ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
NGUYỄN THỊ PHƢƠNG HÀ
TRÁCH NHIỆM XÃ HỘI
CỦA NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI CỔ PHẦN NAM Á
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN TRỊ KINH DOANH
CHƢƠNG TRÌNH ĐỊNH HƢỚNG ỨNG DỤNG
HÀ NộI – 2017
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
NGUYỄN THỊ PHƢƠNG HÀ
TRÁCH NHIỆM XÃ HỘI
CỦA NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI CỔ PHẦN NAM Á
Chuyên ngành: Quản trị kinh doanh
Mã số: 60 34 01 02
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN TRỊ KINH DOANH
CHƢƠNG TRÌNH ĐỊNH HƢỚNG ỨNG DỤNG
NGƢỜI HƢỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS.TS. HOÀNG VĂN HẢI
XÁC NHẬN CỦA CÁN BỘ
XÁC NHẬN CỦA CHỦ TỊCH HĐ
Đại học kinh tế - Đại học Quốc gia Hà Nội đã truyền thụ những kiến thức
quý báu cho tôi trong suốt thời gian học tập tại trường.
Tôi xin cảm ơn Ban lãnh đạo Ngân hàng thương mại cổ phần Nam Á
đã tạo điều kiện cho tôi thực hiện nghiên cứu đề tài này. Bên cạnh đó tôi cũng
xin cảm ơn tập thể cán bộ nhân viên Ngân hàng Nam Á đã hỗ trợ tôi trong
việc đưa ra những câu trả lời khách quan nhất cho bảng khảo sát trong đề tài
nghiên cứu của tôi.
Cuối cùng, tôi xin chân thành cảm ơn gia đình, người thân, bạn bè và
các bạn lớp K24QTKD3 đã luôn cổ vũ, động viên và khích lệ tôi hoàn thành
luận văn này.
Xin chân thành cảm ơn!
MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT ................................................................. i
DANH MỤC BẢNG BIỂU ............................................................................. ii
DANH MỤC HÌNH VẼ ................................................................................. iii
MỞ ĐẦU .......................................................................................................... 1
CHƢƠNG 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ
LÝ LUẬN VỀ TRÁCH NHIỆM XÃ HỘI CỦA DOANH NGHIỆP.......... 5
1.1. Tổng quan tình hình nghiên cứu ................................................................ 5
1.1.1. Tình hình nghiên cứu ở nước ngoài ........................................................ 5
1.1.2. Tình hình nghiên cứu ở trong nước: ....................................................... 8
1.2. Cơ sở lý luận về trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp ........................... 11
1.2.1. Quá trình hình thành và phát triển khái niệm trách nhiệm xã hội của
doanh nghiệp ................................................................................................... 11
1.2.2. Sự cần thiết phải thực hiện CSR ........................................................... 14
1.3. Các bộ tiêu chuẩn quốc tế về trách nhiệm xã hội .................................... 17
1.3.1 . Bộ quy tắc ứng xử BSCI ...................................................................... 18
1.3.2. Bộ nguyên tắc CERES .......................................................................... 21
4.1.1. Các căn cứ xây dựng mục tiêu .............................................................. 64
4.1.2. Các mục tiêu cụ thể ............................................................................... 64
4.2. Một số đề xuất .......................................................................................... 66
4.2.1. Đề xuất nâng cao nhận thức về CSR.................................................... 66
4.2.2. Đề xuất các giải pháp CSR theo chủ đề ................................................ 68
4.3. Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp theo................................................... 71
4.3.1. Một số hạn chế của nghiên cứu ............................................................. 71
4.3.2. Các hướng nghiên cứu tiếp theo ........................................................... 72
KẾT LUẬN .................................................................................................... 73
TÀI LIỆU THAM KHẢO ............................................................................ 74
PHụ LụC
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
STT
Từ viết tắt
Nguyên nghĩa
Sáng kiến đánh giá tuân thủ trách nhiệm xã
1
BSCI
2
CBCNV
3
Ngân hàng Thương mại cổ phần Nam Á
9
NH
Ngân hàng
10
OECD
Tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế
11
CSR
Trách nhiệm xã hội doanh nghiệp
12
UNIDO
Tổ chức phát triển công nghiệp Liên hợp quốc
hội trong kinh doanh
Cán bộ công nhân viên
Liên minh vì nền kinh tế có trách nhiệm với
38
4
Bảng 2.4 Các tiêu chí đánh giá thực hiện CSR đối với môi trường
34
5
Bảng 2.5 Các tiêu chí đánh giá thực hiện CSR đối với cộng đồng
39
6
Bảng 3.1 Phân loại nhóm cán bộ nhân viên theo độ tuổi
47
7
Bảng 3.2 Mức độ nhận thức của đối tượng khảo sát về CSR
48
8
Bảng 3.3 Mức độ thực hiện CSR đối với người lao động
Mục tiêu chiến lược phát triển đến năm 2020 của Ngân
hàng Nam Á
ii
62
64
DANH MỤC HÌNH VẼ
STT
Hình
Nội dung
Trang
1
Hình 1.1 Mô hình kim tự tháp về CSR
12
2
Hình 2.1 Mô hình nghiên cứu
31
viên; bảo vệ và phát triển môi trường xanh, quan tâm đến các hoạt động đóng góp
cho xã hội. Những cam kết trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp (CSR) vượt ra
khỏi mong muốn gia tăng lợi nhuận, và cho thấy doanh nghiệp đã nhận thức một
cách đầy đủ về trách nhiệm của mình tới nhân viên, khách hàng, cộng đồng và
môi trường. Nhiều doanh nghiệp đã sử dụng CSR như một hướng kinh doanh mới
khi nhận ra rằng nó có thể giúp cải thiện các tình hình tài chính, nâng cao động cơ
làm việc của các nhân viên, góp phần tạo nên lòng trung thành của khách hàng
cùng danh tiếng doanh nghiệp.
Trên thế giới, CSR đã thu hút sự quan tâm nghiên cứu của các chính
phủ, các tổ chức xã hội, và cả những doanh nghiệp, người tiêu dùng từ
những năm 60 của thế kỷ XX và dần trở thành xu hướng mạnh mẽ trong
hoạt động của doanh nghiệp. Ở Việt Nam vấn đề thực hiện CSR đã được
biết đến khá lâu, từ năm 2005 nước ta đã có giải thưởng "CSR hướng tới sự
phát triển bền vững" được tổ chức bởi Phòng thương mại và Công nghiệp
Việt Nam, Bộ Lao động Thương binh và Xã hội, Bộ Công Thương cùng các
hiệp hội Da giày, Dệt may tổ chức, nhằm tôn vinh các doanh nghiệp thực
hiện tốt công tác CSR trong bổi cảnh hội nhập. Năm 2006 đã có 50 doanh
1
nghiệp ngành dệt may và da giày tham dự. Tuy nhiên ở Việt Nam việc thực
hiện CSR còn nhiều khó khăn, bên cạnh một vài doanh nghiệp thực hiện tốt
thì vẫn còn là điều mới mẻ với rát nhiều doanh nghiệp. Nhiều những vụ việc
vi phạm CSR đã bị phanh phui và lên án, gây nên sự bức xúc trong cộng
đồng và làm giảm lòng tin vào doanh nghiệp. Vì vậy các doanh nghiệp cần
phải nâng cao và nhận thức sâu sắc về việc thực hiện CSR để nâng cao sức
cạnh tranh của doanh nghiệp Việt.
Với vai trò là xương sống của nền kinh kế, lĩnh vực tài chính nói
chung, ngành ngân hàng nói riêng đóng một vai trò rất quan trọng trong việc
hỗ trợ nền kinh tế của một đất nước phát triển bền vững, việc thực hiện CSR
3. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
3.1. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là các hoạt động CSR của Ngân hàng
Nam Á.
3.2. Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi về nội dung:
Đề tài giới hạn ở việc xem xét nhận thức về CSR tại Ngân hàng Nam Á
theo mô hình kim tự tháp CSR của A.B. Carroll và đánh giá thực tiễn các hoạt
động thực hiện CSR theo bộ tiêu chuẩn ISO26000.
Phạm vi về không gian:
Đề tài nghiên cứu các hoạt động CSR trong toàn bộ Hội sở, chi nhánh,
phòng giao dịch của Ngân hàng Nam Á trong phạm vi cả nước.
Phạm vi về thời gian:
Đề tài giới hạn thời gian nghiên cứu trong giai đoạn từ 2015 đến tháng
06/2017. Các dữ liệu sơ cấp được thu thập trong giai đoạn từ tháng 4 đến
tháng 6/2017.
3
4. Những đóng góp của luận văn
Luận văn có những đóng góp chủ yếu như sau:
Làm rõ thực trạng thực hiện trách nhiệm xã hội của Ngân hàng Nam Á
Đưa ra các đề xuất nâng cao trách nhiệm xã hội ở Ngân hàng Nam Á
dựa vào việc phân tích thực trạng và rút ra các bài học kinh nghiệm từ việc
thực hiện trách nhiệm xã hội của ngân hàng Nam Á
Giúp nhà quản lý Ngân hàng Nam Á có những định hướng về hoạt
động kinh doanh song song với thực hiện CSR nhằm đảm bảo cho NH phát
triển bền vững.
5. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần Mở đầu và Kết luận, luận văn gồm có 04 chương:
của nhân viên. Hai tác giả này đã tổng hợp và phân tích các kết quả nghiên
cứu lý thuyết cũng như nghiên cứu thực nghiệm trước đây về CSR, động lực và
sự cam kết của nhân viên để chỉ ra rằng hiệu quả của các hoạt động CSR phụ
thuộc vào mức độ tham gia của nhân viên mà trong khi mức độ tham gia này
thì lại chịu ảnh hưởng của các yếu tố hoàn cảnh và nhận thức của NLĐ. Theo
Collier và Esteban, tất cả các doanh nghiệp, đặc biệt là các doanh nghiệp
xuyên quốc gia phải chịu trách nhiệm về những quy tắc ứng xử đạo đức của
5
họ mà còn phải chịu trách nhiệm về ảnh hưởng của nó gây ra cho các bên liên
quan hiện tại và các thế hệ tương lai. Vì vậy, CSR muốn được thực thi có hiệu
quả thì doanh nghiệp cần thúc đẩy và tạo được sự cam kết của nhân viên. Sự
cam kết này sẽ rất quan trọng khi doanh nghiệp hoạt động trong các bối cảnh
văn hóa khác nhau. Ngoài ra, cũng theo hai tác giả này, nếu doanh nghiệp chỉ
có bản tuyên bố sứ mệnh và bộ quy tắc ứng xử thôi thì vẫn chưa đủ mà cần
khiến những quy tắc đạo đức đó được ngấm sâu vào văn hóa của doanh nghiệp
cũng như ngấm vào tâm trí và trái tim của mọi thành viên trong doanh nghiệp.
Ali và cộng sự (2010) nghiên cứu mối quan hệ giữa CSR nội bộ và
sự cam kết với tổ chức trong khu vực ngân hàng của Jordan dựa trên khung
lý thuyết về giao tiếp xã hội (social exchange theory – SET). CSR nội bộ
được xác định trong nghiên cứu này bao gồm 5 thành tố: sức khỏe và an toàn
nghề nghiệp, nhân quyền, đào tạo và huấn luyện, cân bằng công việc – cuộc
sống, sự đa dạng tại nơi làm việc.
Kết quả khảo sát hơn 300 nhân viên làm việc trong lĩnh vực ngân hàng
tại Jordan đã cho thấy tất cả các thành tố của CSR nội bộ đều có tác động lớn
và tích cực đến sự cam kết về tình cảm và danh nghĩa. Như vậy, các hoạt động
CSR mà các ngân hàng thực hiện là có ảnh hưởng đến thái độ và sự cam kết
của nhân viên làm việc cho ngân hàng. Điều này có nghĩa là các nhà quản trị
cần chú trọng thực hiện tốt hơn nữa các hoạt động thể hiện CSR nội bộ như
nghiệp và thậm chí cả những bên liên quan chủ yếu khác của Doanh nghiệp.
Ngoài ra, nghiên cứu này cũng chỉ ra rằng ngày càng có nhiều nhân viên cho biết
họ muốn tham gia vào các hoạt động CSR của Ngân hàng. Đây là một thực tế
không chỉ ở những quốc gia phát triển mà thậm chí ở cả những nước đang phát
triển như Ấn Độ, Nam Phi và Trung Quốc.
Tziner và cộng sự (2011) nghiên cứu về mối quan hệ giữa CSR, sự
công bằng của tổ chức và sự hài lòng trong công việc. Kết quả nghiên
7
cứu đã cho thấy CSR có mối quan hệ tích cực đến sự công bằng của tổ
chức và sự hài lòng trong công việc.
1.1.2. Tình hình nghiên cứu ở trong nước:
Ở Việt Nam, vấn đề trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp (CSR) đã được
biết đến từ đầu những năm 90 của thế kỷ XX. Kể từ đó đến nay có rất nhiều bài
nghiên cứu về CSR. Tuy nhiên, những nghiên cứu về CSR chưa mang tính hệ
thống. Những nghiên cứu về CSR được công bố chính thức trên các tạp chí
chuyên ngành hay báo cáo của các tổ chức phi chính phủ, có một số bài viết về
CSR cũng được đăng tải trên các tạp chí điện tử, diễn đàn về CSR chưa được hệ
thống, và chắt lọc lại thành những bài học cho các doanh nghiệp làm tài liệu
tham khảo. Các bài viết chủ yếu hướng đến việc làm rõ phạm trù CSR và chỉ ra
những lợi ích của CSR đối với doanh nghiệp ở góc độ lý luận.
Những công trình nghiên cứu về CSR nội bộ và sự hài lòng của nhân
viên còn rất ít. Dưới đây là một số công trình nghiên cứu trong nước về CSR:
Nguyễn Đình Cung và Lưu Minh Đức trong bài viết “Trách nhiệm xã
hội của doanh nghiệp – CSR: một số vấn đề lý luận và yêu cầu đổi mới quản
lý nhà nước đối với CSR ở Việt Nam” cho rằng cần lưu ý đến một số bất cập
mà các doanh nghiệp Việt Nam đang gặp phải khi thực hiện CSR đó là: Thứ
nhất là đảm bảo tăng trưởng nhanh đi kèm với tính bền vững của môi trường;
Thứ hai là nâng cao ý thức bảo vệ quyền lợi cộng đồng và quyền lợi cá nhân;
Chí Minh. Trong nghiên cứu này, tác giả đã áp dụng mô hình CSR của Turker
(2009) để kiểm chứng mối quan hệ của 4 thành tố CSR đến sự hài lòng của
nhân viên gồm: trách nhiệm đối với nhân viên, trách nhiệm đối với khách
hàng, trách nhiệm đối với chính phủ, trách nhiệm đối với xã hội và các đối
tượng hữu quan khác. Kết quả nghiên cứu đã cho thấy nhận thức của nhân
viên về các hoạt động CSR đều có tác động tích cực (dương) đến sự hài lòng
của họ, trong đó thành tố trách nhiệm đối với xã hội có tác động mạnh mẽ
nhất đến sự hài lòng của nhân viên.
9
Ngô Vân Hoài (2011) trong “Nghiên cứu chính sách trách nhiệm xã
hội doanh nghiệp ở Việt Nam” chỉ ra rằng bên cạnh nỗ lực của doanh nghiệp
trong việc thực hiện trách nhiệm xã hội thì vai trò của nhà nước, của các cơ
quan truyền thông là rất quan trọng, có ảnh hưởng lớn đến chiến lược thực
hiện CSR.
Nguyễn Phương Mai (2011) nghiên cứu về thực tiễn thực hiện CSR tại
Công ty cổ phần may Đáp Cầu, từ đó chỉ ra rằng có sự khác biệt trong nhận thức
về CSR của nhóm người lao động với nhóm nhà quản trị. Tác giả cũng chỉ ra
rằng Công ty may Đáp Cầu đang thực hiện khá tốt các hoạt động CSR từ kết quả
khảo sát thực hiện tại công ty này.
Bên cạnh đó, Nguyễn Phương Mai (2014) cũng chỉ ra trong một nghiên
cứu khác về CSR là có mối quan hệ thuận chiều giữa việc thực hiện CSR nội
bộ với sự hài lòng trong công việc của người lao động.
Trần Thị Hoàng Yến (2016) trong “Nghiên cứu tác động trách nhiệm
xã hội của doanh nghiệp đến kết quả tài chính tại các Ngân hàng thương mại
Việt Nam” cho thấy sự ảnh hưởng tích cực tại các ngân hàng có hoạt động
thực hiện trách nhiệm xã hội tốt. Nghiên cứu này giúp các nhà nghiên cứu,
nhà hoạch định, các giám đốc điều hành ngân hàng trong quá trình xây dựng,
hoạch định và thực thi chiến lược và trách nhiệm xã hội, hướng đến mục tiêu
yêu cầu pháp lí, kinh tế, công nghệ”, với khái niệm này ông đã phát triển mô
hình với 5 đề xuất, mô tả lý do, cách thức và nghĩa vụ mà doanh nghiệp phải
tuân thủ để có các hành động bảo vệ và cải thiện sự phồn thịnh của xã hội
cũng như của doanh nghiệp. Tuy nhiên mô hình này còn khá mô hồ làm cho
các doanh nghiệp khó thực hiện.
Theo Sethi (1975), “trách nhiệm xã hội hàm ý nâng hành vi của doanh
nghiệp lên một mức phù hợp với các quy phạm, giá trị và kỳ vọng xã hội đang
11
phổ biến”( Sethi S., 1975, pp. 58-64). Còn Carroll (1979) sau khi chỉ ra vai
trò chủ yếu của mọi doanh nghiệp là tạo ra lợi nhuận bằng cách bán sản phẩm
và dịch vụ cho xã hội khẳng định “Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp bao
gồm sự mong đợi của xã hội về kinh tế, luật pháp, đạo đức và lòng từ thiện
đối với các tổ chức tại một thời điểm nhất định” (Sethi S., 1975, pp. 58-64).
Quan điểm của Carroll về CSR thể hiện cụ thể trong mô hình sau.
Hình 1.1: Mô hình kim tự tháp về CSR
(Nguồn: Carroll, 1979)
Theo mô hình của Carroll, CSR thể hiện ở các khía cạnh sau:
Thứ nhất, trách nhiệm kinh tế, thể hiện qua hiệu quả và tăng trưởng, là
điều kiện tiên quyết bởi doanh nghiệp được thành lập trước hết từ động cơ tìm
kiếm lợi nhuận của doanh nhân. Hơn thế, doanh nghiệp là các tế bào kinh tế
căn bản của xã hội. Vì vậy, chức năng kinh doanh luôn phải được đặt lên hàng
đầu. Các trách nhiệm còn lại đều phải dựa trên ý thức trách nhiệm kinh tế của
doanh nghiệp.
Thứ hai, trách nhiệm tuân thủ pháp luật chính là một phần của bản
“khế ước” giữa doanh nghiệp và xã hội. Nhà nước có trách nhiệm “mã hóa”
các quy tắc xã hội, đạo đức vào văn bản luật, để doanh nghiệp theo đuổi mục
tiêu kinh tế trong khuôn khổ đó một cách công bằng và đáp ứng được các
13
chung là bên cạnh những lợi ích phát triển riêng của từng doanh nghiệp phù
hợp với pháp luật hiện hành thì đều phải gắn kết với lợi ích phát triển chung
của cộng đồng xã hội.
Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp phải gắn liền với vấn đề phát triển
bền vững - một yêu cầu khách quan cấp thiết có tính toàn cầu của sự phát triển
hiện nay. Khi cạnh tranh thương trường ngày càng khốc liệt, những yêu cầu, đòi
hỏi từ khách hàng ngày càng cao và xã hội do đó có cái nhìn ngày càng khắt khe
hơn đối với doanh nghiệp về bổn phận, trách nhiệm trước cộng đồng, xã hội thì
các doanh nghiệp muốn phát triển bền vững phải luôn tuân thủ không chỉ những
chuẩn mực về bảo đảm sản xuất - kinh doanh phải có lợi nhuận, thậm chí siêu lợi
nhuận mà cả những chuẩn mực về bảo vệ môi trường thiên nhiên, môi trường
lao động, về thực hiện bình đẳng giới, an toàn lao động, quyền lợi lao động,
quyền lợi đào tạo và phát triển của nhân viên, góp phần phát triển cộng đồng,
bao hàm cả các hoạt động thực hiện an sinh xã hội như nhân đạo, từ thiện…
Nhìn chung, nội hàm của CSR bao gồm nhiều khía cạnh liên quan đến
ứng xử của doanh nghiệp đối với các chủ thể và đối tượng có liên quan trong
quá trình hoạt động của doanh nghiệp, từ người sản xuất, tiếp thị, tiêu dùng
đến các nhà cung ứng nguyên liệu, vật liệu tại chỗ, từ đội ngũ cán bộ, nhân
viên cho đến các cổ đông của doanh nghiệp, trong đó, có cả trách nhiệm về
bảo vệ tài nguyên, môi trường mà thực chất cũng là có trách nhiệm chung với
lợi ích cộng đồng xã hội, bao gồm cả những hoạt động nhân đạo, từ thiện,
hoạt động đóng góp cho sự phát triển chung của đất nước.
1.2.2. Sự cần thiết phải thực hiện CSR
1.2.2.1. Lợi ích đối với doanh nghiệp
Cho đến ngày nay, việc ủng hộ thực hiện CSR vẫn còn nhiều ý kiến trái
chiều nhưng không thể phủ nhận rằng ngày càng có nhiều doanh nghiệp quan
tâm và thực hiện CSR.
15
Có thể thấy, mối đe doạ về hình ảnh không đẹp đối với cộng đồng và doanh số
bán hàng giảm sút là động lực chủ yếu để các doanh nghiệp xem xét đến các
tác động của các hoạt động của mình. Khi áp dụng và duy trì CSR, các doanh
nghiệp có thể nhận được sự ủng hộ của khách hàng, qua đó doanh nghiệp ngày
càng phát triển và mở rộng (Rachel Murphy, 2010).
Gần đây, số lượng các doanh nghiệp trên toàn thế giới nhận ra lợi ích
kinh tế của các chính sách và biện pháp CSR đang ngày một tăng. Khi các thị
trường lớn trên thế giới ngày càng khó tính hơn, khi người tiêu dùng trở nên
“thông thái hơn”, sản phẩm không chỉ được yêu cầu đảm bảo về chất lượng
mà còn đòi hỏi "sạch hơn".
Như vậy, việc thực thi CSR tốt đem lại nhiều lợi ích cho doanh nghiệp như:
- Nâng cao hình ảnh của doanh nghiệp, tạo niềm tin cho các bên có
liên quan về CSR;
- Giảm chi phí quản lý và các yêu cầu xã hội khác nhau;
- Nâng cao cơ hội đạt được lợi thế cạnh tranh, thu hút nhiều khách
hàng hơn
- Giúp các doanh nghiệp chủ động hơn trong việc xâm nhập vào các
thị trường mới có yêu cầu cao về CSR;
- Chiếm được vị thế tốt hơn trong thị trường lao động và thể hiện cam
kết rõ ràng về các chuẩn mực và xã hội giúp cho doanh nghiệp dễ dàng thu
hút được nhân viên tốt, có kỹ năng và trình độ chuyên môn cao.
- Gia tăng lòng trung thành và cam kết của người lao động đối với
doanh nghiệp;
- Tăng năng suất lao động, tối ưu hóa hiệu quả quản lý của doanh nghiệp
- Tạo được mối quan hệ tốt hơn với khách hàng và có được khách
hàng trung thành với doanh nghiệp.
Lợi ích mà CSR đem lại cho doanh nghiệp là không thể phủ nhận,