BÀI THU HOẠCH BDTX module THPT 4 3,,5 môi trường học tập của học sinh THPT - Pdf 61

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TRƯỜNG .........

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
--------------------BÀI THU HOẠCH

BỒI DƯỠNG THƯỜNG XUYÊN GIÁO VIÊN
Module THPT5: Môi trường học tập của học sinh THPT
Năm học: ..............
Họ và tên: ..............................................................................................................................
Đơn vị: ..................................................................................................................................
Trong giáo dục chúng ta vẫn thường nhắc đến những phương châm như: “Tất cả vì học
sinh thân yêu”, “hãy dành tất cả những gì tốt nhất cho các em…” Tuy nhiên, môi trường
đó phải như thế nào mới phù hợp với học sinh ? Đặc biệt là đối với các em ở bậc THPT
khi các em chuẩn bị bước sang một môi trường mới đầy dự định mơ ước cho tương lai.
Các em cần có một môi trường học tập tốt nhất để trang bị cho mình những kiến thức tốt
nhất phục vụ cho môi trường cuộc sống mới sau này.
Các bậc phụ huynh thường đòi hỏi con mình phải học và biết thật nhiều. Thậm chí có
nhiều bà mẹ còn tìm kiếm những loại thuốc bổ, món ăn giàu chất dinh dưỡng để giúp trẻ
thông minh, học giỏi. Liệu rằng, sự quan tâm như vậy có giúp các em mau chóng chiếm
lĩnh được đỉnh cao tri thức của nhân loại không? Câu trả lời rằng: Trong tất cả sự quan
tâm mà cha mẹ dành cho con, cần nhất đó là môi trường học tập tốt nhất để các em có thể
phát huy được tối đa những năng lực và sở trường của mình.
Vậy làm thế nào để có được một trường học tập tốt nhất cho các em học sinh THPT đáp
ứng nhu cầu phát triển của xã hội chúng ta cùng tìm hiểu: thế nào là môi trường học tập,
các loại môi trường học tập, các biện phấp xây dựng môi trường học tập, xây dựng môi
trường học tập ở trường học tập ở trường THPT hiện nay, quá trình vận dụng và kết quả
đạt được. Trước tiên chúng ta cùng tìm hiểu thế nào là môi trường và môi trường học tập

+ Cuộc cách mạng trong xây dụng trường học: Một môi trường nhà trường sinh động,
năng nổ thể hiện một trung tâm học tập chủ động, sáng tạo.
+ Không gian lớp học: Cách truyền thống là sắp xếp phòng học sao cho tất cả mọi cái
nhìn và sự chú ý tập trung vào người thầy, các hoạt động trùng khớp với cách sắp xếp đồ
đạc.
+ Toàn bộ hệ thống môi trường học tập, môi trường dạy học, môi trường giáo dục trong
trường phải được tiếp cận hệ thống, đó là các quan hệ thầy – trò, quan hệ trò – trò, quan
hệ nhóm lớp của học sinh, quan hệ của học sinh với nhà quản lí, mà bản chất của các mổi
quan hệ là dựa trên quan hệ pháp luật, nhân văn, đạo đức, cộng đồng hợp tác.
Như vậy, môi trường học tập là toàn bộ các yếu tố vật chất, không gian và thời gian, tình
cảm và tinh thần – nơi học sinh đang sinh sống, lao động và học tập, có ảnh hưởng trực


tiếp, gián tiếp đến sự hình nhân cách cửa học sinh phù hợp với mục đích giáo dục.
2. Các loại môi trường học tập
2.1. Môi trường học tập nhà trường
– Giáo dục nhà trường là hoạt động giáo dục trong các trường lớp thuộc hệ thống giáo
dục quốc dân theo mục đích, nội dung, phương pháp có chọn lọc trên cơ sở khoa học và
thực tiến nhất định. Giáo dục nhà trường được tiến hành có tổ chức, luôn luôn tác động
trực tiếp cóhệ thống đến sự hình thành và phát triển toàn diện của nhân cách. Thông qua
giáo dục nhà trường, mỗi cá nhân được bồi dưỡng phẩn chất đạo đức, kiến thức khoa học,
kỹ năng thực hành cần thiết, tương ứng với yêu cầu của các bậc học, cấp học phù hợp với
trình độ phát triển của xã hội trong từng giai đoạn.
– So với gia đình, nhà trường là một môi trường giáo dục rộng lớn hơn, phong phú, hấp
dẫn hơn đối với thế hệ trẻ. Trong nhà trường, học sinh được giao lưu với bạn bè cùng lứa
tuổi ở địa phuơng, cộng đồng, được tham gia vào nhiều hoạt động mang tính xã hội, giúp
cho quá trình xã hội hoá cá nhân phong phú, toàn diện hơn.
– Nhà trường là một thiết chế xã hội chuyên biệt thực hiện chức năng cơ bản là tái sản
xuất sức lao động, phát triển nhân cách theo hướng duy trì, phát triển xã hội. Nhà trường
có chức năng hình thành và phát triển nhân cách thế hệ trẻ thông qua hoạt động dạy học,

bảo vệ uy tín của gia đình hơn . Những sự thay đổi đó đã động viên, kích thích các em
hoạt động tích cực, độc lập, tự chủ.
Gia đình là một đơn vị xã hội hình thức tổ chức quan trọng nhất của sinh hoạt cá nhân,
dựa trên hôn nhân và quan hệ huyết thống, tức là quan hệ giữa vợ chồng, giữa cha mẹ và
con cái, giữa anh chị em và những người thân khác cùng chung sống và có kinh tế chung.
Gia đình là môi trường giáo dục đầu tiên và là môi trường giáo dục suốt đời đối với quá
trình hình thành và phát triển nhân cách con người. Gia đình giữ vị chí quan trọng và có ý
nghĩa lớn lao đối với quá trình hình thành và phát triển nhân cách. Đó là môi trường gắn
bó trong suốt cuộc đời của mỗi cá nhân. Gia đình là nơi tạo ra mối quan hệ gắn bó ruột
thịt huyết thống – một thứ tình cảm khó có thể chia cắt. Do đó, dù có phải trải qua bao
biến động về mọi phuơng diện, con người vẫn luôn hướng vềquê hương, gia đình.
Cha mẹ là người thầy giáo, là nhà sư phạm đầu tiên giáo dục cho con cái mình những
phẩm chất nhân cách cơ bản làm nền tảng cho quá trình phát triển toàn diện về đạo đức,
trí lực, thể lực, thẩm mĩ, lao động theo các yêu cầu của xã hội. Gia đình là động lực giúp
con người không ngừng hoàn thiện nhân cách. Thế mạnh của gia đình là tình yêu thương,
sự quan tâm châm sóc, chính điều đó giúp cho con người có thể vượt qua những khó khăn
và rào cản của cuộc sống, lao động và học tập.
2.3. Môi trường xã hội
Giáo dục xã hội là hoạt động của các tổ chức, các nhóm xã hội cóchức năng giáo dục theo
quy định của pháp luật hoặc các chương trình giáo dục trên các phương tiện thông tin đại
chúng. Giáo dục xã hội tác động đến quá trình hình thành và phát triển nhân cách thường


qua hai hình thúc: tự phát và tự giác. Những ảnh hưởng tự phát bao gồm các yếu tố tích
cực và tiêu cực của đời sổng xã hội vô cùng phức tạp do cá nhân tự lựa chọn theo nhu
cầu, hứng thú, trình độ tự giáo dục của mình. Những ảnh huởng tự giác là những tổ hợp
tác động trực tiếp hay gián tiếp có hướng đích, có nội dung, phương pháp bằng nhiều
hình thức của các tổ chức, cơ quan, đoàn thể xã hội như y tế, thể thao, nghệ thuât, Hội
Ngựời cao tuổi, Hội Cựu chiến binh, Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh, Hội Phụ
nữ… đến quá trình hình thành và phát triển nhân cách. Môi trường xã hội có ảnh huởng

hội diễn ra dưới nhiều hình thức, vấn đề cơ bản, quan trọng hàng đầu là các lực lượng
giáo dục đó phải phát huy tinh thần trách nhiệm, chủ động tìm ra các hình thức, giải pháp,
tạo ra mỗi liên kết, phối hợp vì mục đích giáo dục, đào tạo thế hệ trẻ thành những công
dân hữu ích của đất nước. Do đó, không thể coi đây là trách nhiệm riêng của lực lượng
nào. Tuy nhiên, gia đình và nhà trường có trọng trách lớn hơn, bởi vì các em là con cái
của gia đình, là học sinh của nhà trường trước khi trở thành công dân của xã hội.
Liên kết, phối hợp giáo dục giữa gia đình, nhà trường và xã hội nhằm thục hiện những
nội dung chú yếu sau:
Thống nhất mục đích, kế hoạch chăm sóc, giáo dục học sinh của tập thể sư phạm nhà
trường với phụ huynh, với các đoàn thể, cơ sở sản xuất, các cơ quan văn hoá, giáo dục
ngoài nhà trường.

MODULE 4-THPT
Câu hỏi:
Những thông tin thu thập được về môi trường giáo dục THPT phải đảm
bảo các yêu cầu nào? Anh, (chị) hãy chọn và phân tích một yêu cầu mà
anh, (chị) quan tâm nhất trong việc thu thập thông tin về môi trường
giáo dục THPT
Trả lời:
Định nghĩa thông tin được trích từ nội dung bài học module THPT 4
(Phương pháp và kĩ thuật thu thập, xử lý thông tin về môi trường giáo
dục) như sau:
“ Thông tin là những tính chất xác định của vật chất con người (hoặc hệ
thống kĩ thuật) nhận được từ thế giới vật chất bên ngoài hoặc từ những quá
trình xảy ra trong bản thân nó”
“ Theo quan điểm triết học, thông tin là một quãng tính của thế giới vật chất
(tương tự như năng lượng, khối lượng). Thông tin không được tạo ra mà chỉ
được sử dụng bởi hệ thụ cảm. Thông tin tồn tại một cách khách quan, không
phụ thuộc vào hệ thụ cảm. Trong nghĩa khái quát nhất, thông tin là sự đa
dạng. Sự đa dạng ở đây có nhiều nghĩa khác nhau: tính ngẫu nhiên, trình độ

với giáo dục ( tùy thuộc vào mối quan hệ của cá nhân với giáo dục mà
giá trị của giáo dục có thể có sự khác biệt), mặt khác nó phải là những
giá trị được thừa nhận của cộng đồng, nhóm xã hội.
Các giá trị của giáo dục bao gồm: Thúc đẩy tiến bộ xã hội về
kinh tế, văn hóa, pháp chế, chuyển giao xã hội, phát triển cá nhân,…
Hình thành những giá trị này sẽ tạo dựng niềm tin và xây dựng cho
các cá nhân và tổ chức giáo dục những kì vọng đối với giáo dục.


Trong cuộc thi tìm hiểu về hiếp pháp của nước cộng hòa xã hội chủ
nghĩa Việc nam, ở điều 43 có nêu “ Mọi người có quyền được sống
trong môi trường trong lành”. Cho thấy sự ảnh hưởng của môi trường
sống đối với con người, cũng như sự ảnh hưởng của môi trường giáo
dục đến hoạt động dạy học.
Sau đây là một vài gợi ý các phương pháp và kĩ thuật thu thập thông
tin về môi trường giáo dục ở module 4-THPT:
- Phương pháp quan sát thực tế môi trường
- Phương pháp điều tra
- Phương pháp thu thập thông tin bằng phỏng vấn
Các phương pháp đều thực hiện đảm bảo các giá trị cơ bản của nguồn
thông tin nhằm đánh giá tốt cho việc xử lý thông tin góp phần vào sự
phát triển.
Module THPT3: Giáo dục học sinh THPT cá biệt
Năm học: ..............
Họ và tên: ..............................................................................................................................
Đơn vị: ..................................................................................................................................
1. Phân loại học sinh cá biệt:
a. Phương pháp phân loại:
- Nghiên cứu hoàn cảnh gia đình, hoàn cảnh sống của học sinh cá biệt (60% học sinh
chưa ngoan, cá biệt là do ảnh hưởng từ gia đình).

sinh cá biệt đều có hoàn cảnh này). Có gia đình phương pháp dạy con không đúng hoặc
quá chủ quan, tin con mình đã ngoan, đã tốt …
- Học sinh bị bạn bè lôi kéo, mải chơi sớm có những mối quan hệ tình yêu không lành
mạnh thích đua đòi, ăn diện.
- Tư chất của học sinh chậm trong nhận thức, hổng kiến thức từ lớp dưới nên chán học,
thường hay nghịch phá, mất trật tự.
- Sức ép trong thi cử, sức ép của gia đình nhà trường và xã hội đã khiến cho học sinh
căng thẳng rơi vào lối sống trầm cảm, tự ti về bản thân mình.
2. Phương pháp giáo dục học sinh cá biệt:
a. Đối với bản thân học sinh cá biệt:
- Gặp riêng học sinh cá biệt bằng tình cảm chân thành của mình, Giáo viên chủ nhiệm
bình tĩnh, nhẹ nhàng, tế nhị, phân tích có lý, cố tình, mức độ nguy hại của khuyết điểm.
Giáo viên thức tỉnh học sinh bằng những câu chuyện đạo đức để cảm phục học sinh.
Chúng tôi ý thức được rằng, Giáo dục đạo đức là nền tảng để giáo dục tri thức, tài năng


cho học sinh, nhất là những học sinh cá biệt.
- Tin tưởng giao công việc tập thể phù hợp với khả năng của học sinh cá biệt. Đây là việc
làm mang tính 2 mặt, đòi hỏi giáo viên chủ nhiệm phải thường xuyên giám sát, kiểm tra
và động viên kịp thời khi học sinh đạt được thành tích dù là nhỏ nhất.
- Tổ chức hoạt động tập thể, hoạt động nhân đạo để tạo điều kiện cho học sinh cá biệt,
tham gia, xây dựng môi trường lành mạnh, tích cực, để các em có cơ hội tự thể hiện
mình. Công tác này thực sự đặc biệt có ý nghĩa đối với học sinh trầm cảm, tự ti. Các em
sẽ mạnh bạo, tích cực hơn trong học tập và rèn luyện. Cho các em tham gia và thực hiện
tốt các chuyên đề ngoại khoá, rèn luyện kỹ năng sống để các em tiến bộ.
- Tổ chức cho tập thể lớp quan tâm tận tình giúp đỡ dưới mọi hình thức như: thăm hỏi,
đôi bạn, nhóm bạn cùng tiến. Giáo viên chủ nhiệm có thể lấy tấm gương tốt trong tập thể,
hoặc chính một học sinh cá biệt đă tiến bộ để cảm hoá học sinh cá biệt.
- Áp dụng quy định thưởng, phạt “phân minh, nghiêm túc, công bằng” để học sinh cá biệt
có động lực mục tiêu phấn đấu.

Chúng tôi cũng hiểu rằng: Thực tiễn giáo dục học sinh cá biệt là rất khó khăn và không
phải học sinh cá biệt nào cũng giáo dục thành công. Dù vậy, chúng tôi vẫn đang hàng
ngày nỗ lực, cố gắng, học hỏi để thực hiện tốt công việc này.

............., ngày...tháng...năm....
Người viết




Nhờ tải bản gốc
Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status