:Tham khảo nội bộ-Thông tin bộ Thương Mại ngày 10/02/2003
Thêm vào đó,với nhiều lợi thế riêng có,ngành dệt may xuất khẩu giúp thu hút
được nhiều lao động với kỹ năng không cao,thời gian đào tạo ngắn lại có tỷ trọng
lợi nhuận tương đối cao,đồng thời có điều kiện để mở rộng thương mại quốc tế.
Năm qua, ngành dệt may đã thu hút một số lượng lớn lao động toàn đất nước, với
số lao động lên đến 1,6 triệu người, kể cả 700 nghìn lao động trồng bông nuôi tằm,
chiếm 25% tổng số lực lượng lao động. Và mục tiêu đặt ra là đến 2010 ngành này
sẽ tạo được việc làm cho khoảng 2,76 triệu lao động với mức thu nhập bình quân
đầu người trên 100USD/người/tháng.Qua đó thu nhập người lao động sẽ tăng từ đó
có điều kiện để nâng cao sức mua,mở rộng thị trường trong nước.đẩy mạnh sản
xuất phát triển ,tạo sự ổn định về kinh tế. chính trị, xã hội.
Thêm vào đó, phát triển ngành dệt may xuất khẩu không chỉ tạo ra công ăn
việc làm trong ngành may mà còn tạo cơ hội phát triển cho các ngành liên quan và
phụ trợ khác như :trồng bông, dệt, cơ khí, hóa chất, bao bì, kho tàng, bảo quản ,vận

có giá trị sản lượng xuất khẩu đạt cao và hội nhập được với khu vực và trên thế
giới, sản phẩm làm ra thoả mãn được nhu cầu tiêu dùng của khách hàng nước
ngoài. Cho tới nay, toàn ngành có:
thành phần kinh tế số doanh nghiệp
Doanh nghiệp quốc doanh 187
+ Doanh nghiệp dệt 70
GVHD:Ths.Nguyễn Quang Hiệp Sinh viên: Nguyễn Phạm Tuân
Trường Đại Học Ngoại Thương Báo cáo thu hoạch tốt nghiệp
+ Doanh nghiệp may 117
Doanh nghiệp ngoài quốc doanh
(doanh nghiệp TNHH, cổ phần, tư nhân)
800
+ Doanh nghiệp dệt 600
+ Doanh nghiệp may 200
Nguồn:Tạp chí Chiến lược –chính sách doanh nghiệp năm 2003
Nhằm đáp ứng nhu cầu của thị trường Mỹ,trong năm 2002 bên cạnh việc các
doanh nghiệp đầu tư và mở rộng sản xuất thì đã có khá nhiều doanh nghiệp dệt
may mới ra đời, trong đó chủ yếu là doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài và các
doanh nghiệp tư nhân.Trong năm 2002 đã có trên 1.500 đơn vị tham gia xuất khẩu
hàng dệt may trong đó có 52 đơn vị đạt kim ngạch xuất khâủ trên 10 triệu
USD;350 đơn vị đạt kim ngạch xuất khẩu từ 1 đến 10 triệu USD.Tính đến nay toàn
ngành có 500 dự án đầu tư liên doanh và 100% vốn đầu tư nước ngoài hoạt động
trên tất cả các lĩnh vực như : sợi, dệt nhuộm, đan len, may mặc, phụ tùng máy may
với số vốn đăng ký 2.600 triệu USD.Trong đó Đài Loan là nước có nhiều dự án
đầu tư nhất, lên đến 144 dự án, tổng số vốn đăng ký là 1.100 triệu USD, vốn thực
hiện là 420 triệu USD.
Theo báo cáo gần đây nhất,trong cả nước số cơ sở dệt may tập trung chủ yếu
ở 2 khu vực Đồng bằng Sông Cửu Long và Đồng bằng Nam Bộ, chiếm 50-60%
sản lượng, Đồng bằng Sông Hồng chiếm 30-40%, đồng bằng Duyên hải Miền
Trung thấp hơn, chỉ chiếm 10% sản lượng toàn ngành dệt may.

trong năm 2002
Đơn vị:USD
Tên nước Trị giá Tên nước Trị giá
Mỹ 944.080.068 Trung Quốc 12.116.865
Nhật Bản 480.760.573 Đan Mạch 10.877.527
Đức 199.881.041 Thuỵ Điển 10.216.809
Đài Loan 118.017.983 Campuchia 8.188.039
Hàn Quốc 91.793.667 Thụy Sĩ 7.161.445
Anh 73.980.061 Thái Lan 5.341.982
Pháp 68.371.396 Hy Lạp 5.293.950
Nga 51.002.506
Các tiểu vương quốc ả
rập thống nhất
4.641.562
Tây Ba Nha 47.131.276 Indonesia 3.855.53
Hà Lan 43.725.617 Ai Len 3.766.871
Italia 40.585.314 áo 3.696.936
GVHD:Ths.Nguyễn Quang Hiệp Sinh viên: Nguyễn Phạm Tuân
Trường Đại Học Ngoại Thương Báo cáo thu hoạch tốt nghiệp
Lào 38.967.512 I Rắc 3.000.000
Canada 38.655.917 Phhilippine 2.851.496
Hồng Kông 33.587.714 Phần Lan 2.330.49
Malaysia 29.307.714 Myanmar 2.151.792
Bỉ 27.369.123 Na Uy 2.121.593
Ba Lan 27.226.989 New Zealand 2.121.026
Austraia 23.564.450 Thổ Nhĩ Kỳ 1.454.373
Singapore 18.420.486 Bồ Đào Nha 920.010
Mexico 12.370.791 Nam Phi 556.007
Nguồn: Tạp chí dệt may tháng 2/2003
Hiện nay thị trường xuất khẩu các sản phẩm dệt may của Việt Nam có thể

là xuất khẩu sang thị trường Mỹ tăng rất mạnh.Tính riêng năm 2002, Việt Nam đã
xuất khẩu đạt kim ngạch 800 triệu USD hàng dệt may sang Mỹ,tăng hơn 19 lần so
với thực hiện của năm 2001.Và trong quí I năm 2003,toàn ngành dệtmay nước ta
thu được 850 triệu USD , tăng 90% so với cùng kỳ năm 2002, thì riêng xuất khẩu
vào thị trường Mỹ, thu được 500 triệu USD, tăng gần 20 so với cng kỳ năm
GVHD:Ths.Nguyễn Quang Hiệp Sinh viên: Nguyễn Phạm Tuân
Trường Đại Học Ngoại Thương Báo cáo thu hoạch tốt nghiệp
2002.Bằng những kết quả khả quan này,Mỹ đã vượt lên trên cả EU để trở thành thị
trường nhập khẩu nhiều hàng dệt may nhất của nước ta.
Ngày 17/7/2003 vừa qua, Việt Nam và Mỹ đã ký chính thức Hiệp định riêng
về hàng dệt may theo đó Mỹ sẽ xét duyệt hàng năm hạn ngạch cho hàng dệt may
vào thị trường này.Như vậy tổng giá trị hàng dệt may Việt Nam xuất khẩu sang
Mỹ , theo điều khoản trong hiệp định, là 1,7 tỷ USD/năm, và có 38 cat.sẽ phải
chịu hạn ngạch trong đó gồm những mặt hàng quan trọng như áo sơ mi dệt kim sợi
bông, quần dệt kim sợi bông và áo cánh. Hạn ngạch cho các sản phẩm sợi len sẽ
tăng 2%/năm. Chỉ có hai mặt hàng không phải chịu hạn ngạch là áo jacket và áo
khoác. Hiệp định này sẽ có hiệu lực từ ngày 1/5/2003 đến ngày 31/12/2004.Nếu
hai bên không huỷ bỏ hiệp định, không xem xét lại hiệp định trước ngày 1/12/2004
hoặc ngày1/12 của năm tiếp theo cho đến khi Việt Nam gia nhập WTO, hiệp định
sẽ tự động có hiệu lực thêm một năm nữa. Mức hạn nghạch mà Mỹ dành cho Việt
Nam là quá khiêm tốn, chưa đáp ứng đủ năng lực sản xuất hàng dệt may của Việt
Nam. Chính vì vậy trong bối cảnh này, Việt Nam đang phải nỗ lực ra sức đàm
phán đa phương rồi song phương vơí các nước thành viên WTO để sớm gia nhập
vào năm 2005, chỉ có thế Việt Nam mới không bị áp hạn nghạch xuất khẩu hàng
dệt may nói chung và vào thị trường Hoa Kỳ nói riêng.
b, Thị trường EU: Là một thị trường với dân số đông (374,2 triệu người),GDP
hơn 9000 tỷ USD, mức thu nhập đầu người cao và nhu cầu về hàng may mặc lớn, có
sức tiêu dùng vải cao (17 kg/người/năm) nhưng EU là một thị trường có hạn
nghạch.Nhu cầu đối với hàng dệt may đặc biệt là tính mốt chiếm 85-90%giá trị sản
phẩm nên hàm lượng chất xám trong sản phẩm dệt may là chính, theo thống kê chỉ

lượng lớn.Như vậy nếu các doanh nghiệp khẩn trương trong việc tiếp cận thị
trường, xúc tiến thương mại, đàm phán ký kết hợp đồng ở các nước tại thị trường
EU, thực hiện tốt các cam kết với các khách hàng của mình và tìm mọi giải pháp
để nâng cao sức cạnh tranh thì mới có thể hy vọng các doanh nghiệp Việt Nam có
thể xuất khẩu sang thị trường EU khoảng 800-850 triệu USD hàng dệt may trong
năm 2003.
Theo một điều tra của các nhà chuyên môn, dự báo triển vọng kinh tế năm
2003 sẽ khả quan hơn nhiều tuy nhiên khó khăn chủ yếu trong xuất khẩu vào EU
là xuất hiện nhiều rào cản kỹ thuật mới ngày càng tinh vi hơn kể cả sản phẩm thô
GVHD:Ths.Nguyễn Quang Hiệp Sinh viên: Nguyễn Phạm Tuân
Trường Đại Học Ngoại Thương Báo cáo thu hoạch tốt nghiệp
và chế biến như tăng cường kiểm soát chất lượng hàng may mặc, cấm sử dụng một
số hoạt chất nhuộm trong hàng may mặc. Trong bối cảnh đó,để có thể thực hiện
được mục tiêu tăng trưởng xuất khẩu hàng dệt may vào EU năm 2003 là 12% sẽ
phải tiếp tục đàm phán để bãi bỏ hoặc tăng hạn ngạch hàng dệt may, tăng cường
giám sát các khâu cuối của công đoạn sản xuất đảm bảo hàng dệt may khi xuất
khẩu vào thị trường này sẽ đảm bảo các tiêu chuẩn quốc tế, đáp ứng được nhu cầu
khắt khe của mọi tầng lớp tiêu dùng thuộc thị trường EU.Như vậy,chúng ta tin
tưởng rằng với việc Liên Minh Châu Âu vừa đồng ý tăng hạn ngạch dệt may cho
một số sản phẩm dệt may của Việt Nam, hàng dệt may xuất khẩu sẽ xác lập lại
được vị trí trước đây đối với thị trường này.
c, Thị trường Nhật Bản: là một thị trường nhập khẩu hàng dệt may lớn thứ
ba của Việt Nam trong năm 2003. Với thị trường Mỹ và EU như đã đề cập ở trên ,
hàng dệt may xuất khẩu của nước ta bị hạn chế bởi hạn ngạch cho từng năm còn
thị trường Nhật Bản là thị trường phi hạn ngạch lớn nhất, hàng dệt may xuất khẩu
sang thị trường này không bị hạn chế về hạn ngạch .Thế nhưng kim ngạch xuất
khẩu hàng dệt may vào thị trường này còn rất ít ỏi và đang có chiều hướng giảm
xuống một phần do hàng may mặc của Việt Nam bị cạnh tranh gay gắt với các đối
thủ khác, là thành viên của WTO như Trung Quốc, Đài Loan, Hàn Quốc, Italia,
Mỹ,...song đặc biệt là hàng dệt may của Trung Quốc với nhiều lợi thế về giá cả,

d, Các thị trường khác
- Thị trường một số nước ASEAN: Đây là một thị trường phi hạn ngạch,
ngành dệt may Việt Nam có thể thâm nhập được thị trường này nhưng chỉ ở mức
độ thấp vì đặc điểm chung của thị trường dệt may ASEAN là hướng xuất khẩu sản
phẩm là chủ yếu. Quan hệ với thị trường này chủ yếu là các doanh nghiệp dệt may
Việt Nam làm gia công xuất khẩu cho các nước Hàn Quốc, Đài Loan, Trung Quốc,
Singapore... còn ta nhập khẩu chủ yếu là nguyên vật liệu(đặc biệt là bông),thiết bị,
và hoá chất thuốc nhuộm và một số mặt hàng chất lượng cao mà trong nước chưa
sản xuất hoặc không sản xuất được. Tuy nhiên khi thâm nhập thị trường này,ngành
dệt may Việt Nam cần phải nâng cao hơn nữa chất lượng sản phẩm và quan trọng
không kém là phải nâng cao chất lượng dịch vụ bán hàng như giao hàng đúng hẹn,
đúng số lượng, đúng chủng loại.
- Thị trường SNG và thị trường một số nước Đông Âu: Đây là thị trường
có dân số lớn , trên 300 triệu dân lại cũng không cần quota. Tuy nhiên hiện nay đòi
hỏi về mẫu mã, chủng loại và chất lượng đối với hàng dệt may đã cao hơn
GVHD:Ths.Nguyễn Quang Hiệp Sinh viên: Nguyễn Phạm Tuân
Trường Đại Học Ngoại Thương Báo cáo thu hoạch tốt nghiệp
trước,song vẫn là thị trường dễ tính nên dễ thực hiện.Thị trường này có nhu cầu
nhập khẩu rất lớn về hàng dệt may và có khả năng thông qua phương thức trao đổi
hàng:nguyên liệu bông, vật tư, kỹ thuật dồi dào. Để có thể thâm nhập tốt ở thị
trường này, đòi hỏi các doanh nghiệp dệt may xuất khẩu phải tích cực mở rộng
hoạt động tiếp thị, tìm ra phương thức kinh doanh phù hợp giữa hai nhà nước thì
hàng dệt may Việt Nam mới có thể đi vào được thị trường mạnh mẽ và đầy tiềm
năng này.
-Thị trường các nước châu Phi:đây là một trong những thị trường mà Việt
Nam đang xúc tiến thương mại, tìm kiếm và khai thác mới mà ngành dệt may Việt
Nam có rất nhiều cơ hội. Trong đó, Nam Phi là nước được ngành dệt may quan
tâm vì hiện nay nước này không áp dụng hạn ngạch đối với hàng dệt may nhập
khẩu.Hiện nay Nam Phi đang tuân thủ các hiệp định tự do thương mại với một số
nước EU, Dimbabuê,... trên cơ sở các hiệp định đó, Nam Phi áp thuế cho mặt hàng

Đặc biệt là thời cơ thứ ba, với việc mở rộng giao lưu và hợp tác kinh tế, chủ
động hội nhập quốc tế, Việt Nam trở thành thành viên của ASEAN,APEC, chuẩn
bị gia nhập WTO và đã có Hiệp định thương mại với EU, Nhật Bản và đặc biệt là
với Hoa Kỳ trong thời gian gần đây đã tạo ra những bước tiến quan trọng, mở ra
cơ hội phát triển cho nhiều ngành, trong đó có ngành dệt may của Việt Nam.
Bên cạnh đó, nhu cầu nhập khẩu hàng dệt may trên thế giới là rất lớn,mỗi
năm thị trường EU nhập khẩu tới trên 140 tỷ USD hàng dệt may, Mỹ là 73 tỷ-75
tỷ, Hồng Kông 14,7 tỷ đến 16,4 tỷ USD, các nước Canada, Mêhicô, Thuỵ Sĩ,...
cũng mỗi năm nhập từ 3 tỷ đến 4,8 tỷ USD.Các nước phát triển như Nhật Bản, Mỹ,
Thuỵ Sĩ, các nước EU nhập khẩu hàng may mặc sẵn là chính, thường chiếm từ
60% đến 80%.Đây chính là cơ hội thuận lợi để hàng dệt may các nước trong đó
Việt Nam mở rộng kim ngạch xuất khẩu của mình.
Hiện tại , sản phẩm dệt may Việt Nam đã có mặt ở thị trường hơn 30 nước và
khu vực lãnh thổ, trong đó có các bạn hàng Nhật Bản, Ôxtrâylia, Canada, Hông
Kông, Đài Loan, Hàn Quốc, các nước thuộc liên minh châu Âu (EU) đã và đang
tiêu thụ ngày càng nhiều hàng dệt may của Việt Nam Điều đó chứng tỏ rằng hàng
dệt may của chúng ta đã có uy tín trên thị trường thế giới và có thế cạnh tranh tại
các thị trường khác nhau, kể cả những thị trường được coi là khó tính như:EU,
GVHD:Ths.Nguyễn Quang Hiệp Sinh viên: Nguyễn Phạm Tuân
Trường Đại Học Ngoại Thương Báo cáo thu hoạch tốt nghiệp
Nhật Bản,.Pháp, Italia, các nước Bắc Âu....Chính vì vậy mà nhiều năm liền, sản
phẩm của công ty May 10, Việt Tiến, Nhà Bè, Phương Đông, Đức Giang, Thăng
Long, Đồng Nai, các công ty dệt Thành Công, Thắng Lợi, Việt Thắng, Phong Phú,
Hà Nội, Nam Định,... đã có mặt tại thị trường hàng chục nước ở Châu á, Châu Âu,
Châu Mỹ....Có 3 lý do khiến khách hàng lựa chọn hàng dệt may của Việt Nam là
do giá cả phải chăng, một số doanh nghiệp đã tạo ra được những mẫu mã lạ mắt,
nhiều ý tưởng mới mẻ và đặc biệt tay nghề của các thợ thủ công rất cao và chất
lượng sản phẩm dệt may của chúng ta ngày càng được nâng cấp và cải tiến đạt tiêu
chuẩn quốc tế.Đây chính là những khích lệ để hàng dệt may Việt Nam nỗ lực,cố
gắng phát triển hơn nữa xứng đáng với niềm tin và mong mỏi của người tiêu dùng.

trong ngành dệt may của nước ta còn quá lạc hậu,gần 30% số máy móc đã sử dụng
trên 20 năm. Trình độ công nghệ của Ngành dệt may Việt Nam còn lạc hậu từ 10
đến 20 năm so với các nước trong khu vực.Tuyệt đại bộ phận ngành kéo sợi chỉ
đạt mức tương đương 75% uster vào những năm đầu thế kỷ 90, công suất sợi chải
kỹ còn quá ít.Dạng sợi làm ra đã được cải thiện nhiều về chủng loại và mầu sắc do
đầu tư thiết bị máy móc mới nhưng do trình độ vốn còn hạn chế nên thiết bị dệt
kim còn quá ít và lạc hâụ, mới chỉ tương đương khoảng 20% tổng số máy móc với
thiết bị hiện đại của khu vực Đông Nam á.Công nghệ làm đẹp và xử lý vải ở công
đoạn hoàn tất còn thiếu và chưa đạt được hiệu quả cao.
Khối lượng sản xuất của toàn ngành vẫn chưa lớn, chủng loại, mẫu mã hàng
chưa thật phong phú, đa dạng, năng suất lao động còn thấp, giá thành còn cao hơn
một số sản phẩm cùng loại của khu vực và nhiều nước trên thế giới, đặc biệt phải
cạnh tranh với hàng Trung Quốc.Về công nghệ sản xuất hiện nay, ngành may mới
chỉ chú trọng đầu tư sản xuất vào một số mặt hàng nhạy cảm,đơn giản, dễ thu lợi
nhuận như sơ mi nam nữ,áo Jacket, quần âu, các sản phẩm dệt kim, khăn
bông...còn công nghệ sản xuất những mặt hàng có chất lượng và giá trị cao vẫn
còn gần như bị bỏ trống, đó là các sản phẩm dệt có nguồn gốc tơ tằm, vải cao cấp,
áo comple, quần áo dệt kim thể thao, vải jean,thun từ nguyên liệu sợi đàn hồi... còn
chưa đáng kể,kiểu mẫu còn ít và chưa tiếp cận được với thị trường may mặc luôn
luôn biến động của thế giới. .Đa phần các công ty may mặc mới chỉ sản xuất theo
yêu cầu của khách hàng mà chưa chủ động nghiên cưú và đưa ra những mẫu mã
riêng của mình.
GVHD:Ths.Nguyễn Quang Hiệp Sinh viên: Nguyễn Phạm Tuân
Trường Đại Học Ngoại Thương Báo cáo thu hoạch tốt nghiệp
Bên cạnh đó, tình trạng thiếu công nhân nhất là đội ngũ công nhân có tay
nghề cao cũng đã ảnh hưởng nhiều tới hoạt động sản xuất của mỗi doanh nghiệp.
Tiến độ đầu tư trong chiến lược tăng tốc và phát triển ngành dệt may còn rất chậm
chưa theo kịp với sự phát triển của sản xuất hàng xuất khẩu.
Tính nhạy bén của các doanh nghiệp , nhất là các doanh nghiệp trong nước
trước những diễn biến của thị trường là rất thấp.Như chúng ta đã biết, ngay sau khi

phải chuyển một số đơn hàng trị giá 600.000 USD của tháng 6,tháng 7 sang các
nhà máy ở Srilanka, ấn độ, Madagasca để đảm bảo tiếp tục duy trì thị phần và
khách hàng.
Như vậy, cùng với việc Campuchia có thể sẽ gia nhập tổ chức Thương Mại
thế giới (WTO) vào cuối năm nay, dự báo xuất khẩu hàng dệt may của ta nói
chung và sang thị trường Mỹ nói riêng sẽ càng khó khăn hơn và nguy cơ mất một
số khách hàng ổn định, tiềm năng tại thị trường Mỹ là điều khó tránh khỏi.
Còn đối với thị trường EU, tính riêng năm 2002 chỉ có 15 trong tổng số 29
Cat. áp dụng hạn ngạch đã được thực hiện hết, một số Cat. thực hiện đạt rất thấp
như Cat.10 mới đạt 21,62%,Cat.12 chỉ đạt 4,91% đặc biệt Cat.21(áo jacket)cũng
mới chỉ thực hiện được 79,4% hạn ngạch được giao.Bên cạnh những mặt hàng
thuộc diện phân bổ hạn ngạch thì xuất khẩu hầu hết những mặt hàng không phải
chịu hạn ngạch đạt rất thấp.Điều này cho thấy khả năng cạnh tranh của hàng dệt
may của nước ta nhìn chung còn yếu.Đâylà một khó khăn cho các doanh nghiệp
dệt may nước ta khi mà chế độ hạn ngạch xuất khẩu hàng dệt may vào EU được dỡ
bỏ vào năm 2005.
Tính đa dạng thị trường của hàng dệt may xuất khẩu Việt Nam còn thấp , phụ
thuộc nhiều vào một số thị trường chính.Ngoài ra, thông tin mang tính định hướng
của các cơ quan quản lý Nhà nước còn yếu kém và thiếu đồng bộ hay còn sơ sài,
chưa được đầu tư đúng mức.. Mặc dù đã xuất khẩu sang Mỹ trong một thời gian
khá dài nhưng vẫn còn nhiều doanh nghiệp không hiểu gì về khái niệm, cách phân
loại cũng như độ “nóng” của mỗi Cat. khi xuất khẩu vào thị trường Mỹ, có nhiều
doanh nghiệp còn tỏ ra lúng túng khi áp mã các Cat. hàng dệt may xuất khẩu sang
thị trường này.
Trong xu thế hội nhập , ngành dệt may Việt Nam còn phải cạnh tranh gay gắt
với các cường quốc xuất khẩu hàng dệt may lớn như Trung Quốc, ấn Độ, Hồng
GVHD:Ths.Nguyễn Quang Hiệp Sinh viên: Nguyễn Phạm Tuân

Trích đoạn Thanh toỏn hợp đồng gia cụng Đối với ngành dệt bao gồm sản xuất nguyờn liệu dệt, sợi,in, nhuộm và hoàn tất:
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status