(Luận văn thạc sĩ) Hoàn thiện công tác quản lý chi Ngân sách Nhà nước ở huyện Núi Thành, tỉnh Quảng Nam - Pdf 61

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

NGUYỄN VIẾT LIỆU

HOÀN THIỆN CÔNG TÁC
QUẢN LÝ CHI NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC
Ở HUYỆN NÚI THÀNH, TỈNH QUẢNG NAM

LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ KINH TẾ

Hà Nội – Năm 2019


VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

NGUYỄN VIẾT LIỆU

HOÀN THIỆN CÔNG TÁC
QUẢN LÝ CHI NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC
Ở HUYỆN NÚI THÀNH, TỈNH QUẢNG NAM

Chuyên ngành:

Quản lý kinh tế

Mã số:

834 04 10


Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi.
Các số liệu và kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được
công bố trong bất kỳ công trình nào khác.
Tác giả

Nguyễn Viết Liệu


MỤC LỤC

MỞ ĐẦU .................................................................................................................... 1
CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ CHI NGÂN SÁCH NHÀ
NƯỚC CẤP HUYỆN ................................................................................................ 6
1.1. Khái quát về chi NSNN và quản lý chi NSNN cấp huyện................................... 6
1.2. Nội dung quản lý chi NSNN cấp huyện ............................................................. 10
1.3. Các nhân tố ảnh hưởng đến quản lý chi ngân sách nhà nước cấp huyện ........... 24
CHƯƠNG 2. THỰC TRẠNG CÔNG TÁC QUẢN LÝ CHI NGÂN SÁCH
HUYỆN NÚI THÀNH, TỈNH QUẢNG NAM...................................................... 28
2.1. Khái quát đặc điểm tự nhiên, kinh tế xã hội của huyện Núi Thành, tỉnh Quảng
Nam

...................................................................................................................... 28

2.2. Thực trạng chi NSNN huyện Núi Thành giai đoạn 2013 - 2017 ....................... 34
2.3. Thực trạng công tác quản lý chi NSNN huyện Núi Thành.................................. 38
2.4. Đánh giá chung công tác quản lý chi NSNN huyện Núi Thành ........................ 55
CHƯƠNG 3. ĐỊNH HƯỚNG, GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN CÔNG TÁC
QUẢN LÝ CHI NSNN HUYỆN NÚI THÀNH, TỈNH QUẢNG NAM ............. 59
3.1. Mục tiêu, định hướng phát triển kinh tế - xã hội của huyện Núi Thành đến năm
2025


Đầu tư phát triển

NS

Ngân sách

NSNN

Ngân sách Nhà nước

NSTƯ

Ngân sách trung ương

NSĐP

Ngân sách địa phương

HĐND

Hội đồng nhân dân

QLNN

Quản lý Nhà nước

UBND

Uỷ ban Nhân dân

37

Bảng 2.4

Dự toán chi đầu tư phát triển huyện Núi Thành giai đoạn

44

2013 - 2017
Bảng 2.5

Dự toán chi thường xuyên huyện Núi Thành 2013- 2017

45

Bảng 2.6

Tình hình kiểm soát, thanh toán vốn ĐTXDCB từ nguồn

47

NSNN cấp huyện qua KBNN giai đoạn 2013 - 2017
Bảng 2.7

Kết quả kiểm soát chi thường xuyên qua KBNN huyện Núi
Thành giai đoạn 2013 - 2017

49



kiện kinh tế, xã hội được cải thiện đáng kể, cuộc sống nhân dân ngày một khởi sắc,
diện mạo đất nước ngày một vững bước đi lên. Để đạt được những điều đó, Đảng và
Nhà nước đã có một chính sách phát triển đúng đắn, hợp lý gắn liền với thời cuộc.
Trong đó, phải kể tới quan điểm phát triển kinh tế vẫn dựa trên nội lực là chính đã
thu được nhiều thành tựu. Tạo dựng nền tài chính quốc gia vững mạnh, cơ chế tài
chính phù hợp, hai nhiệm vụ chiến lược là công nghiệp hóa và hiện đại hóa, thúc
đẩy nền kinh tế phát triển nhanh, bền vững; giữ vững an ninh tài chính quốc gia
trong phát triển và hội nhập.
Mang ý nghĩa là nguồn lực tài chính để phát triển, NSNN trong những năm
qua đã khẳng định vai trò của mình đối với toàn bộ nền kinh tế quốc dân. Vai trò
này xuất phát từ bản chất kinh tế của Ngân sách nhà nước, để đảm bảo cho hoạt
động của nhà nước trong các lĩnh vực chính trị, kinh tế, xã hội đòi hỏi phải có
những nguồn tài chính nhất định. Những nguồn tài chính này được hình thành từ
các khoản thu thuế và các khoản thu ngoài thuế. Đây là vai trò lịch sử của Ngân
sách nhà nước mà trong bất kỳ chế độ xã hội nào, cơ chế kinh tế nào ngân sách nhà
nước đều phải thực hiện.
Mặt khác, cấp huyện có vai trò cung cấp phương tiện vật chất cho sự tồn tại
và hoạt động của chính quyền huyện và cấp chính quyền cơ sở trực thuộc, đồng thời
là một công cụ để chính quyền huyện thực hiện quản lý toàn diện các hoạt động
kinh tế xã hội trên địa bàn huyện. Tuy nhiên, do NS huyện là một trung gian ở giữa
cấp tỉnh và cấp xã nên đôi khi huyện chưa thể hiện được vai trò của mình với kinh
tế địa phương. Do vậy, để chính quyền huyện thực chi có hiệu quả những nhiệm vụ
chính trị được giao, thực hiện tốt chiến lược phát triển kinh tế - xã hội trên địa bàn
thì cần có một NS huyện đủ mạnh và phù hợp là một đòi hỏi thiết thực, là một mục
tiêu phấn đấu đối với cấp huyện. Vì hơn bao giờ hết hoàn thiện công tác quản lý chi

1


huyện là một nhiệm vụ luôn được quan tâm.



của tác giả Phạm Văn Thành (2010). Luận văn đã trình bày được hệ thống lý luận
cơ bản về quản lý NSNN, nêu rõ thực trạng về quản lý NSNN tại tỉnh Bình Định,
đưa ra được những điểm mạnh và yếu của công tác thu tại đây, từ đó đề xuất các
giải pháp hoàn thiện quản lý NSNN tại tỉnh Bình Định.
- “Hoàn thiện quản lý chi quận Thanh Khê” luận văn thạc sỹ của tác giả Lê
Văn Hiếu. Luận văn dựa trên cơ sở lý luận cùng các phương pháp nghiên cứu
chuyên ngành kinh tế về quản lý chi NSNN và kết quả phân tích thực trạng chi trên
địa bàn quận Thanh Khê thành phố Đà Nẵng.
- “Hoàn thiện công tác quản lý chi NSNN huyện Krông Năng, tỉnh Đăk Lăk”
luận văn thạc sỹ của tác giả Nguyễn Thị Thu Thảo (2016). Luận văn dựa trên các cơ
sở lý luận về thu chi NSNN và kết quả phân tích thực trạng trên địa bàn huyện, đề
ra các giải pháp hoàn thiện công tác quản lý trên địa bàn huyện Krông Năng.
- “Quản lý NSNN trên địa bàn cấp huyện ở tỉnh Đắk Lắk” - luận văn thạc sỹ
của tác giả Lê Văn Nghĩa. Luận văn dựa trên các cơ sở lý luận về thu chi NSNN và
kết quả phân tích thực trạng trên địa bàn cấp huyện, đề ra các giải pháp hoàn thiện
công tác quản lý trên địa bàn huyện và từ đó khái quát mở rộng đối với các huyện
của tỉnh ĐắkLắk.
Ngoài ra, có rất nhiều các công trình nghiên cứu về đề tài hoàn thiện quản lý
chi NSNN nhưng hầu hết là nghiên cứu tổng quan NSNN hay nghiên cứu về việc
kiểm soát thanh toán vốn đầu tư, chi thường xuyên… Tuy nhiên, vẫn chưa có đề tài
nào nghiên cứu một cách đầy đủ, hệ thống hóa về hoàn thiện quản lý chi NSNN cấp
huyện và đưa ra một số chỉ tiêu đánh giá hiệu quả chi NSNN cấp huyện. Đặc biệt là
ở huyện Núi Thành, tỉnh Quảng Nam chưa có các công trình khoa học nghiên cứu
để đưa ra giải pháp hoàn thiện quản lý chi NSNN cấp huyện trên địa bàn. Vì vậy, đề
tài “Hoàn thiện quản lý chi NSNN ở huyện Núi Thành, tỉnh Quảng Nam” được coi
là công trình khoa học mới và không trùng lặp với các đề tài đã được công bố.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu

- Luận văn sử dụng các phương pháp cụ thể như sau: Phương pháp phân tích
thực chứng, phương pháp phân tích chuẩn tắc, phương pháp thống kê mô tả và
thống kê phân tích, phương pháp so sánh, các phương pháp khác…
- Nguồn dữ liệu sử dụng trong đề tài là dữ liệu thứ cấp được thu thập từ niên

4


giám thống kê, các tài liệu lưu trữ, các báo cáo do địa phương cung cấp, các sách
báo tạp chí...
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn
6.1. Ý nghĩa lý luận
Thời gian gần đây, các vấn đề liên quan đến quản lý chi ngân sách nhà nước
đã có nhiều công trình nghiên cứu của các nhà khoa học, các nhà quản lý kinh tế,
các bài viết trên báo, tạp chí của trung ương, địa phương hay thông tin phát thanh
trên các phương tiện truyền thông đại chúng. Trong công cuộc đổi mới toàn diện
nền kinh tế xã hội, quản lý kinh tế tài chính nói chung và quản lý NSNN nói riêng là
một công cụ vô cùng quan trọng của các cấp chính quyền Nhà nước trong việc điều
hành, quản lý nền kinh tế.
6.2. Ý nghĩa thực tiễn
Để góp phần tìm ra giải pháp hoàn thiện quản lý chi NSNN ở huyện Núi
Thành, tỉnh Quảng Nam, tác giả đã tìm ra những tồn tại, hạn chế của việc quản lý và
trên cơ sở đó đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện công tác quản lý chi tại địa
phương trong thời gian tới. Muốn tiếp tục hoàn thiện quản lý chi thì điều kiện trước
hết là phải thực hiện đổi mới một cách toàn diện và đồng bộ hệ thống tổ chức các cơ
quan hành chính, đơn vị sự nghiệp và xác định rõ chức năng, nhiệm vụ của mỗi cấp
chính quyền, đảm bảo tự chủ, tự chịu trách nhiệm của từng cấp chính quyền trong
quá trình lập, chấp hành và quyết toán huyện.
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu và kết luận, nội dung chính của luận văn được kết cấu

được tạo lập thông qua hoạt động thu của NSNN để đầu tư xây dựng hạ tầng Kinh
tế - xã hội, phát triển sản xuất để dự trữ vật tư hàng hóa, nhằm đảm bảo thực hiện
các mục tiêu ổn định và tăng trưởng của nền kinh tế. Hay chi ĐTPT là nhiệm vụ chi
của Ngân sách nhà nước, gồm chi đầu tư xây dựng cơ bản và một số nhiệm vụ chi
đầu tư khác theo quy định của pháp luật.
Chi thường xuyên: Là những khoản chi không có trong khu vực đầu tư và có
tính chất thường xuyên để đảm bảo cho hoạt động của các cơ quan nhà nước nhằm
duy trì “đời sống quốc gia”. Về nguyên tắc, các khoản chi này phải được đảm bảo
bằng các khoản thu không mang tính hoàn trả (thu trong cân đối) của NSNN. Hay

6


chi thường xuyên là nhiệm vụ chi của Ngân sách nhà nước nhằm bảo đảm hoạt
động của BMNN, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội và các chương trình,
dự án phục vụ phát triển kinh tế - xã hội.
1.1.2. Quản lý chi NSNN cấp huyện
1.1.2.1. Khái niệm
Quản lý là quá trình tác động của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền đến
các hoạt động chi NSNN nhằm làm cho quỹ NSNN được phân bổ, sử dụng đúng
quy định của pháp luật, tránh bỏ sót nguồn thu và tình trạng thất thoát, bảo đảm sử
dụng hiệu quả, tiết kiệm NSNN nhằm phục vụ tốt nhất cho việc thực hiện các chức
năng, nhiệm vụ do cơ quan quản lý nhà nước đảm nhận.
Quản lý chi NSNN cấp huyện là quá trình các cơ quan quản lý nhà nước có
thẩm quyền sử dụng hệ thống và các biện pháp tác động vào hoạt động chi ngân
sách cấp huyện, đảm bảo cho các khoản chi NSNN cấp huyện được sử dụng đúng
mục đích, tiết kiệm và hiệu quả.
1.1.2.2. Nguyên tắc quản lý chi NSNN cấp huyện
Quản lý chi ngân sách nhà nước là quá trình phân phối lại quỹ tiền tệ tập
trung một cách có hiệu quả nhằm thực hiện chức năng của nhà nước trên cơ sở sử

- Quản lý chi ngân sách nhà nước là hoạt động không thể thiếu ở mọi quốc
gia, hoạt động này không chỉ giúp tiết kiệm những khoản chi không cần thiết mà
còn hạn chế tình trạng thâm hụt ngân sách, tham ô, đục khoét.
 Quan hệ chủ thể và đối tượng quản lý được xác định:
 Chủ thể quản lý chi NSNN cấp huyện là các cơ quan quản lý nhà nước có
thẩm quyền đối với lĩnh vực chi NSNN trên địa bàn huyện (HĐND huyện, UBND
huyện, Phòng Tài chính - Kế hoạch huyện, KBNN huyện) và các đơn vị sử dụng
(cơ quan nhà nước cấp huyện và đơn vị sự nghiệp công lập sử dụng cấp huyện).
 Đối tượng quản lý chi NSNN là toàn bộ các khoản chi cấp huyện trong
năm tài khóa được bố trí để phục vụ cho việc thực hiện các chức năng, nhiệm vụ
của Nhà nước trong từng giai đoạn nhất định. Hoạt động bao gồm việc lập và giao
dự toán, chấp hành dự toán, quyết toán, thanh tra và kiểm tra chi NSNN.
* Nguyên tắc quản lý chi NSNN cấp huyện
Quản lý chi NSNN cấp huyện là một mặt hoạt động của quản lý NSNN.
Chính vì vậy quản lý chi NSNN phải tuân thủ nguyên tắc chung của quản lý NSNN.

8


Luật NSNN quy định: NSNN được quản lý thống nhất theo nguyên tắc tập trung
dân chủ, công khai, có phân công trách nhiệm gắn với quyền hạn, phân cấp quản lý
giữa các ngành, các cấp. Trên cơ sở nguyên tắc chung đó, các quy phạm pháp luật
trong các văn bản pháp luật quy định về chi NSNN còn thể hiện những tư tưởng
mang tính chất chỉ đạo của nhà nước đặt ra phương châm và mục đích của hoạt
động chi NSNN. Các nguyên tắc đó bao gồm:
Nguyên tắc tập trung dân chủ: Nguyên tắc này đòi hỏi: trong hoạt động chi,
một mặt, nó bảo đảm sự thống nhất ý chí và lợi ích qua huy động và phân bổ để có
được những hàng hoá, dịch vụ công cộng có tính chất quốc gia. Mặt khác, nó đảm
bảo phát huy tính chủ động và sáng tạo của các địa phương, các tổ chức, cá nhân
trong đảm bảo giải quyết các vấn đề cụ thể, trong những hoàn cảnh và cơ sở cụ thể.

không phải là đơn thuần cắt bỏ các khoản chi NSNN một cách tùy tiện, mà là chi
tiêu đúng theo các định mức, đúng tiêu chuẩn và đúng chế độ mà Nhà nước đã quy
định cho từ đơn vị sử dụng, cơ quan có lập dự toán thu chi.
Nguyên tắc chi theo kế hoạch và đúng mục đích: Tính kế hoạch của NSNN
đòi hỏi hoạt động thu, chi NSNN đều phải dựa trên cơ sở kế hoạch. Sự thiếu ăn
khớp giữa thu, chi NSNN đều tạo ra những khó khăn cho hoạt động quản lý chi
NSNN và hạn chế hiệu quả trong thực tế. Do đó, để bảo đảm sự ăn khớp giữa thu và
chi NSNN đòi hỏi chúng phải được thực hiện theo kế hoạch. Nguyên tắc này đòi hỏi
các khoản chi NSNN chỉ được thực hiện với điều kiện khoản chi đó đã được ghi
trong dự toán được duyệt, trừ các trường hợp đặc biệt do pháp luật quy định. Mặc
khác, việc cấp phát và sử dụng vốn Nhà nước phải đúng với đối tượng thụ hưởng,
và đúng nội dung, mục đích của khoản chi được xác định trong dự toán được duyệt.
1.2. Nội dung quản lý chi NSNN cấp huyện
1.2.1. Lập, phân bổ và giao dự toán chi NSNN cấp huyện
1.2.1.1. Lập dự toán chi NSNN
Lập dự toán chi NSNN là quá trình bao gồm các công việc: lập dự toán chi,
phân bổ dự toán chi và giao dự toán chi NSNN. Một dự toán chi NSNN đúng đắn,
có cơ sở khoa học và cơ sở thực tiễn sẽ có tác dụng quan trọng đối với việc phát
triển kinh tế - xã hội nói chung cũng như tạo tiền đề cho việc quản lý chặt chẽ, có
hiệu quả các khoản chi NSNN sau này nói riêng.
Thực chất lập dự toán chi NSNN là việc lập kế hoạch của nhà nước về quy

10


mô nguồn lực cần phải huy động trong xã hội để sử dụng cho các nhu cầu chi tiêu
nhằm thực thi chức năng, nhiệm vụ của mình, theo sơ đồ như sau:
NS cấp tỉnh
(Sở Tài chính)


 Yêu cầu của lập dự toán:
 Kế hoạch dự toán chi NSNN phải bám sát kế hoạch phát triển kinh tế - xã

11


hội và có tác động tích cực đối với việc thực hiện kế hoạch;
 Đúng trình tự thời gian quy định;
 Kế hoạch chi NSNN phải đảm bảo thực hiện đầy đủ và đúng đắn các quan
điểm của chính sách tài chính địa phương trong thời kỳ và yêu cầu của Luật nhà
nước;
 Dự toán chi huyện phải được lập và tổng hợp theo từng lĩnh vực chi, theo
cơ cấu giữa chi thường xuyên, chi ĐTPT, chi trợ cấp và chuyển giao cho xã, thị
trấn…;
 Dự toán chi cấp huyện được bố trí khoản dự phòng từ 2% đến 5% tổng số
chi để chi phòng chống, khắc phục hậu quả thiên tai, hỏa hoạn, các nhiệm vụ quan
trọng về quốc phòng, an ninh và nhiệm vụ cấp bách khác phát sinh ngoài dự toán;
 Đối với chi ĐTPT, việc lập dự toán phải căn cứ vào quy hoạch, kế hoạch,
chương trình, dự án đầu tư đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt, kế hoạch tài
chính 05 năm, kế hoạch đầu tư trung hạn nguồn nhà nước, khả năng cân đối các
nguồn lực trong năm dự toán, quy định của pháp luật về đầu tư công, xây dựng và
quy định khác của luật có liên quan;
 Dự toán chi thường xuyên được lập trên cơ sở nhiệm vụ được giao, nhiệm
vụ được cơ quan có thẩm quyền phê duyệt, chế độ, tiêu chuẩn, định mức chi do cơ
quan nhà nước có thẩm quyền quy định. Việc lập dự toán của các cơ quan nhà nước
thực hiện chế độ tự chủ, tự chịu trách nhiệm về sử dụng biên chế và kinh phí quản
lý hành chính.
Phương pháp lập dự toán chi NSNN:
 Phương pháp phân bổ từ trên xuống: xác định tổng các nguồn lực sẵn có
cho chi tiêu công cộng trong khuôn khổ vĩ mô; chuẩn bị thông tư hướng dẫn lập; lập

chi cho từng cơ quan, đơn vị trực thuộc cấp huyện, mức bổ sung từ cấp huyện cho
từng phường, thị trấn.
Sau khi nhận được quyết định giao nhiệm vụ chi của UBND cấp tỉnh, UBND
huyện trình HĐND huyện quyết định dự toán địa phương và phương án phân bổ dự
toán chi cấp mình, bảo đảm dự toán chi cấp xã được quyết định trước ngày 31/12
năm trước.
Nội dung cơ bản của chi đầu tư phát triển:
Chi đầu tư xây dựng các công trình kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội do địa

13


phương quản lý; đầu tư và hỗ trợ cho các doanh nghiệp, các tổ chức kinh tế, các tổ
chức tài chính của Nhà nước theo quy định của pháp luật; chi cho các khoản chi
khác theo quy định của pháp luật. [9, trang 18].
Việc cấp phát thanh toán vốn đầu tư và xây dựng cơ bản phải đảm bảo đúng
mục đích, đúng kế hoạch; Cấp phát vốn đầu tư xây dựng cơ bản chỉ được thực hiện
theo đúng mức độ thực tế hoàn thành kế hoạch, trong phạm vi giá dự toán được duyệt.
Dự toán và kế hoạch vốn được phân khai, giao cho các chủ đầu tư chi tiết
đến Loại, Khoản, Mục, Tiểu mục của Mục lục nhà nước và mã số dự án theo quy
định tại Quyết định số 33/2008/QĐ-BTC ngày 02/6/2008 của Bộ Tài chính.
Nội dung cơ bản của chi thường xuyên:
Chi cho các hoạt động sự nghiệp giáo dục, đào tạo, y tế, khoa học và công
nghệ, văn hoá - thông tin, phát thanh truyền hình, thể dục thể thao, đảm bảo xã hội;
Chi cho các hoạt động sự nghiệp kinh tế của Nhà nước; Chi hoạt động môi trường;
Chi cho hoạt động hành chính nhà nước; chi cho An ninh - quốc phòng và chi khác.
Khi phân bổ, giao dự toán chi cho các đơn vị trực thuộc, UBND huyện và
đơn vị dự toán cấp I (các sở ban ngành, các đơn vị) phải đảm bảo phân bổ hết dự
toán được giao. Trường hợp có các nhiệm vụ chi chưa các định được rõ đơn vị thực
hiện trong dự toán đầu năm thì được giữ lại để phân bổ sau, nhưng khi phân bổ cho

thời đáp ứng cho nhu cầu chi của các đơn vị sử dụng theo dự toán đã được duyệt.
Các cơ quan được pháp luật quy định có trách nhiệm kiểm soát các khoản chi
NSNN theo đúng dự toán và đúng chế độ. Thực chất của việc chấp hành NSNN là
tổ chức cấp phát NSNN sao cho tiết kiệm và đạt hiệu quả cao.
Mục tiêu chấp hành chi NSNN: là đảm bảo đầy đủ, kịp thời nguồn kinh phí
của NSNN cho hoạt động của BMNN và thực hiện các chương trình kinh tế - xã hội
đã được hoạch định trong năm kế hoạch. Trên cơ sở dự toán chi cả năm được duyệt
và nhiệm vụ phải chi trong quý, các đơn vị sử dụng lập dự toán chi quý (chia ra hai
tháng), chi tiết theo các mục chi của mục lục NSNN gửi phòng Tài chính - Kế
hoạch huyện trước ngày 10 của tháng cuối quý. Phòng Tài chính - Kế hoạch căn cứ
vào nguồn thu và nhiệm vụ chi trong quý lập dự toán điều hành quý, báo cáo
UBND huyện. Căn cứ vào dự toán chi năm được giao, căn cứ vào yêu cầu thực hiện
nhiệm vụ chi, phòng Tài chính tiến hành phân bổ theo nguyên tắc phân bổ trực tiếp
đến các đơn vị sử dụng và thanh toán trực tiếp từ KBNN cho người hưởng lương,

15


người cung cấp hàng hóa, dịch vụ và người nhận thầu.
Công tác chấp hành dự toán chi NSNN thực hiện trên nguyên tắc:
 Thực hiện phân bổ trên cơ sở xác định các định mức tiêu chuẩn;
 Đảm bảo phân bổ dự toán theo đúng kế hoạch được duyệt. Cần quy định
rõ chế độ độc lập, duyệt kế hoạch cấp phát sao cho đơn giản, khoa học, dễ thực
hiện, dễ kiểm tra nhưng đúng chính sách, đúng chế độ;
 Triệt để thực hiện nguyên tắc thanh toán, chi trả thực tiếp KBNN nhằm
nâng cao hiệu quả của các khoản chi;
 Thường xuyên đổi mới phương thức cấp phát vốn NSNN theo hướng
nhanh gọn, dễ kiểm tra.
Trách nhiệm và quyền hạn của các cơ quan, đơn vị trong việc quản lý, cấp
phát và thanh toán các khoản chi NSNN:

theo chế độ quy định.
Đơn vị sử dụng nhà nước có trách nhiệm:
 Tất cả các đơn vị sử dụng NSNN và các tổ chức được NSNN hỗ trợ
thường xuyên phải mở tài khoản tại KBNN; chịu sự kiểm tra, kiểm soát của cơ quan
tài chính, KBNN trong quá tình thực hiện dự toán NSNN được giao và quyết toán
NSNN theo đúng chế độ quy định;
 KBNN có trách nhiệm kiểm soát các hồ sơ, chứng từ chi và thực hiện chi
trả, thanh toán kịp thời các khoản chi NSNN đủ điều kiện thanh toán theo quy định
tại Điều 51 của Nghị định số 60/2003/NĐ-CP ngày 06/6/2003 của Chính phủ và các
quy định tại phần II của Thông tư 59/2003/TT-BTC ngày 23/6/2003 của Bộ Tài
chính; tham gia với cơ quan tài chính, cơ quan QLNN có thẩm quyền trong việc
kiểm tra tình hình sử dụng NSNN; xác nhận số thực chi NSNN qua KBNN của các
đơn vị sử dụng NSNN;
 KBNN có quyền tạm đình chỉ, từ chối chi trả, thanh toán và thông báo cho
đơn vị sử dụng NSNN biết; đồng thời, chịu trách nhiệm về quyết định của mình
trong các trường hợp: chi không đúng mục đích, đối tượng theo dự toán được duyệt;
chi không đúng chế độ, tiêu chuẩn, định mức cho do cơ quan nhà nước có thẩm
quyền quy định hay không đủ các điều kiện chi theo quy định;
 Thủ trưởng đơn vị sử dụng ngân sách cấp huyện quyết định chi đúng chế
độ, tiêu chuẩn, định mức và trong phạm vi dự toán được cấp có thẩm quyền giao; tổ

17



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status