Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời và bài học chớp thời cơ kịp thời
Bản in
Hòa chung không khí của toàn Đảng, toàn quân và
toàn dân ta kỷ niệm 65 năm Cách mạng Tháng Tám,
Quốc khánh 2-9 và tích cực chuẩn bị mọi mặt cho sự
thành công của Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI, đất
nước ta thực sự đạt được những thành tựu đáng kể,
đánh dấu bước chuyển mình mạnh mẽ về mọi mặt
trong đời sống kinh tế, chính trị, văn hóa - xã hội và
đặc biệt là lĩnh vực quốc phòng, an ninh, bảo vệ vững
chắc biên cương Tổ quốc. Đó là tiền đề, nền tảng và
điều kiện thuận lợi lớn để Việt Nam tiếp tục đổi mới và
phát triển, thực hiện thành công mục tiêu hội nhập sâu
rộng, nâng cao vị thế của đất nước trên trường quốc
tế.
Để có được thành quả đó, chúng ta phải triệt để, đồng bộ, sáng tạo khi tận dụng thời cơ và các điều kiện
thuận lợi trong và ngoài nước để lựa chọn cho mình cách thức thực hiện hiệu quả, nhanh chóng, đúng đắn nhất.
Đây là vấn đề có ý nghĩa quan trọng, quyết định sự thành công hay thất bại của các quá trình phát triển khách
quan của đời sống xã hội. Lịch sử đấu tranh cách mạng của Việt Nam là chặng đường gian khổ, phải đương đầu
với những thế lục hùng mạnh nhất thế giới, song trải qua quá trình đấu tranh đó chúng ta càng thấy bài học nhận
định thời cơ, chớp thời cơ lãnh đạo là nhân tố quyết định mọi thành công.
Thứ nhất là sự thành công của Cách mạng Tháng Tám giành chính quyền về tay
nhân dân
. Đây là bài học có ý nghĩa sâu sắc nhất cả về lý luận và thực tiễn trong việc nắm bắt thời
cơ kịp thời. Thời cơ là tình thế xuất hiện trong thời điểm nhất định có lợi nhất cho việc chủ động phát
huy mọi sức mạnh để giành thắng lợi. Ngày Tổng khởi nghĩa 19-8-1945 làm nên cuộc Cách mạng
Tháng Tám kỳ diệu, chính là do chúng ta đã kịp thời chớp lấy thời cơ và giành thắng lợi trọn vẹn.
Toàn cảnh lễ đài tại Quảng trường Ba Đình - Hà Nội,
ngày 2/9/1945. Tại đây, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đọc bản
Tuyên Ngôn Độc lập, khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.
thật đã thành một nước tự do, độc lập. Toàn thể dân tộc Việt Nam quyết đem tất cả tình thần và lực
lượng, tính mạng và của cải để giữ vững quyền tự do, độc lập ấy…”.
Những triết lý đó được Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định ngay trong phần mở đầu Tuyên ngôn độc lập
vừa giản dị, mộc mạc nhưng là điều quyền tất yếu của con người trong xã hội loài người, không phân biệt quốc
tịch, màu da, nguồn gốc….. “Tuyên ngôn độc lập” ra đời là lời tuyên bố chính thức với thế giới về sự ra đời của
một nhà nước mới - Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, đánh dấu một kỉ nguyên mới, kỉ nguyên độc lập tự
do của một nước thuộc địa châu Á.
Thứ hai là sự ra đời của công cuộc đổi mới đất nước năm 1986.
Công cuộc đổi mới về
thực chất là một cuộc cách mạng, có thành tựu, ưu điểm, tiến bộ, nhưng đồng thời cũng có nhiều
khó khăn, hạn chế, yếu kém. Những ưu điểm thành tựu đạt được bước đầu thực hiện đường lối đổi
mới là rất quan trọng, song khó khăn, yếu kém cũng rất lớn, đó là: đất nước ta vẫn chưa ra khỏi
khủng hoảng kinh tế - xã hội, công cuộc đổi mới còn nhiều hạn chế, nhiều vấn đề kinh tế - xã hội
nóng bỏng vẫn chưa được giải quyết.
Giai đoạn 1975-1985, nền kinh tế Việt nam đã phải đối mặt với những tình thế hết sức éo le: Việt Nam
không chỉ thiếu cán bộ có trình độ chuyên môn về quản lý kinh tế nói chung mà còn chịu sức ép hết sức phức tạp
về môi trường phát triển kinh tế: Các nguồn viện trợ cho ‘Việt Nam đánh Mỹ’ đã bị cắt, giảm đột ngột, các vụ bạo
loạn, kích động và quấy phá cách mạng nổi lên ở nhiều nơi, nhất là ở hai khu vực biên giới phía Tây Nam và phía
Bắc; Nhu cầu chi ngân sách đột ngột tăng lên - nhất là chi chính sách xã hội và chi xây dựng cơ bản; Đời sống của
nhân dân nói chung và của công chức nói riêng vốn đã khó khăn lại phải chi viện cả sức người, sức của giúp nhân
dân Campuchia chiến đấu thoát khỏi thảm hoạ “nồi da nấu thịt” của bọn diệt chủng Pônpốt... Kết quả là bội chi
ngân sách không ngừng gia tăng, bình quân trong những năm 1976 - 1985 ngân sách bội chi tới 30% một năm.
Mặt khác, cơ chế tập trung, quan liêu, bao cấp tồn tại quá lâu và không còn hợp với thời kỳ phát triển
kinh tế - xã hội trong thời bình nên về hình thức thì tập trung cao độ nhưng về nội dung thì Nhà nước ngày càng
không thể kiểm soát hết và càng không thể bao cấp hết. Trong hoàn cảnh đó, những mạch "kinh tế ngầm" vẫn
chảy dữ dội: hụi, họ, chợ đen, cho vay nặng lãi, “khoán chui”, "phá rào", "núp bóng" v.v. là những cụm từ và là
những hiện tượng nhức nhối đã từng xuất hiện phổ biến trong đời sống kinh tế xã hội Việt nam từ những năm
trước lại tái diễn và có phần nghiêm trọng hơn vào cuối năm 1985, đầu năm 1986. Vậy là cơ chế tập trung quan
liêu bao cấp đã không còn phù hợp với điều kiện xây dựng kinh tế thời bình - Không thể làm xoay chuyển được
sức ỳ của nền kinh tế vốn đang chờ đợi một cách khách quan những động lực khác: Đó là tư duy mới, cơ chế mới,