1
Luận văn
TÌNH HÌNH HOẠT ĐỘNG
CỦA NGÂN HÀNG
THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN
QUỐC TẾ VIỆT NAM
2
BÁO CÁO TỔNG HỢP
1. TỔNG QUAN VỀ NGÂN HÀNG CỔ PHẦN THƯƠNG MẠI QUỐC TẾ
VIỆT NAM
1.1. Lịch sử hình thành
Ngân hàng thương mại cổ phần Quốc tế Việt nam - Tên giao dịch đối
ngoại: Vietnam Interntional Commercial Joint Stock bank (VIB) được thành
lập và đi vào hoạt động ngày 18/09/1996. Trong cơ cấu cổ dodong có sự
tham gia góp vốn của 02 Ngân hàng quốc doanh là Ngân hàng Ngoại thương
Việt Nam và Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam. Từ
khi thành lập đến hết năm 1997 VIB tập trung xây dựng các điều kiện cho
hoạt động của Ngân hàng.
Đến cuối năm 2000, VIB đạt được một số thành tựu đáng khích lệ:
Liên tục ba năm liền (1998 - 2000) VIB được ngân hàng Nhà nước xếp
loại A theo các tiêu chí đánh giá do Thông đốc Ngân hàng Nhà nước việt
nam Ban hành, quản lý tài sản, khả năng thanh toán, lợi nhuận và năng lực
quản lý điều hành.
- Cho vay tiêu dùng
1.2.3.Chuyển tiền và thanh toán trong nước.
1.2.4.Dịch vụ chi trả kiều hối.
1.2.5.Dịch vụ thanh toán quốc tế và ngoại hối.
VIB thực hiện thanh toán quốc tế cho khách hàng thông qua các hình thức
nhu:
- Mở, thông báo, xác nhận và thanh toán L/C
- Nhờ thu D/A,D/P
- Chuyển tiền bằng điện(TT)
- Mua bán ngoại tệ
4
- Thanh toán thẻ VISA CARD và MASTER CARD
1.2.6.Dịch vụ ngân quỹ
VIB nhận thực hiện các nhiệm vụ như: kiểm, đếm tiền, đổi tiền, ngân phiếu;
cất giữ hộ tài sản; thu chi tiền mặt tại địa chỉ theo yêu cầu của khách hàng
1.2.7.Dịch vụ bảo lãnh, tư vấn đầu tư và quản lí tài chính.
VIB nhận thực hiện các loại hình bảo lãnh, tư vấn đầu tư và quản lí tài chính
theo yêu cầu của khách hàng:
- Bảo lãnh thực hiện hợp đồng
- Bảo lãnh vay vốn
- Bảo lãnh thanh toán
- Bảo lãnh dự thầu
- Bảo lãnh chất lượng sản phẩm
- Bảo lãnh hoàn thanh toán
- Bảo lãnh đối ứng
- Xác nhận bảo lãnh
- Bảo lãnh hối phiếu, lệnh phiếu
- Bảo lãnh khác
1.2.8.Thực hiện hạch toán kinh doanh và phân phối thu nhập theo quy định
dụng Phó giám đốc
phụ trách
thanh toán
quốc tế
Phó giám
đốc phụ
trách kế
toán ngân
quỹ
Nhiệm vụ cụ thể của các phòng ban như sau:
* Phòng kế toán- ngân quỹ:
- Trực tiếp hạch toán kế toán, hạch toán thống kê và hạch toán theo quy
định của NHNN và VIB.
- Xây dựng kế hoạch tài chính, quyết toán kế hoạch thu, chi tài chính.
- Quản lý và sử dụng các quỹ chuyên dùng theo quy định của VIB.
Giám đốc
Phòn
g kinh
doanh
- Quản lý, sử dụng thiết bị thông tin điện toán phục vụ kinh doanh.
- Chấp hành chế độ báo cáo và kiểm tra chuyên đề.
- Thực hiện các nhiệm vụ khác do giám đốc giao cho.
* Phòng kế hoạch kinh doanh:
- Nghiên cứu xây dựng chiến lược khách hàng, phân loại khách hàng, đề
xuất chính sách ưu đãi đối với tình loại khách hàng, mở rộng tín dụng
theo kế hoạch đã đề ra, lựa chọn biện pháp cho vay có hiệu quả và an
toàn.
- Thẩm định và đề xuất cho vay đối với các dự án tín dụng theo uỷ quyền,
thẩm định các dự án, hoàn thiện hồ sơ trình giám đốc ngân hàng theo
phân cấp.
- Tiếp nhận các chương trình, dự án thuộc nguồn vốn trong và ngoài
nước.Trực tiếp làm dịch vụ uỷ thác của Chính phủ, tổ chức và cá nhân.
- Xây dựng và thực hiện các mô hình thí điểm, theo dõi, đánh giá, tổng
kết, rút kinh nghiệm.
- Thường xuyên phân loại dư nợ, phân tích nợ quá hạn, tìm nguyên nhân
và có biện pháp đề xuất, giúp lãnh đạo kiểm tra đôn đốc hoạt động tín
dụng.
- Tổng hợp báo cáo, kiểm tra chuyên đề theo quy định và các nhiệm vụ
khác.
* Phòng tổ chức hành chính:
- Xây dựng chương trình công tác hàng tháng, hàng quý và thường xuyên
đôn đốc việc thực hiện các kế hoạch đã được giám đốc phê duyệt.
- Xây dựng và triển khai chương trình giao ban nội bộ chi nhánh, trực
tiếp làm thư kí tổng hợp cho giám đốc.
- Tư vấn trong việc thực hiện các nhiệm vụ cụ thể liên quan đến pháp lí,
tài sản, cán bộ ngân hàng.
- Lưu trữ các văn bản có liên quan đến ngân hàng và văn bản định chế
của Ngân hàng thương mại cổ phần quốc tế Việt Nam(VIB)
- Là đầu mối giao tiếp với khách hàng đến làm việc, trực tiếp quản lý con
- Giám đốc căn cứ vào báo cáo thẩm định, tái thẩm định do phòng tín
dụng trình, quyết định cho vay hoặc không cho vay và giao cho phòng
tín dụng:
- Nếu không cho vay thì cán bộ tín dụng thông báo cho khách hàng
biết.
- Nếu cho vay thì ngân hàng cùng với khách hàng lập hợp đồng tín
dụng, hợp đồng bảo đảm tiền vay( trong trường hợp cho vay có bảo
đảm bằng tài sản).
- Hồ sơ khoản vay được giám đốc ký duyệt cho vay được chuyển cho kế
toán thực hiện nghiệp vụ hạch toán kế toán, thanh toán hoặc chuyển quỹ
để giải ngân cho khách hàng.
- Sau khi thực hiện giải ngân, cán bộ tín dụng kiểm tra tình hình sử dụng
vốn vay.Nội dung kiểm tra bao gồm:
- Kiểm tra việc sử dụng vốn vay theo mục đích đã ghi trong hợp đồng tín
dụng.
- Kiểm tra kết quả thực hiện dự án, phương án.
8
- Kiểm tra hiện trạng tài sản bảo đảm.
- Thời gian thẩm định cho vay:
- Các dự án trong quyền phán quyết: trong thời gian không quá 10
ngày làm việc đối với các khoản vay ngắn hạn và không quá 45 ngày
đối với các khoản vay trung và dài hạn kể từ khi ngân hàng nhận
được đầy đủ hồ sơ vay vốn hợp lệ và thông tin cần thiết của khách
hàng theo yêu cầu của ngân hàng, ngân hàng phải quyết định và
thông báo việc cho vay hoặc không cho vay đối với khách hàng.
- Các dự án vượt quyền phán quyết: trong thời gian không quá 05
ngày làm việc đối với các khoản vay ngắn hạn và không quá 20 ngày
làm việc đối với các khoản vay trung và dài hạn kể từ khi ngân
hàng nhận được đầy đủ hồ sơ vay vốn hợp lệ và thông tin cần thiết
ngang bằng hoặc thậm chí thấp hơn lãi suất cơ bản, khiến cho mặt bằng
lãi suất cho vay trên thị trường bị duy trì liên tục ở mức thấp, trong khi
lãi suất huy động VND trên thị trường không giảm.
Đối với USD, trong năm 2001 Cục dự trữ liên bang Mỹ(FED) đã 11 lần
hạ lãi suất( từ 6,5%/năm xuống còn 1,75%/năm) do đó làm lãi suất huy
động và cho vay đối với USD liên tục giảm, trong khi nguồn vốn huy
động với lãi suất cao trước đó chưa được sử dụng đã ảnh hưởng lớn đến
thu nhập của các ngân hàng thương mại, đặc biệt là các ngân hàng
thương mại cổ phần.
- Về tỷ giá: Một mặt do chính sách kích cầu tín dụng của Ngân hàng Nhà
nước, mặt khác USD tăng giá so với hầu hết các đồng tiền khác nên
đồng VND bị mất giá khoảng 4% so với USD. Ngoài ra yếu tố tâm lý
“sùng bái” đồng USD trong dân cư cũng góp phần đẩy tỷ giá lên cao.
2.1.3.Tình hình nội bộ của VIB.
2.1.3.1.Tồn tại
Từ khi thành lập, VIB chưa xác định rõ tôn chỉ, mục tiêu chiến lược phát triển
ngay từ đầu, vì vậy chưa xây dựng được mô hình tổ chức, bộ máy quản lý phù
hợp nên chưa phân định rõ, tách bạch được chức năng quản lý, điều hành và
chức năng kinh doanh, vai trò kiểm soát rủi ro chưa được coi trọng đúng mức;
chưa định hướng đối tượng khách hàng và mạng lưới giao dịch nên hoạt động
kinh doanh còn chạy theo các chỉ tiêu mang tính chất ngắn hạn; các dịch vụ
chưa đa dạng, chất lượng dịch vụ chưa đủ sức đáp ứng yêu cầu của khách
hàng trong môi trường cạnh tranh của nền kinh tế thị trường.
- Vốn điều lệ nhỏ ( mới đạt 76 tỷ VND), được xếp vào một trong những
ngân hàng cổ phần đô thị có vốn nhỏ(bằng 10-20% so với các ngân
hàng thương mại cổ phần trong khu vực).Vì vậy tỷ lệ an toàn trong huy
động vốn thấp, hạn chế việc mở rộng đầu tư cho các doanh nghiệp lớn(
giới hạn đầu tư không được vượt quá 15% vốn tự có).
- Hiệu quả hoạt động còn thấp: ROE = 11% (thấp hơn so với NHTMCP
Đông Á , NHTMCP ACB, NHTMCP Quân đội ); ROA = 0,7%/năm;
những thách thức vô cùng to lớn, tuy nhiên với sự quyết tâm của cán bộ nhân
viên và lãnh đạo toàn ngân hàng, Ngân hàng thương mại cổ phần quốc tế Việt
Nam (VIB) đã đạt được những kết quả nhất định như sau:
11
BẢNG CÂN ĐỐI KẾ TOÁN
Ngày 31 tháng 12 năm 2001
Chỉ tiêu
Thuyết
minh
2001 2000
Tài sản
Tiền mặt và tài khoản
tiền gửi tại NHNN
1 24,368,933,995
49,117,106,990
Tiền gửi tại các tổ chức
tín dụng
Tổng 1,278,127,942,134
1,241,182,088,962
Nợ phải trả và vốn cổ đông
Nợ phải trả
Tiền gửi của các TCTD 10 358,211,542,124
339,288,526,551
Đồng tài trợ và uỷ thác 11 93,458,760,816
107,831,410,247
Tiền gửi của khách
hàng
12 645,797,291,353
653,554,098,464
Các khoản phải trả khác
87,228,718,871
44,948,477,90312
Thuế 3,072,862,008
Tổng nợ phải trả và vốn
cổ đông
1,276,127,942,134
1,241,182,088,962
(Nguồn: Tài liệu Đại hội đồng cổ đông lần thứ VI)
2.2.Tình hình hoạt động kinh doanh.
Như vậy là qua báo cáo tài chính của Ngân hàng thương mại cổ phần quốc tế
Việt Nam (VIB) chúng ta có thể rút ra một số nhận xét về tình hình hoạt động
của VIB, cụ thể như sau:
2.2.1.Về nguồn vốn
Để xem xét tình hình biến động nguồn vốn của VIB, trước hết ta cần xem xét
sự biến động của nguồn vốn qua các thời kì, căn cứ vào bảng số liệu sau đây:
Tình hình huy động vốn qua các thời điểm
(Đơn vị:Tỷ VND)
Chỉ tiêu 31/12/1999
31/12/2000
31/12/2001
So với năm
1999 2000
Tiền gửi
tiết kiệm
196,3 456,6 484,6 246,8% 106,1%
- Mở rộng mạng lưới hoạt động để từng bước chiếm lĩnh thị phần kinh
doanh song song với việc nâng cao chất lượng phục vụ khách hàng
2.2.2.Hoạt động tín dụng
Sử dụng vốn là khâu cuối cùng, quyết định hiệu quả hoạt động của một ngân
hàng, nhận thức được điều này, trong những năm vừa qua Ngân hàng cổ phần
thương mại quốc tế Việt Nam(VIB) đã có những chỉ đạo và điều chỉnh kịp
thời, góp phần từng bước nâng cao chất lượng tín dụng, biểu hiện cụ thể qua
bảng sau:
Tình hình sử dụng vốn qua các thời điểm
(Đơn vị:Tỷ VND) Chỉ tiêu 31/12/1999
31/12/2000
31/12/2001
So với các năm
1999 2000
Tổng dư
nợ
482,6 1241,2 1276,1 264,4% 102,8%
Doanh số 233,1 506,2 621,5 266,6% 122,7%
14
cho vay
(Nguồn: Tài liệu Đại hội đồng cổ đông lần thứ VI)
- 0,8% + 0,13%
(Nguồn: Tài liệu Đại hội đồng cổ đông lần thứ VI) Nợ quá hạn toàn hệ thống VIB tại thời điểm 31/12/2001 là 7,1 tỷ đồng( kể cả
nợ chờ xử lý) chiếm 1,1% tổng dư nợ.Trong đó nợ quá hạn tại hội sở là 4,0 tỷ
đồng, tại chi nhánh Tp Hồ CHí Minh là 3,1 tỷ đồng.Tại hội sở đã có những
biện pháp tích cực nhằm thu hồi nợ quá hạn, nợ khó đòi, những khoản khê
đọng tại hội sở từ hơn 2 năm tính đến 31/12/2001 đã giảm từ 1727,8 triệu
đồng đầu năm xuống còn 645 triệu đồng.
Nhận xét về hoạt động tín dụng:
- Nhìn chung chất lượng tín dụng của VIB tăng trưởng chậm, số khách
hàng mang tính ổn định và truyền thống không nhiều.Dư nợ tại hội sở
tăng trưởng mạnh vào cuối năm, chủ yếu là cho vay đối với các doanh
nghiệp có nhu cầu về vốn kinh doanh theo thời vụ cuối năm.
- Số lượng cán bộ tín dụng tại hội sở còn thiếu đã hạn chế đến việc phát
triển khách hàng.
- Sản phẩm dịch vụ chưa đa dạng nên chưa khai thác được tiềm năng của
thị trường, đặc biệt là mảng thị trường phù hợp với các NHTMCP.
- Tại chi nhánh, việc thẩm định và trình duyệt hồ sơ vay vốn còn sơ
sài.Thủ tục thiết lập tài sản đảm không đúng theo quy định.Việc cho
vaytín chấp đối với cán bộ nhân viên khi chưa có quy định của VIB,
mức cho vay và thời hạn thiếu hợp lý.Cán bộ tín dụng hoặc chưa tôn
15
trọng đúng mức các nguyên tắc về cho vay hoặc năng lực còn hạn chế.
Vì vậy, dẫn đến chất lượng tín dụng không cao, số nợ có khả năng
chuyển thành nợ quá hạn lớn.Để giải quyết những tồn đọng trước đây,
dụng linh hoạt để vay ại đồng VND với lãi suất hợp lý để tăng dư nợ cho vay
bằng đồng VND và cho vay lại trên thị trường liên ngân hàng, đồng thời nâng
cao khả năng thanh toán và uy tín của VIB.Số dư tiền gửi tại các tổ chức tín
dụng khác tính đến ngày 31/12/2001 đã tăng 17%(75,2 tỷ đồng) so với thời
điểm 31/12/2000, mặc dù những xáo động về nhân sự có tác động đến mối
quan hệ trên thị trường liên ngân hàng.
2.2.4.Hoạt động đầu tư liên doanh liên kết.
Tổng số vốn góp cổ phần, liên doanh liên kết tính đến ngày 31/12/2001 là 4,7
tỷ đồng, ngoài phần góp vốn với ngân hàng cổ phần Gia Định, công ty Itraco
16
do chuyển nhượng từ ngân hàng Mêkông sang hoạt động chưa có lãi, thu nhập
cổ tức đạt 622,4 triệu đồng năm 2001, thu 4,5 tỷ đồng tiền lãi do chênh lệch
mệnh giá từ việc bán cổ phiếu của SACOM.
17
2.2.5.Hoạt động dịch vụ và kinh doanh ngoại tệ.
Trong năm 2001 đã mở 316 L/C với giá trị 28,3 triệu USD(tăng 6,3%) so với
năm 2000, doanh số thanh toán L/C đạt 20,2 triệu USD.Doanh số chuyển tiền
và nhờ thu đạt 18,8 triệu USD, giảm 26,5% so với năm 2000.
- Tổng thu từ dịch vụ đạt 2,3 tỷ đồng, tăng 51,1% so với năm 2000.
- Doanh số mua bán ngoại tệ đạt 111,5 triệu USD, trong đó doanh số mua
là 55,7 triệu USD, doanh số bán đạt 55,8 triệu.
- Lãi thuần từ hoạt động kinh doanh ngoại tệ đạt 1559 triệu đồng(giảm
23,4%) so với cùng kì năm 2000.
Nguyên nhân làm giảm số lượng thanh toán quốc tế và kinh doanh ngoại tệ
một phần là do những hạn chế trong việc nhập khẩu xe máy, mặt khác một số
khách hàng có tiềm năng về thanh toán quốc tế ở Tp Hồ Chí Minh có xu
hướng giảm giao dịch vào các tháng cuối năm do có những biến động về nhân
sự.
- Về phần cứng: Ngoài việc đầu tư thêm 01 máy chủ, nâng cấp phần cứng
máy chủ cũ, số lượng máy vẫn chưa đủ đáp ứng nhu cầu sử dụng ngày
càng tăng(kế hoạch mua sắm trang thiết bị năm 2001 đã không thực
hiện được do yếu tố mặt bằng làm việc tại hội sở quá chật hẹp).
2.2.8.Công tác tổ chức, nhân sự và đào tạo.
Năm 2001, ngân hàng đã tổ chức 2 đợt tuyển dụng, tuy nhiên do điều kiện trụ
sở chật chội nên tuyển dụng chính thức bị hạn chế.Các phòng ban đều không
đủ số lượng nhân viên cần thiết để đáp ứng yêu cầu của công việc.
Trong thời gian từ tháng 8 đến cuối năm, sau khi có sự thay đổi Chủ tịch
HĐQT, một số vị trí lãnh đạo quan trọng cũng thay đổi đã ảnh hưởng tới tâm
lý của nhiều cán bộ nhân viên.Tổng số nhân viên xin chuyển là 14 người,
HĐQT đã kịp thời bổ sung các vị trí lãnh đạo chủ chốt, tuyển dụng thêm một
số cán bộ nhân viên từ nơi khác về để bổ sung vào các vị trí lãnh đạo cần thiết,
để nhanh chóng ổn định hoạt động.
Đến ngày 31/12/2001, tổng số cán bộ nhân viên toàn hệ thống, kể cả số mới
tiếp nhận tính đến thời điểm 31/12/2001 là 93 người(ít hơn 16 so với biên chế
đã được Đại hội cổ đông phê duyệt).Trong đó có 64 người làm việc tại hội sở,
29 người làm việc tại chi nhánh.
Về công tác đào tạo cán bộ: Với sự trợ giúp của các tổ chức quốc tế, ngân
hàng đã cử nhiều đợt cán bộ theo học các lớp tập huấn ngắn hạn các chuyên
ngành: Quản lý tài chính, quản lý rủi ro, thẩm định dự án đầu tư, tín dụng, thị
trường chứng khoán, Được sự đồng ý của HĐQT và thống đốc NHNNVN,
VIB đã tham gia góp vốn vào Trung tâm đào tạo về ngân hàng(BTC) dưới sự
bảo trợ của của Chương trình phát triển dự án Mêkông(MFDP) thuộc
WB.Ngay trong năm 2001, một số cán bộ của ngân hàng đã được cử theo học
các khoá huấn luyện do Trung tâm đào tạo ngân hàng(BTC) tổ chức tại Tp Hồ
Chí Minh.
2.2.9.Công tác kiểm tra - kiểm toán:
Năm 2001, mặc dù số lượng nhân sự thực hiện công tác kiểm tra, kiểm toán
còn thiếu, lại thường xuyên có sự thay đổi, nhưng hoạt động kiểm tra, kiểm
Thu nhập lãi thuần 8,793,765,207
14,649,883,008
Thu từ phí và dịch vụ 16 2,320,520,992
1,535,468,621
Chi trả phí và dịch vụ -1,527,484,364
-1,112,946,182
Lãi thuần từ kinh doanh
ngoại tệ
1,558,905,813
2,036,682,938
Thu nhập từ tham gia thị
trường tiền tệ
17 12,689,361,951
11,874,684,330
Thu nhập từ hoạt động đầu
tư-liên doanh
18 622,400,000
474,748,119
2,600,000,000
Thu nhập bất thường 21 -370,001,156
-1,826,000
Lợi nhuận trước thuế 10,225,093,774
17,088,281,248
Thuế TNDN 22 3,072,862,008
5,316,330,601
Lợi nhuận thuần 7,150,231,768
11,771,950,647
Báo cáo lợi nhuận để lại
Lợi nhuận để lại đầu năm
tài chính
648,762,240
0
Điều chỉnh giai đoạn trước
0
động của VIB trong năm tài chính 2001 như sau: Năm 2001 VIB đã không
hoàn thành kế hoạch đặt ra về lợi nhuận.Lợi nhuận trước thuế đến tính đến
thời điểm 31/12/2001 đạt 10,2 tỷ đồng( hội sở là 4,5 tỷ; chi nhánh là 5,7 tỷ
đồng). So với thời điểm 31/12/2000 thì tổng thu nhập tăng 50%, tổng chi phí
tăng 80%, kết quả kinh doanh giảm 40%.Có thể tóm tắt một số nguyên nhân
chính như sau:
- Rủi ro thị trường: Nếu năm 2000 lãi suất huy động có xu hướng tăng
lên, đặc biệt là vào dịp cuối năm, trong khi đó VIB đã huy động một số
lượng vốn lớn mà chưa có phương án sử dụng phù hợp nên phải gửi
trên thị trường liên ngân hàng( khoảng 19 triệu USD).Đến năm 2001,
Cục dự trữ liên bang Mỹ(FED) đã liên tục hạ lãi suất tới 11 lần( từ 6,5%
xuống 1,75%) nên số USD gửi trên thị trường liên ngân hàng phải chịu
một khoản lỗ khá lớn.
- Trích dự phòng cho các khoản nợ quá hạn, có khả năng thu hồi được
2,968 tỷ đồng và việc xử lý tài sản của công ty Đông Đô chỉ thu được
50% giá trị gán nợ nên VIB buộc phải chấp nhận hạch toán vào chi phí
số lỗ 600 triệu đồng.
- Các khoản huy động tiết kiệm dài hạn từ các năm trước, do chế độ hạch
toán thực thu, thực chi trước đây chưa phân bổ vào chi phí của năm
2000.Vì vậy đến năm 2001 đã phải trích vào chi phí khoảng 6,7 tỷ
đồng(284177 USD và 2,5 tỷ đồng).
- Chênh lệch lãi phải trả trong quan hệ vốn với các tổ chức tín dụng trong
năm 2000 nhưng phải trích vào năm 2001 khoảng 500 triệu đồng(chi trả
lãi năm 2000 phải trả vào năm 2001 là 1,6 tỷ đồng nhưng số lãi thu
được trong năm 2001 chỉ là 1,1 tỷ đồng).
- Chênh lệch lãi đầu tư vào chứng từ có giá làm giảm thu nhập của năm
2001 là 2,5 tỷ đồng.
Như vậy số tiền lãi của năm 2001 bị giảm do đã hạch toán thu vào năm 2000
khoảng 10 tỷ đồng, tuy nhiên do bán cổ phiếu SACOM, nguồn thu đã được bổ
sung 4,5 tỷ đồng, các khoản thu nhập bất thường do bán tài sản đã được xử lý
gia một cách bình đẳng hơn(việc này cũng đồng nghĩa với với sự cảnh
báo về mức độ cạnh tranh gay gắt, quyết liệt hơn) của các ngân hàng
trong nước và ngoài nước trên thị trường nhận tiền gửi bằng ngoại tệ và
22
cho vay đồng Việt Nam đối với mọi doanh nghiệp và cá nhân tại Việt
Nam.
- Chương trình cải cách Hệ thống ngân hàng thương mại Việt Nam của
Chính phủ nhằm đạt được mục tiêu lành mạnh hoá tài chính, tăng quy
mô vốn, nâng cao khả năng cạnh tranh đồng thời xây cơ cấu tổ chức
hoạt động, giám sát và quản lý Ngân hàng thương mại theo tiêu chuẩn
quốc tế.
+ Để đạt được mục tiêu đó, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam đã đặt
ra yêu cầu: tăng vốn điều lệ, cơ cấu lại vốn chủ sở hữu nhằm tăng
quy mô, độ an toàn trong hoạt động; tái cơ cấu tổ chức và tăng
cường chuẩn mực quản lý, đặc biệt là các bộ phận chức năng quản
lý rủi ro, quản lý tài sản Nợ-Có và chất lượng tín dụng, giám sát và
kiểm toán nội bộ, quản lý vốn đầu tư.
+ Cương quyết giải thể các ngân hàng yếu kém(không tăng được
đủ mức vốn theo quy định, trình độ quản trị và điều hành không
đảm bảo yêu cầu an toàn và phát triển, chất lượng tín dụng và khả
năng sinh lời thấp, kinh doanh thua lỗ, nợ quá hạn lớn tồn đọng
kéo dài dẫn đến mất khả năng thanh toán).Số lượng các NHTMCP
sẽ giảm xuống chỉ còn một nửa(25 NHTMCP) so với hiện nay.
- Các Ngân hàng thương mại quốc doanh được Chính phủ cấp vốn bổ
sung và cho phép tiến hành các đề án đổi mới cơ cấu tổ chức và tăng
cường đầu tư cho công nghệ nhằm đa dạng hoá các sản phẩm, dịch vụ,
tiện ích phục vụ khách hàng.Một số ngân hàng cổ phần đã thuê chuyên
gia nước ngoài tư vấn xây dựng chiến lược, thực hiện tái cơ cấu về tổ
chức, cải tiến cơ chế quản lý và quy trình nghiệp vụ nhằm nâng cao
điểm khác của đất nước.
24
3.2.2.Phương án hoạt động
3.2.2.1.Tăng vốn cổ phần, cơ cấu lại vốn chủ sở hữu nhằm tăng thêm quy
mô hoạt động, tiềm lực tài chính và khả năng cạnh tranh thị trường.
Với các giải pháp nhằm nâng cao năng lực quản trị điều hành của các ngân
hàng thương mại, Ngân hàng Nhà nước sẽ từng bước sắp xếp (hợp nhất, sát
nhập) các Ngân hàng thương mại cổ phần có mức vốn tự có thấp, hoạt động
kém hiệu quả để hình thành các ngân hàng thương mại cổ phần có tầm vóc lớn
hơn, đủ sức cạnh tranh trong quá trình hội nhập.Vốn tự có vì vậy trở thành
một trong những điều kiện tiên quyết cho sự tồn tại và phát triển trong bối
cảnh sự cạnh tranh giữa các ngân hàng ngày càng trở nên gay gắt, do đó kế
hoạch tăng vốn cổ phần cần thực hiện theo lộ trình sau:
- Năm 2002 đạt 100 tỷ đồng
- Năm 2003 đạt 125 tỷ đồng
- Năm 2004 đạt 150 tỷ đồng
3.2.2.2.Tăng nguồn vốn huy động
- Tổng nguồn của VIB đến cuối năm 2004 phấn đấu đạt 2000 tỷ đồng,
tăng 57% so với cuối năm 2001.Vốn hoạt động chủ yếu huy động từ các
nguồn sau:
- Nguồn vốn từ các tổ chức kinh tế: Đây là nguồn vốn có lãi suất hợp lý,
đặc biệt là nguồn vốn trong thanh toán.Nguồn vốn này tăng lên không
những đem lại hiệu quả về mặt kinh tế mà còn thể hiện sự tín nhiệm của
khách hàng đối với VIB.Phấn đấu nguồn vốn này tăng dần vào các năm
sau với tỷ trọng tối thiểu 30% nguồn tiền gửi khách hàng vào năm 2004.
- Nguồn vốn từ dân cư: Nguồn vốn từ dân cư thường có lãi suất cao hơn,
tuy nhiên đây là nguồn vốn ổn định và quan trọng đối với các ngân
hàng thương mại, đặc biệt là đối với các NHTMCP. Vì vậy cần tập