Bài thu hoạch BDTX module 3 THPT 3 Giáo dục học sinh cá biệt - Pdf 34

BÀI THU HOẠCH
BỒI DƯỠNG THƯỜNG XUN NỘI DUNG 3 NĂM HỌC 2015-2016
Họ và tên giáo viên: ĐINH XN HẠNH
Tổ chun mơn: VĂN – NGOẠI NGỮ
Trường THPT Bình Gia
Tên mơ đun viết thu hoạch: GIÁO DỤC HỌC SINH THPT CÁ BIỆT
Mã mơ đun: Module THPT 3
PHẦN BÀI LÀM
Câu 1 (4 điểm): Qua q trình nghiên cứu tài liệu bồi dưỡng thường xun,
đồng chí hãy tóm tắt các nội dung chính của từng mơ đun mà cá nhân đã đăng
ký thực hiện bồi dưỡng.
Trả lời:
Sau khi tìm hiểu xong module THPT 3 “ Giáo dục học sinh THPT cá biệt”
giúp bản thân tơi nhận thức được rõ hơn và học hỏi được thêm nhiều thơng tin hữu
ích phục vụ cho cơng tác giáo dục học sinh của bản thân mình trong q trình thực
hiện nhiệm vụ giáo dục. Cụ thể các vấn đề học tập được thơng qua Module 3 “
Giáo dục học sinh THPT cá biệt” là:
1. Hiểu về khái niệm “học sinh cá biệt”:
Học sinh có những thái độ, hành vi khơng phù hợp với giá trị nội qui truyền
thống của tập thể, khơng thực hiện tròn bổn phận và trách nhiệm của học sinh hoặc
thiếu văn hóa, đạo đức trong quan hệ ứng xử với mọi người, đồng thời khơng có
động cơ học nên kết quả học tập yếu, kém… được lặp lại thường xun và trở
thành hệ thống được coi là học sinh cá biệt.
2. Những ngun nhân dẫn đến việc hình thành, xuất hiện học sinh cá biệt:
Có nhiều nguyên nhân dẫn đến học sinh cá biệt trong đó có thể kể đến
những nguyên nhân sau : Học yếu do bò hổng kiến thức lưu ban, gia đình khá
giả cha mẹ lo làm ăn không quan tâm đến con cái nhưng lại nuông chiều con
hết mức, môi trường sống không lành mạnh… có thể nói các măït biểu hiện của
một học sinh cá biệt cũng rất đa dạng và phức tạp. Điển hình như có rất nhiều
gia đình học sinh do cha mẹ các em bận làm ăn xa vắng nhà một đến hai tuần
thậm chí cả tháng mới ghé về nhà quẳng cho con ít tiền rồi lại vội vã ra đi mà

giáo viên cần tránh tranh cãi hoặc phê phán học sinh.
Những nội dung cần tìm hiểu học sinh cá biệt:
- Hồn cảnh gia đình
- Các mối quan hệ bạn bè trong lớp, ngồi lớp
- Học tập
- Sức khỏe
- Tâm lí cá nhân
- Khả năng, năng lực của học sinh trong các hoạt động.
4. Có thể thu thập thơng tin về học sinh cá biệt bằng nhiều con đường khác
nhau:
- Tổ chức cho học sinh viết về điều có ý nghĩa với bản thân
- Quan sát và tham gia vào các hoạt động của học sinh
- Tiếp cận học sinh thơng qua nhóm bạn thân.
- Tìm hiểu học sinh thơng qua gia đình, hồn cảnh sống của học sinh cá biệt.
- Tìm hiểu học sinh thơng qua cán bộ lớp, tổ
- Tìm hiểu học sinh thơng qua giáo viên khác, đồn trường
- Tìm hiểu học sinh thơng qua hang xóm gia đình học sinh.
- Tìm hiểu qua kết quả học tập rèn luyện của học sinh qua những năm học
trước..


Cách phối hợp các thông tin về học sinh cá biệt để có hiệu quả cao nhất:
Cách sử lí, phân tích thông tin theo hướng kết hợp từ nhiều nguồn khác nhau
giúp giáo viên năm bắt được nhưng thông tin chính xác, cụ thể về học sinh cá
biệt.
Biết cách lưu giữ kết quả đánh giá để lập hồ sơ học sinh cá biệt:
- Phiếu đặc điểm gia đình học sinh
- Sổ theo dõi tung ngày, tháng, kì, năm
- Học bạ
- Sổ liên lạc

- Động viên, khích lệ động cơ học tập, hoàn thiện nhân cách của học sinh cá
biệt
- Tránh sử dụng củng cố tiêu cực


-

Sử dụng hệ quả tự nhiên và hệ quả lôgic
Phương pháp ứng xử với một số loại hành vi điển hình
Khơi dậy hoài bão, ý thức tự giáo dục của học sinh
Áp dụng biện pháp giáo dục kỉ luật tích cực đối với học sinh

8. Cách đánh giá kết quả học tập, giáo dục học sinh cá biệt:
- Đánh giá hành vi không đồng nhất với đánh giá nhân cách:
Nếu học sinh cá biệt thực hiện hành vi không mong đợi nào đó thì giáo viên
chỉ đánh gía hành vi đó chứ không được quy kết hành vi đó thành nét nhân
cách của học sinh
- Đánh giá theo quan điểm tích cực với học sinh cá biệt:
Đánh giá không chỉ giúp các em nhận thấy mà còn phát huy nhưng điểm
mạnh của học sinh. Đánh giá cần mang yếu tố khách quan, tích cực, mang
tính xây dựng.
- Đánh giá sự tiến bộ của học sinh cá biệt theo quá trình:
Đánh giá học sự tiến bộ của học sinh so với sự tiến bộ của bản thân. Đồng
thời xác định mức độ kết quả đạt được của tưng em học sinh để naang cao
hiệu quả.
- Đánh giá theo chuẩn quy định
9. Những tác động tích cực và tiêu cực đến học sinh từ gia đình, bạn bè và môi
trường sống:
- Ảnh hưởng của gia đình:
Bố mẹ sống không hạnh phúc, sống li thân, li hôn (có rất nhiều học sinh cá biệt

+ phiếu đặc điểm gia đình học sinh
+ sổ theo dõi phát triển cá nhân qua từng tuần, tháng, học kỳ
+ Các kết quả sau thu thập được về học sinh
+ Học bạ
+ sổ liên lạc
- Hướng khai thác thông tin về học sinh: thông tin về học sinh cá biệt được
khai thác để xác định biện pháp tác động, dự báo chiều hướng phát triển,
dưới tác động của các ảnh hưởng, dự kiến kết quả đạt được cũng như những
nguy cơ để có biện pháp phòng ngừa
-> Muốn giáo dục tốt học sinh cá biệt phải có sự kết hợp đồng bộ cả ba lực
lượng giáo dục: Gia đình – Nhà trường – Xã hôi. Trên cơ sở đó thúc đầy quá
trình tự giáo dục của học sinh
- Không lý tưởng hóa về học sinh. Không gọi các em là “ học sinh cá biệt”
trước tập thể và người khác. ( “Nếu bạn nhìn ai đó với ánh mắt yêu thương bạn
sẽ không nhìn thấy những nét xấu xa mà bạn sẽ chỉ nhìn thấy toàn những nét
đẹp mà thôi” – Danh ngôn
- Tin tưởng giao công việc tập thể phù hợp với khả năng của học sinh cá
biệt. Đây là việc làm mang tính hai mặt, đòi hỏi giáo viên chủ nhiệm phải thường
xuyên giám sát, kiểm tra và động viên kịp thời khi học sinh đạt được thành tích dù
là nhỏ nhất. ( Cho HS cơ hội “ tìm được sức mạnh cả trong chính sự khiếm
khuyết của mình”)
- Tổ chức hoạt động tập thể, hoạt động nhân đạo để học sinh cá biệt tham
gia, xây dựng môi trường lành mạnh, tích cực, để các em có cơ hội tự thể hiện
mình. Những học sinh trầm cảm, tự tin sẽ mạnh dạn, tích cực hơn trong học tập và
rèn luyện ( Tổ chức chuyên đề ngoại khoá, rèn luyện kỹ năng sống, . . .)
( “Sức mạnh mãnh liệt nhất, phi thường nhất trên thế gian này chính là sức
mạnh của tình yêu” và sự cảm thông là chìa khóa để mở cửa trái tim người
khác)
- Gặp riêng học sinh cá biệt bằng tình cảm chân thành của mình, GVCN
bình tĩnh, nhẹ nhàng, tế nhị, phân tích có lý, có tình cho HS thấy được ưu điểm để

+ Chủ nhiệm lớp 12A9
+ Khối trưởng chủ nhiệm Khối 12.
Phát huy kinh nghiệm từ những năm học trước trong việc giáo dục học sinh
cá biệt, tôi nhận thấy mình cần:
- Có sự kết hợp đồng bộ cả ba lực lượng giáo dục: Gia đình – Nhà trường –
Xã hôi để giúp học sinh nhận thức toàn diện hơn về động cơ học tập và hoàn thiện
về nhân cách. Cụ thể: thường xuyên liên lạc với gia đình, thông báo kịp thời những
nhược điểm của học sinh, đặc biệt là những khuyết điểm vi phạm nghiêm trọng.
Tìm hiểu thêm thông tin về học sinh từ môi trường xã hội, bạn bè của học sinh đó.
(Ngay khi tôi đang trả lời câu hỏi này thì tôi cũng đã tiếp nhận được một thông tin
là có một học sinh lớp tôi tên là Hoàng Văn Linh hôm nay không đến lớp học mà
đang ngồi chơi ngoài quán nước cổng trường. Tôi đã ra quán nước tìm học sinh
Linh nhưng em học sinh đó đã đi đâu không rõ. Tôi vội gọi điện cho phụ huynh
đến gặp trực tiếp để phối hợp giáo dục).
- Không lý tưởng hóa về học sinh. Không gọi các em là “ học sinh cá biệt”
trước tập thể và người khác. Vì như vậy học sinh sẽ có mặc cảm tự ti, không nỗ lực
phấn đấu.
- Cho học sinh cơ hội khẳng định khả năng của chính mình. Tin tưởng giao
công việc tập thể phù hợp với khả năng của học sinh cá biệt. (Ví dụ: Tôi đã mạnh
dạn giao cho học sinh Triệu Văn Sơn (có thể coi là học sinh cá biệt vì hay mắc
khuyết điểm) làm đội trưởng CLB nghiên cứu KHKT của lớp để hoàn thành các ý


tưởng sáng tạo. Kết quả: học sinh Triệu Văn Sơn đã rất tích cực, sáng tạo và có
tinh thần trách nhiệm cao để hoàn thành công việc được giao.
Đây là việc làm mang tính hai mặt, đòi hỏi giáo viên chủ nhiệm phải thường
xuyên giám sát, kiểm tra và động viên kịp thời khi học sinh đạt được thành tích dù
là nhỏ nhất.
- Gặp riêng học sinh cá biệt bằng tình cảm chân thành của mình, tôi luôn
bình tĩnh, nhẹ nhàng, tế nhị, phân tích có lý, có tình cho HS thấy được ưu điểm để

vừa giúp học sinh có những cố gắng ở từng môn học. Đồng thời, kết hợp chặt chẽ
với ĐTN để thống nhất biện pháp giáo dục học sinh cá biệt.
Bản thân tôi sẽ lưu trữ và khai thác thông tin về học sinh cá biệt bằng cách,
thu thập thông tin về học sinh thông qua hoạt động giáo dục hàng ngày lưu trữ
thông qua phiếu phát cho học sinh ngay từ đầu năm, ghi chép chi tiết tỉ mỉ để có
căn cứ giáo dục và theo dõi sự tiến bộ của học sinh để từ đó có cách đánh giá
khách quan nhất giúp học sinh tiến bộ đấy chính là mục đích của việc giáo dục.


CHUYÊN ĐỀ 2: KHẮC PHỤC TRẠNG THÁI TÂM LÍ CĂNG THẲNG TRONG
HỌC TẬP CỦA HỌC SINH TRUNG HỌC PHỔ THÔNG (Module THPT 12)
1. Khái niệm stress:
- Stress là hiện tượng rất phức tạp và rất khó định nghĩa chính xác. Trong cuộc
sống thường nhật khái niệm này thường được dùng để mô tả trạng thái bực bội
hoặc tâm lí bất an.
- Stress xuất hiện khi áp lực vượt quá khả năng thông thường để ứng phó.
- Stress là tình trạng căng thẳng thể hiện mối tương tác giữa tác nhân công kích và
phản ứng của cơ thể.
- Stress là phản ứng của con người đối với một tác nhân được coi là có hại cho cơ
thể và tâm lí con người.
2. Các yếu tố ảnh hưởng đến stress trong học tập của học sinh THPT:
Có các nguyên nhân cơ bản sau:
- Môi trường bên ngoài: Thiên tai, thời tiết, tiếng ồn, giao thông, ô nhiễm môi
trường…
- Từ xã hội và gia đình: Thời hạn của công việc phải hoàn thành, các vấn đề tài
chính, áp lực công việc, môi trường làm việc không thuận lợi, thay đổi về thời gian


làm việc,…hay do sự mất mát của người thân, mâu thuẫn trong gia đình, quan hệ
bạn bè không tốt, …

- Tránh những phản ứng thái quá.
- Không được trốn tránh bằng những trò vô bổ.
- Đặt những mục tiêu cụ thể cho bản thân, cắt bớt khối lượng công việc.
- Thay đổi cách nhìn nhận mọi việc.
- Chữa stress bằng các hoạt động thể chất.
Phương pháp trợ giúp học sinh ứng phó với stress trong học tập:
- Chăm sóc sức khỏe và tránh những nguy hiểm có thể có.
- Can thiệp sớm một cách trực tiếp, chủ động và bình tĩnh.
- Tập trung vào những vấn đề của hiện tại.
- Cung cấp những thông tin chính xác vè những gì đã xảy ra.
- Không nói những điều không có khả năng thực thi.
- Cung cấp và đảm bảo về những trợ giúp tâm lí.


- Tập trung vào những lợi thế, khả năng phục hồi của học sinh.
- Khuyến khích ý chí tự lực.
- Quan tam đến cảm xúc của những người xung quanh.
*Một số biện pháp giúp giảm bớt căng thẳng tâm lí:
- Thể dục, thể thao hay vận động.
- Cười thoải mái, thư giãn: nghe nhạc, đọc sách, xem phim…
- Chế độ ăn uống, nghỉ ngơi hợp lí.
- Ngủ đủ giấc, ngủ sâu, ngủ đúng giờ.
- Sự chia sẻ, hỗ trợ từ người thân, bạn bè.
- Sắp xếp thời gian hợp lí, có kĩ năng lập kế hoạch.
- Rèn luyện tư duy tích cực…
- Để giảm stress cho học sinh, nhà trường nên thường xuyên tổ chức các hoạt động
tập thể, tổ chức thảo luận dân chủ để hiểu rõ mục đích, ý nghĩa và nội dung của các
phong trào thi đua, sau đó sẽ lựa chọn các hoạt đông cụ thể phù hợp với sở thích
hứng thú, năng lực, nhu cầu tâm lí của học sinh.
- Các hoạt động kích thích cho học sinh cơ hội tìm kiếm, phát hiện tri thức, hình

+ Những kinh nghiệm về giáo dục sư phạm khác
Sổ này do GV ghi chép trong quá trình công tác nhiều năm
+ Sổ dự giờ
+ Sổ điểm cá nhân
+ Sổ mượn thiết bị dạy học
+ Sổ báo giảng
+ Kế hoạch bài học
2. Các bước trong quy trình xây dựng hồ sơ dạy học:
- B1: tổ chuyên môn thảo luận trao đổi về các văn bản của các cấp, xây dựng Kh tổ
chuyên môn
- B2: Hoàn thiện các thông tin chung
- B3: Tìm hiểu và cập nhật sổ bồi dưỡng thường xuyên cá nhân
- B4: Tìm hiểu và cập nhật sổ dự giờ, sổ mượn thiết bị
- B5: Xây dựng kế hoặc bài học dựa vào TKB để xây dựng sổ báo giảng
3. Qui trình kiểm tra theo chuẩn kiến thức kỹ năng được thực hiện qua các
bước sau:

4. Cách sử dụng bảo quản và bổ sung hồ sơ dạy học:
* Sử dụng:


* Bảo quản:
- GV có trách nhiệm cập nhật và bảo quản giáo án, sổ báo giảng, sổ dự giờ, sổ
bồi dưỡng chuyên môn.
- Tổ trưởng chuyên môn bảo quản hồ sơ của tổ chuyên môn.
- GV và viên chức thiết bị dạy học cập nhật và bảo quản sổ thiết bị dạy học.
Tất cả các sổ sách, kế hoạch trong hồ sơ dạy học được giáo viên và nhà trường
cập nhật, bổ sung và bảo quản theo quy định.
5. Các năng lực cần thiết ở giáo viên THPT trong xây dựng và phát triển
hồ sơ dạy học:

và điều này làm nảy sinh những lý thuyết học tập mới.
Theo nhận định của một số chuyên gia, thì việc đưa công nghệ thông tin và
truyền thông ứng dụng vào lĩnh vực giáo dục và đào tạo bước đầu đã đạt được
những kết quả khả quan.
b. Những hạn chế trong việc ứng dụng CNTT vào quá trình dạy học:
Bên cạnh những thuận lợi đã đạt được vẫn còn hết sức khiêm tốn. Khó
khăn, vướng mắc và những thách thức vẫn còn ở phía trước bởi những vấn đề nảy
sinh từ thực tiễn. Chẳng hạn:
- Tuy máy tính điện tử mang lại rất nhiều thuận lợi cho việc dạy học nhưng
trong một mức độ nào đó, thì công cụ hiện đại này cũng không thể hỗ trợ giáo viên
hoàn toàn trong các bài giảng của họ. Nó chỉ thực sự hiệu quả đối với một số bài
giảng chứ không phải toàn bộ chương trình do nhiều nguyên nhân, mà cụ thể là,
với những bài học có nội dung ngắn, không nhiều kiến thức mới, thì việc dạy theo
phương pháp truyền thống sẽ thuận lợi hơn cho học sinh, vì giáo viên sẽ ghi tất cả
nội dung bài học đó đủ trên một mặt bảng và như vậy sẽ dễ dàng củng cố bài học
từ đầu đến cuối mà không cần phải lật lại từng “slide” như khi dạy trên máy tính
điện tử. Những mạch kiến thức “ vận dụng” đòi hỏi giáo viên phải kết hợp với
phấn trắng bảng đen và các phương pháp dạy học truyền thống mới rèn luyện được
kĩ năng cho học sinh.
- Bên cạnh đó, kiến thức, kỹ năng về công nghệ thông tin ở một số giáo viên
vẫn còn hạn chế, chưa đủ vượt ngưỡng để đam mê và sáng tạo, thậm chí còn né
tránh. Mặc khác, phương pháp dạy học cũ vẫn còn như một lối mòn khó thay đổi,
sự uy quyền, áp đặt vẫn chưa thể xoá được trong một thời gian tới. Việc dạy học
tương tác giữa người - máy, dạy theo nhóm, dạy phương pháp tư duy sáng tạo cho
học sinh, cũng như dạy học sinh cách biết, cách làm, cách chung sống và cách tự
khẳng định mình vẫn còn mới mẻ đối với giáo viên và đòi hỏi giáo viên phải kết
hợp hài hòa các phương pháp dạy học đồng thời phát huy ưu điểm của phương
pháp dạy học này làm hạn chế những nhược điểm của phương pháp dạy học truyền
thống. Điều đó làm cho công nghệ thông tin, dù đã được đưa vào quá trình dạy
học, vẫn chưa thể phát huy tính trọn vẹn tích cực và tính hiệu quả của nó.

học chưa cao, cơ sở vật chất còn nhiều thiếu thốn, trong những năm qua nhà
trường đã từng bước ứng dụng CNTT trong công tác dạy học cụ thể là:
- Việc đầu tiên là triển khai công tác đồng nghiệp giúp đỡ đồng nghiêp, đào
tạo kiến thức Tin học cơ bản cho đội ngũ giáo viên, sau đó từng bước nâng cao
kiến thức Tin học cho giáo viên thông qua các lớp tập huấn về phương pháp thiết
kế bài giảng điện tử, sử dụng các phần mềm dạy học như Sketchpad, Violet, ...
thiết kế bài giảng bằng Powerpoint và cách sử dụng một số phần mềm dạy học cho
đội ngũ giáo viên trong trường.
- Mua sắm thiết bị Tin học như máy tính, máy chiếu Projector, máy quay phim
- chụp ảnh kĩ thuật số, phần mềm xếp thời khóa biểu, phần mềm giáo án Trí Việt ...
- Kết nối mạng Internet (ADSL) Wifi cho giáo viên tra cứu thông tin qua
mạng.
- Phát động các đợt thao giảng bằng bài giảng điện tử với các tư liệu, mô
phỏng, thí nghiệm ảo do giáo viên tự tìm tòi và tự thiết kế.
Những kết quả đã đạt được: Sau hai năm thực hiện, cho đến nay đã có kêt
quả ban đầu như sau:
- Có 98 % giáo viên biết sử dụng máy tính để soạn thảo văn bản.


- Khoảng 50% giáo viên có thể thiết kế bài giảng điện tử và 1/3 trong số đó có
thể sử dụng các phần mềm dạy học của bộ môn mình dạy.
- Thiết kế và tổ chức thực hiện một số bài giảng điện tử ở các môn học như
Hoá học, Địa lý, GDCD, Tiếng Anh, Công nghệ, Ngữ văn, Tin học, Vật lý…
- Xây dựng các thí nghiệm ảo, các tư liệu mô phỏng của một số môn học như
Hoá học, Vật lý, Công nghệ, …
* Ứng dụng CNTT trong dạy học, thực trạng và giải pháp:
1. Thực trạng việc ứng dụng CNTT trong dạy học hiện nay.
- Việc ứng dụng CNTT trong dạy học ở trường THPT Bình Gia hiện nay chủ
yếu chỉ ở hình thức thiết kế các bài giảng điện tử (phần lớn là sử dụng phần mềm
trình chiếu PowerPoint hay sử dụng phần mềm Violet).

cách sử dụng các phần mềm nói trên.


- Để có các bài giảng chất lượng cần phải có các tư liệu, các video clip, các thí
nghiệm mô phỏng phù hợp do vậy cần phải hướng dẫn cho giáo viên cách tìm
kiếm tư liệu trên mạng Internet, cách sử dụng các phần mềm dạy học phù hợp với
đặc thù từng môn học chẳng hạn:
+ Đối với môn Toán: Phần mềm hình học Geometer’s Sketchpad, phần
mềm soạn thảo công thức Match Type, …
+ Đối với môn Hoá học:ACD/ChemSketch - phần mềm hỗ trợ vẽ công
thức, phương trình và tính toán cân bằng hóa học, hay Chemlab - Phần mềm thiết
kế thí nghiệm hoá học, CS ChemDraw…
+ Thiết kế thí nghiệm vật lý ảo với phần mềm Crocodile Physics.
+ Đối với việc dạy ngoại ngữ có thể sử dụng các phần mềm trợ giúp việc
dạy phát âm chính xác hoặc trực tiếp truy cập vào trang
Web: www.spokentext.net để tạo các bài đọc hiểu với giọng đọc của người bản
xứ.
+ Đối với các môn học xã hội cần hướng dẫn giáo viên thu thập tư liệu qua mạng
thông qua các website tìm kiếm như: www.google.com.vn, www.yahoo.com,
www.altavista.com, www.msn.com.
- Việc ứng dụng CNTT trong dạy học như thế nào còn phù thuộc vào đặc thù từng
môn học, từng nội dung bài học cụ thể. Vì vậy để triển khai hiệu quả ứng dụng
CNTT trong dạy học và giảm bớt thời gian tìm kiếm, tạo tư liệu, thiết kế bài giảng
cần có sự chỉ đạo một kế hoạch lâu dài và cụ thể đó là:
+ Trước khi bước vào năm học mới BGH cần giao cho các tổ, các nhóm bộ
môn rà soát toàn bộ chương trình để xác định những tiết học nào, những nội dung
nào cần áp dụng ứng dụng CNTT để bài giảng đạt hiệu quả cao nhất. Đồng thời liệt
kê các tư liệu điện tử cần thiết cho từng bài, từng chương của từng môn học.
+ Giao các tổ, nhóm chuyên môn có trách nhiệm thu thập, tìm kiếm, thiết
kế các tư liệu cần thiết phục vụ cho bộ môn của mình. Và đây chính là kho tư liêu


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status