Một số giải pháp giáo dục học sinh cá biệt ở lớp 12a6 và lớp 10a9 trường THPT đông sơn 1 - Pdf 43

I. MỞ ĐẦU
1.1. Lí do chọn đề tài
Trong sự phát triển của một quốc gia, giáo dục chính là công cụ để phát
triển chất lượng nguồn nhân lực con người. Phát triển giáo dục luôn là một động
lực quan trọng thúc đẩy sự nghiệp công nghiệp hóa – hiện đại hóa đất nước, là
điều kiện phát huy nguồn nhân lực con người, yếu tố cơ bản để phát triển xã hội,
tăng trưởng kinh tế nhanh và bền vững. Trong hệ thống giáo dục quốc dân, giáo
dục trung học phổ thông đóng một vai trò quan trọng trong sự phát triển và hình
thành những phẩm chất của người học.
Dự thảo chương trình giáo dục phổ thông tổng thể năm 2015 của Bộ giáo
dục và đào tạo nêu rõ: Giáo dục cấp THPT hiện hành ngoài mục tiêu củng cố
và phát huy kết quả của giáo dục THCS, còn giúp học sinh “có những hiểu biết
thông thường về kĩ thuật và hướng nghiệp, có điều kiện lựa chọn hướng phát
triển và phát huy năng lực cá nhân” [1]. Chương trình giáo dục trung học phổ
thông giúp học sinh: “ tiếp tục phát triển những phẩm chất, năng lực của
người lao động, ý thức và nhân cách công dân; khả năng tự học và ý thức học
tập suốt đời; khả năng lựa chọn nghề nghiệp phù hợp với năng lực và sở thích,
điều kiện và hoàn cảnh của bản thân để tiếp tục học lên, học nghề hoặc tham
gia vào cuộc sống lao động; khả năng thích ứng với những đổi thay trong bối
cảnh toàn cầu hóa và cách mạng công nghiệp mới”.[2]
Việc giáo dục học sinh là công việc không đơn giản. Giáo dục là khoa học
nhưng cũng là nghệ thuật. Trong trường học, người giáo viên gắn liền với hai
nhiệm vụ: vừa giảng dạy vừa làm công tác giáo dục. Mục đích đào tạo ra những
học sinh vừa có kiến thức văn hóa, vừa có nhân cách làm người. Học sinh đang
ở độ tuổi trưởng thành và rất nhạy cảm. Bên cạnh những học sinh chăm ngoan,
thì cũng có một số học sinh ngang bướng, ngỗ nghịch, không chấp hành nội quy
học sinh...Những học sinh này được gọi là: Học sinh cá biệt.
Gần đây, các thông tiện thông tin báo chí, truyền hình đã đưa tin khá nhiều
về tình hình học sinh cá biệt. Vấn đề này đã trở thành mối lo ngại của xã hội, gia
đình và nhà trường. Học sinh cá biệt hầu như trường nào cũng có. Học sinh cá
biệt không nhiều, song lại là “lực cản” rất lớn cho sự phát triển của nhà trường.

1.3. Đối tượng nghiên cứu
Lớp A6(niên khóa 2013 – 2016) và lớp 10A9(năm học 2016 – 2017)
trường THPT Đông Sơn 1
- Những học sinh thuộc diện cá biệt:
Lớp A6(niên khóa 2013 – 2016):
1. Em Nguyễn Đình Dũng
2. Em Trần Văn Trường
3. Em Lê Văn Hải
4. Em Lê Viết Anh
5. Phạm Văn Dũng
Lớp 10A9 (Năm học 2016-2017) :
1. Em Nguyễn Đức Mạnh
2. Em Nguyễn Tiến Mạnh
3. Em Lê Thị Hồng Chinh
1.4. Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp thu thập thông tin:

2


+ Nghiên cứu hồ sơ: Bước làm đầu tiên để tìm hiểu nét cơ bản nhất của học
sinh cá biệt.
+ Trò chuyện, trao đổi trực tiếp học sinh cá biệt, bạn bè, gia đình, thầy cô
giáo.
+ Tham khảo ý kiến đồng nghiệp, những người có kinh nghiệm.....
- Phương pháp điều tra khảo sát thực tế, quan sát thường xuyên, toàn diện
các biểu hiện, hành vi của học sinh cá biệt.
- Phương pháp ghi chép, thống kê xử lí số liệu, đánh giá kết quả rèn luyện
của học sinh cá biệt.


bản thân, dễ bị lôi cuốn , bị tiêm nhiễm những thói hư tật xấu, những tác động
tiêu cực từ bên ngoài xã hội , dẫn đến tình trạng bỏ học giữa chừng và có nguy
cơ phạm tội là nỗi day dứt của nhà trường, gia đình và xã hội .
Vì vậy, chú trọng giáo dục đạo đức cho học sinh, đặc biệt là học sinh cá
biệt là nhiệm vụ vô cùng quan trọng của công tác giáo dục hiện nay. Giáo dục
học sinh cá biệt có một ý nghĩa vô cùng to lớn đối với xã hội: Thành công trong
giáo dục học sinh cá biệt sẽ góp phần vào giữ gìn an ninh, trật tự xã hội, cung
cấp cho xã hội những công dân tốt. Đối với gia đình: Đem lại niềm hạnh phúc
cho phụ huynh, giúp họ tránh được nỗi bất hạnh lớn nhất là con cái hư hỏng. Đối
với tập thể lớp: đảm bảo cho lớp ổn định, trật tự, nề nếp. Để làm được điều này

4


đối với giáo viên chủ nhiệm là một nhiệm vụ không dễ dàng. Công tác này đòi
hỏi người thầy không chỉ có tâm, mà còn phải khéo léo, tinh tế, nghệ thuật ứng
xử phù hợp, biện pháp, hình thức giáo dục thích hợp, mang lại hiệu quả cao
nhất.
2. 2. Thực trạng vấn đề trước khi áp dụng sáng kiến kinh nghiệm
2.2.1. Thuận lợi
Trường THPT Đông Sơn 1 là ngôi trường có bề dày truyền thống hơn 50
năm. Hằng năm, công tác giảng dạy và giáo dục của nhà trường đều đạt được
những thành tích đáng mừng. Bên cạnh mục tiêu “dạy chữ”, thì việc giáo dục
đạo đức cho học sinh cá biệt là một trong những nhiệm vụ thiết yếu trong nhà
trường. Hạn chế được những đối tượng học sinh yếu về mặt đạo đức là góp phần
nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện của nhà trường. Vì vậy, công tác này
luôn được sự quan tâm của Đảng ủy, Ban Giám hiệu nhà trường .
Địa bàn sinh sống của đa số học sinh là ở gần trường, gia đình thuần nông
là chủ yếu. Tuy cuộc sông còn nhiều khó khăn, nhưng nhiều phụ huynh rất quan
tâm đến việc học tập của các em.

Thứ ba, nhà trường chưa tạo được nhiều sân chơi, chưa tổ chức được đa
dạng các hoạt động ngoại khóa để các em tham gia mà chủ yếu là chú trọng giáo
dục tri thức.
Thứ tư, bản thân học sinh lại ở giai đoạn tâm sinh lý có nhiều biến đổi, từ
tuổi thiếu niên chuyển sang tuổi thanh niên, học sinh muốn khẳng định mình
nhưng hiểu biết, chưa hoàn thiện, đôi khi do bản năng hoặc đua đòi. Khi đạo đức
yếu kém thì học lực cũng tỉ lệ thuận với nó. Điều này sẽ dẫn đến hệ quả là các
em bị hổng kiến thức căn bản; điểm kiểm tra thấp so với các bạn cùng lớp các
em mặc cảm đưa đến hiện tượng sợ bị kiểm tra, tiếp theo là chán học, cuối cùng
là nảy sinh tâm lý bỏ học.
Thứ năm, một số em có niềm tin sai về giá trị của con người và cuộc sống,
chán nản, chưa có mục đích học tập rõ ràng, chưa nhận thức được trách nhiệm,
bổn phận của bản thân.
Những yếu tố trên tạo nên những khó khăn không nhỏ trong quá trình giáo
dục học sinh cá biệt.
2.3. Một số biện pháp giáo dục học sinh cá biệt hiệu quả
Trong quá trình giảng dạy và làm công tác chủ nhiệm nhiều năm nên tôi đã
gặp một số học sinh cá biệt. Hơn bao giờ hết, giáo dục học sinh cá biệt đòi hỏi
người giáo viên phải thực sự tâm huyết với nghề, phải kiên trì, phải thực sự có
tấm lòng bao dung, yêu thương và biết cảm thông. Trong quá trình làm công tác
giáo dục học sinh cá biệt, tôi luôn đảm bảo sự mềm dẻo, linh hoạt, giữa nghiêm
khắc và mềm mỏng, giữa nguyên tắc và linh động trong nguyên tắc. Tôi đã tìm
tòi, nghiên cứu và sử dụng một số phương pháp, kỹ năng giáo dục học sinh cá
biệt và thấy có hiệu quả nhất định. Sau đây tôi xin chia sẻ một số kinh nghiệm
mang lại thành công cho tôi trong việc giáo dục các học sinh cá biệt.
2.3.1. Nhanh chóng nắm bắt thông tin và kịp thời tìm hiểu nguyên nhân
các biểu hiện của học sinh cá biệt
Không phải tự nhiên mà trẻ trở thành cá biệt, đó là hậu quả của các vết
thương tâm lý mà do vô tình người lớn gieo vào đầu óc non nớt của trẻ lúc sống
trong môi trường gia đình như: bố mẹ bỏ nhau, bố mẹ hay uống rượu, cãi vã,

2

3

4

Họ và tên

Biểu hiện cá biệt
Hay bỏ học, xin tiền
Nguyễn Đình Dũng
đóng góp rồi chi dùng
(Lớp A6 – niên khóa
vào các mục đích riêng,
2013 - 2016)
cắm đồ, thậm chí mượn
đồ của bạn để cắm…
Trần Văn Trường
Hay bỏ học, ham mê chơi
(Lớp A6 – niên khóa điện tử…
2013 - 2016)

Hoàn cảnh
Bố mẹ đều bận đi
làm, học lực yếu.

Học sinh lưu ban, bố
mẹ ít có thời gian
quan tâm, nhà xa…,
học lực yếu.

(năm học 2016-2017) bài.
Lê Thị Hồng Chinh
Không chú ý học, hay sử Bố mẹ ít quan tâm ...
8 Lớp 10A9
dụng điện thoại, trang
(năm học 2016-2017) điểm lòe loẹt, yêu sớm ...
2.3.2. Xây dựng quan hệ tin cậy, tôn trọng, thân thiện vớí học sinh cá
biệt. Xây dựng một tập thể lớp biết đoàn kết, tương trợ lẫn nhau.
Xây dựng môi trường lớp học thân thiện nhằm đáp úng các nhu cầu được
yêu thương, đuợc tôn trọng và có giá trị của từng thành viên trong tập thể lớp,
đặc biệt là đối với những học sinh chán nản, chậm tiến. Bời vì môi trường thân
thiện chứa đựng sự cảm thông, chia sẻ, hợp tác, yêu thương, tôn trọng, được
thừa nhận, không phân biệt đổi xử với tất cả học sinh thuộc các thành phần xã
hội khác nhau. Giúp học sinh nhận thấy mình có giá trị, mình có khả năng, mọi
người yêu quý, tôn trọng và tin tưởng mình sẽ thay đổi. Cuộc sống và tương lai
của bản thân, của gia đình đang rất cần sự cố gắng vầ thay đổi của chính các em.
Khi tập thể lớp có tinh thần đoàn kết cao, có ý thức xây dựng , nề nếp tốt
sẽ có vai trò tích cực trong giáo dục học sinh cá biệt. Bên cạnh việc lựa chọn cán
sự lớp, đặc biệt là lớp trưởng - cánh tay đắc lực của mình thì tôi cũng quan tâm
đến việc sắp xếp chỗ ngồi . Tôi luôn sắp xếp cho một cán sự lớp ngồi cạnh và
chịu trách nhiệm kèm cặp học sinh cá biệt. Ví dụ: Tôi xếp em Nguyễn Đức
Mạnh ngồi cạnh lớp phó học tập là Trần Thị Minh Châu vì Châu học giỏi, có
khả năng thuyết phục người khác; Tôi xếp em Lê Thị Hồng Chinh ngồi cạnh
Nguyễn Văn Toàn vì Toàn điềm đạm, biết lắng nghe, chia sẻ ; Phạm Văn Dũng
ngồi cạnh Nguyễn Trọng Hải –lớp trưởng – vì 2 em từng là bạn học cấp 2, lại
gần nhà nhau…
Thường lứa tuổi HọC SINH dễ bị ảnh hưởng những thói hư tật xấu nhưng
cũng dễ tiếp thu những điều hay lẽ phải, dễ hòa mình vào những trò chơi có tính
tập thể, tính giáo dục cao. Do đó , việc phân công một nhóm bạn tốt, cùng hoàn
cảnh, cùng sở thích, uớc mơ ... sinh hoạt, học tập với học sinh cá biệt dần dần

gũi. Thái độ trò chuyện chân thành, xem các em như em, như con mình đã giúp
tôi đưa các em ra khỏi thế giới ảo hoặc những buổi lang thang lêu lổng, các em
biết lắng nghe, trở nên hòa đồng hơn …
Muốn thay đổi hành vi của học sinh cá biệt một cách hiệu quả, giáo viên
cần có sự hợp tác của học sinh. Do đó, chủ động tiếp xúc với các em để nắm bắt
về điều kiện và hoàn cảnh, tâm tư, sức khỏe... của học sinh; động viên, an ủi
giúp cho các em có hoàn cảnh gia đình khó khăn hoặc ốm đau, bệnh tật cố gắng
yên tâm học tập và biết vượt khó, vươn lên.
Tôi sắp xếp thời gian cùng cán bộ lớp tới thăm gia đình các học sinh cá
biệt. Với những học sinh khó khăn về kinh tế , tôi cố gắng huy động sự ủng hộ
từ nhiều phía như: Đề xuất lên Hội chữ thập đỏ nhà trường xin cứu trợ thường
xuyên (hoặc cứu trợ đột xuất cho các em) , quyên góp “ Tết vì bạn nghèo” mỗi
9


dịp Tết đến, xuân về...Tôi cũng chia sẽ với phụ huynh về tâm lí lứa tuổi của các
em để phụ huynh gần các em hơn.
2.3.4. Tạo điều kiện để các em phát huy sở trường, đam mê, đồng thời
khích lệ, động viên, khen thưởng kịp thời.
Các em học sinh cá biệt tuy học lực yếu nhưng bù lại lại có những năng
khiếu đặc biệt như văn nghệ, thể dục, thể thao, vi tính,… Những khả năng này,
nhà trường có thể phát huy để các em có thể góp sức vào phong trào hoạt động
của nhà trường và từ đó có thể định hướng cho các em theo đúng sở trường…
Giáo dục học sinh cá biệt chỉ có thể : “Bớt lời, nới tay” mới hiệu quả.
Tin tưởng giao công việc tập thể phù hợp với khả năng của học sinh cá biệt.
Tổ chức hoạt động tập thể, hoạt động nhân đạo để tạo điều kiện cho học sinh cá
biệt tham gia, xây dựng môi trường lành mạnh, tích cực, để các em có cơ hội tự
thể hiện mình. Công tác này thực sự đặc biệt có ý nghĩa đối với học sinh trầm
cảm, tự ti. Các em sẽ mạnh bạo, tích cực hơn trong học tập và rèn luyện. Cho
các em tham gia và thực hiện tốt các chuyên đề ngoại khoá, rèn luyện kỹ năng

Khen ngợi trước, phê bình sau:
Những học sinh cá biệt thường hay mắc lỗi, nhiều khi là lỗi nghiêm trọng.
Nếu phê bình ngay cũng không nên vì sẽ làm tổn thương đến lòng tự trọng của
học sinh và đôi khi gây nên sự phản kháng ở các em. Sự phê bình, trách cứ nặng
nề sẽ không đem lại hiệu quả như mong muốn. Nhưng khi các em mắc lỗi quá
nhiều thì không thể không phê bình, uốn nắn. Vậy nên tôi chọn cách khen ngợi
trước, phê bình sau .
Thường thì học sinh cá biệt luôn muốn làm điều gì đó để được người khác
chú ý đến mình. Vấn đề là trước khi phê bình, giáo viên chủ nhiệm phải tìm ra
được lí do để khen ngợi. Bắt đầu bằng một sự khen ngợi sẽ làm cho học sinh dễ
tiếp thu sự phê bình hơn.
Phê bình gián tiếp, khéo léo, tế nhị
Khi bất ngờ bắt gặp học sinh cá biệt mắc lỗi , không nên phê bình, trách
mắng ngay. Phê bình hay quát mắng ngay lúc đó sẽ làm cho các em xấu hổ, làm
tổn thương đến lòng tự trọng của học sinh. Trong tình huống đó, tôi nhắc nhở
nhẹ nhàng. Những học sinh cá biệt sẽ hiểu thiện ý của giáo viên, không những
các em vui vẻ tiếp thu mà còn cảm phục cách ứng xử khéo léo của thầy, cô giáo.
Từ đó, mới thu phục được các em.
Giữ thể diện cho học sinh cá biệt, không nên ra lệnh cho học sinh.
Học sinh cá biệt vẫn có thể diện của mình. Nhiều khi , có giáo viên kết tội
lỗi lầm của học sinh cá biệt, đe dọa các em, chê bai các em trước mặt bạn bè,
không để ý đến thể diện của các em, xem đó là chuyện bình thường. Nhưng theo
tôi, đó là một sai lầm nghiêm trọng. Ví dụ : nếu có hai học sinh tranh cãi về một
vấn đề và kéo mình vào cuộc làm trọng tài. Đương nhiên, em nào cũng muốn
phần thắng thuộc về mình. Trong tình huống đó, tôi phải xem xét cẩn thận và
tìm ra những điểm có lí của mỗi bên. Không nên kết luận ngay ai đúng, ai sai.
Nên giữ thể diện cho học sinh trước mặt đối phương, sau đó có thể gặp từng em
để trao đổi.
Học sinh cá biệt không thích bị ra lệnh và làm theo mệnh lệnh của giáo
viên. Thay vì ra lệnh cho học sinh làm một việc gì đó thì tôi để học sinh cá biệt

điểm, phê bình, mà phải tìm ra và xác định đúng nguyên nhân đã tác động đến
các em làm cho các em mắc sai lầm, vi phạm, vận dụng những điều khoản trong
nội qui, trong qui định xếp loại của Thông tư 40 làm cho các em thấy được
phạm vi vi phạm ở mức độ nào và nêu ra hướng cho các em khắc phục. Giáo
viên chủ nhiệm nêu những việc làm tốt, những cố gắng nỗ lực của các thành
viên trong lớp để xây dựng tập thể lớp thành lớp tiên tiến … với thành tích như
vậy thì không được bất cứ thành viên nào trong lớp phá vỡ. Ngoài ra, cần phải
đánh giá nhận xét chu đáo, nêu gương người tốt, việc tốt để các em noi theo, hạn
chế những vi phạm nội qui lớp học, trường học .
Các tiết sinh hoạt lớp chủ nhiệm, tôi để cho lớp trưởng, tổ trưởng thực hiện
công việc tổng kết công tác tuần, thông qua các kết quả thi đua đã được đánh giá
dựa vào tiêu chí cho điểm, xếp loại. Sau đó, tôi sẽ đưa ra các hình thức thưởng
phạt hợp lí. Thông thường, khi các học sinh cá biệt vi phạm, tôi trực tiếp gặp gỡ

12


các em trước, trao đổi với các em, tìm hiểu nguyên nhân và để các em được lựa
chọn một hình phạt đưa ra vào tiết sinh hoạt đầu tuần sau. Như vậy, các em sẽ
chấp nhận chứ không phản kháng.
Trong các tiết sinh hoạt, tôi thường đưa ra các tình huống và yêu cầu các
em thảo luận để giải quyết. Đó có thể là những tình huống xảy ra trong thực tế,
cũng có thể là những câu chuyện tôi đọc được trong một cuốn sách, trên một
trang mạng nào đó. Những học sinh cá biệt thường được tôi lựa chọn để nêu
quan điểm đầu tiên. Tôi để các em được thảo luận nêu ý kiến của mình. Sau đó,
nhẹ nhàng uốn nắn suy nghĩ và hành vi của các em.
Đôi khi, tôi tổ chức các tiết sinh hoạt theo giới. Những vấn đề nổi cộm
trong mỗi giới được tôi đưa ra để khuyên bảo, nhắc nhở. Nhờ vậy, kĩ năng sống
của các học sinh cá biệt nói chung và của học sinh lớp tôi được trang bị khá tốt.
Bên cạnh đó, trước mỗi buổi họp phụ huynh tôi chuẩn bị nội dung rất kĩ

2.4. Hiệu quả khi sử dụng những biện pháp giáo dục học sinh cá biệt ở
lớp 12A6 và 10A9 – Trường THPT Đông Sơn 1.
Các biện pháp trên có liên quan chặt chẽ với nhau đã và đang được tôi thực
hiện. Tôi cũng hiểu rằng: Thực tiễn giáo dục học sinh cá biệt là rất khó khăn và
không phải học sinh cá biệt nào cũng giáo dục thành công. Dù vậy, tôi vẫn đang
hàng ngày nỗ lực, cố gắng, học hỏi để thực hiện tốt công việc này.
Qua học hỏi bạn bè đồng nghiệp, bằng kinh nghiệm của bản thân, tôi đã áp
dụng các biện pháp trên trong quá trình làm công tác chủ nhiệm và giáo dục học
sinh cá biệt. Kết quả đạt được rất khả quan. Các phong trào bề nổi của lớp luôn
được đánh giá cao tạo được hiệu quả tích cực trong việc khuyến khích học sinh
phát triển các kĩ năng sống, giúp học sinh cá biệt hòa đồng hơn và tiến bộ rõ rệt
về học tập, rèn luyện.
Bảng thống kê kết quả xếp loại các lớp chủ nhiệm theo thời điểm:
Hạnh kiểm học sinh qua các năm học
(SL: số lượng học sinh; TL: tỉ lệ %)
Tốt

Lớp

Khá

HK1

11

TL
(%)
29

13


Yếu

8

TL
(%)
21

42.1

4

16

42.1

63,2

10

30

78.9

30

HK1
10A9
HK2


2

5.3

2

5.3.

26,4

3

7.8

1

2,6

1

2,6

8

21.1

0

0


23

52.1

3

6.9

2

4.6

0

2

22

50

19

43.1

3

6.9

0


SL

SL

14


III. KẾT LUẬN, KIẾN NGHỊ
3.1. Kết luận
Ở cấp học , bậc học nào hầu như cũng có học sinh cá biệt. Nhưng có lẽ bậc
học THPT là có nhiều nhất vì các em đang độ tuổi trưởng thành, tập làm người
lớn, nhưng lại chưa chín chắn trong suy nghĩ và hành động nên dễ sa ngã. Tạo
sự chuyển biến tích cực ở học sinh cá biệt không phải điều dễ dàng, cũng không
thể nóng vội một vài lần trò chuyện không được là thẳng tay phạt các em. Công
tác giáo dục học sinh cá biệt đòi hỏi giáo viên chủ nhiệm phải cực kì kiên trì.
Giáo dục học sinh cá biệt là một quá trình, không thể một sớm một chiều có thể
thay đổi được. Công tác giáo dục học sinh cá biệt luôn là một thử thách rất lớn
đối với mỗi giáo viên chủ nhiệm, song làm tốt được điều này thì mới thực sự trở
thành một nhà giáo dục theo đúng nghĩa.
Thầy cô luôn là tấm gương về đạo đức, về lối sống, về trình độ chuyên
môn. Đồng thời thầy cô chủ nhiệm phải luôn có tình cảm yêu thương, niềm tin
động viên học sinh bởi “Chỉ có tấm lòng mới đánh thức được tấm lòng”. Giáo
viên cần phải khéo léo, linh hoạt, trong mỗi trường hợp cụ thể, biết tập hợp và
sử dụng sức mạnh của các yếu tố giáo dục nhằm giáo dục học sinh cá biệt.
Với đề tài “Một số biện pháp giáo dục học sinh cá biệt ở lớp 12A6 và
10A9 – Trường THPT Đông Sơn 1”, sáng kiến của tôi mong muốn góp thêm
một tiếng nói, một kinh nghiệm có ý nghĩa thực tiễn trong công tác giáo dục
hiện nay. Đề tài của tôi chắc chắn không tránh khỏi những thiếu sót. Rất mong
nhận được ý kiến đóng góp của quý thầy cô để bài viết được hoàn thiện hơn,

trong cuộc sống./.
XÁC NHẬN
CỦA THỦ TRƯỞNG ĐƠN VỊ

Thanh Hóa, ngày 20 tháng 5 năm 2017
Tôi xin cam đoan đây là SKKN của mình viết,
không sao chép nội dung của người khác.
Người viết SKKN

Trịnh Thị Hương

16


Tài liệu tham khảo
1. Dự thảo chương trình giáo dục phổ thông tổng thể năm 2015 của Bộ giáo dục
và Đào tạo.
2. Nguồn Internet – Báo mới.com (Ngày 13/4/2017)
3. Tài liệu BDTX môđun 3 THPT năm học 2016 – 2017.

17


DANH MỤC
CÁC ĐỀ TÀI SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM ĐÃ ĐƯỢC HỘI ĐỒNG
ĐÁNH GIÁ XẾP LOẠI CẤP PHÒNG GD&ĐT, CẤP SỞ GD&ĐT VÀ CÁC
CẤP CAO HƠN XẾP LOẠI TỪ C TRỞ LÊN
Họ và tên tác giả: Trịnh Thị Hương
Chức vụ và đơn vị công tác: Phó Tổ trưởng tổ Sử - Địa – GDCD.






Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status