SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO ĐỒNG NAI
Đơn vị Trường THPT Võ Trường Toản
Mã số: ................................
(Do HĐKH Sở GD&ĐT ghi)
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
MỘT SỐ BIỆN PHÁP GIÁO DỤC
HỌC SINH CÁ BIỆT Ở TRƯỜNG THPT
VÕ TRƯỜNG TOẢN
Người thực hiện: Nguyễn Đức Thẩm
Lĩnh vực nghiên cứu:
- Quản lý giáo dục
- Phương pháp dạy học bộ môn: .............................
(Ghi rõ tên bộ môn)
- Lĩnh vực khác: .......................................................
(Ghi rõ tên lĩnh vực)
Có đính kèm: Các sản phẩm không thể hiện trong bản in SKKN
Mô hình
Đĩa CD (DVD)
Phim ảnh
(các phim, ảnh, sản phẩm
1 phần mềm)
hóa” học sinh “cá biệt” trong nhiều nhà trường hiện nay chưa đồng bộ, chưa thật sự
đem lại hiệu quả. Nhiều giáo viên chủ nhiệm, nhất là những giáo viên có tuổi đời,
tuổi nghề còn ít đã gặp vô vàn khó khăn trong công. Nhiều giáo viên không quan tâm
tới những học sinh cá biệt làm cho các em có nhiều mặc cảm, tự ti trước bạn bè và
càng ngày càng sai phạm nhiều hơn.
Làm thế nào để giúp học sinh “cá biệt” xóa bỏ được mặc cảm, tự ti và cố gắng,
nỗ lực vươn lên trong học tập? Đây là câu hỏi lớn mà nhiệm vụ trả lời thuộc về cả
những người làm công tác Quản lý giáo dục lẫn đội ngũ giáo viên bộ môn, giáo viên
chủ nhiệm.
2
Là một một cán bộ quản lý, một giáo viên đứng lớp trong nhà trường phổ
thông cùng với việc không ngừng trau dồi nghiệp vụ để đem đến cho các em những
tri thức quý báu, tôi luôn trăn trở và suy nghĩ: làm thế nào để nâng cao việc giáo dục
toàn diện cho học sinh nói chung và học sinh cá biệt nói riêng nhằm góp phần giáo
dục thế hệ trẻ phát triển về mọi mặt để trở thành một người công dân tốt cho xã hội.
Vì vậy, trong quá trình giảng dạy, quản lý tôi chọn đề tài: “Một số biện pháp giáo dục
học sinh cá biệt ở trường THPT Võ Trường Toản” để nghiên cứu.
II. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
1. Khái niệm
Một cách chung nhất: Học sinh cá biệt là những học sinh có cá tính khác biệt
so với số đông học sinh bình thường.
Trong thực tế, học sinh cá biệt (HSCB) là thuật ngữ thường dùng của nhà
trường, thầy cô giáo chỉ những học sinh thường xuyên có các biểu hiện: không chấp
hành quy định về nhiệm vụ học sinh, gây gỗ đánh nhau, bỏ giờ, trốn học, không chấp
hành nội qui nhà trường, vô lễ với các thầy cô hoặc lôi kéo của bạn bè về phía mình
nhằm thỏa mản cá tính hoặc thỏa mản nhu cầu giải tỏa tâm lý bị ức chế về hoàn cảnh
của bản thân mình.
HSCB là hiện tượng tâm lý ở lứa tuổi thanh thiếu niên, theo đó, các em dễ bị
3
2.2. h n đ
t
n
h nh k m
Những học sinh cá biệt hay:
Chốn học đi chơi điện t , lừa dối cha mẹ, thầy cô, giả tạo chữ kí của bố mẹ
trong sổ liên lạc hoặc giấy xin ph p nghỉ học, chặc các tin nhắn điện thoại từ nhà
trường về cho PHHS.
Càn quấy, ý thức tổ chức kỷ luật kém, thích “chơi trội” theo kiểu con nhà đại
gia giàu có cụm lại với nhau đối lập với tập thể lớp. Họ thích ăn chơi phá phách hơn
là học hành t tế; Dọa nạt bạn b thậm chí đánh nhau lảng tránh các hoạt động tập
thể; tiêu sài các khoản phí của bố mẹ cho để đóng góp với nhà trường; thậm chí còn
có cả ăn cắp, ăn trộm, “cắm quán” tài sản không chỉ của mình mà còn lừa “mượn”
của bạn.
em thường, trêu ngươi, khiêu khích trước thầy cô, bạn b nhằm thỏa mãn
những nhu cầu tinh nghịch được xắp s n trong đầu óc chúng; h o l o, nhanh trí
trong việc giở những trò tinh nghịch với thầy cô, bạn b Có cách nói năng, ăn mặc,
đi đứng hành động khác thường để gây sự chú ý.
Có biểu hiện thích yêu đương, phân tán tư tưởng, thích trưng diện, hay cãi lí
với bố mẹ và thầy cô; s n sàng bỏ học đi chơi c ng bạn bè…
3. Nguyên nhân
Có nhiều yếu tố làm cho HS trở thành HSCB, ở đây chỉ nêu một số nguyên
nhân tác động trực tiếp đến HS làm nảy sinh những tư tưởng, tình cảm không lành
III. TỔ CHỨC THỰC HIỆN CÁC GIẢI PHÁP
Trong quá trình làm việc tại trường THPT Võ Trường Toản cũng gặp rất nhiều
học sinh cá biệt. Để quá trình giáo dục học sinh cá biệt có hiệu quả trong những năm
học vừa qua ở nhà trường, đưa ra một số giải pháp như sau:
1. Giải pháp 1: Đối với n
trường
1.1. Xây d n nộ quy - khun xử ý kỷ uậ
Muốn học sinh thực hiện tốt nề nếp của nhà trường thì nội quy phải được xây
dựng trên cơ sở Điều lệ trường trung học (những quy định đối với học sinh) và đảm
bảo ngắn gọn, rõ ràng. Muốn vậy việc xây dựng nội quy trường học cần được đưa ra
bàn bạc, thảo luận đóng góp ý kiến rộng rãi trong Hội đồng Sư phạm nhà trường,
trong Ban Đại diện Cha mẹ học sinh, cho học sinh tham gia đóng góp ý kiến. Đồng
thời cũng cần xây dựng “Bảng quy định những lỗi vi phạm - khung kỷ luật và mức độ
hình phạt” tương thích với những lỗi vi phạm mà học sinh thường mắc phải. Tổ chức
cho học sinh học tập và chỉ đạo GVCN sinh hoạt kỹ lưỡng ở lớp nhiều lần vào đầu
năm học. Nội quy và “Bảng quy định những lỗi vi phạm - khung kỷ luật và mức độ
hình phạt” được niêm yết công khai ở ngay khu hành lang nơi học sinh mới bước vào
trường, ở mỗi lớp để học sinh xem hàng ngày và tự nhắc nhở nhau, tự hạn chế lỗi vi
phạm.
1.2. Tổ chức h p PHHS định kỳ - gi m i quan h
r ờn à a đình
5
h ờng xuyên gi a Nhà
Để kênh thông tin trao đổi giữa nhà trường và PHHS được thông suốt và quy
định cách làm việc giữa nhà trường, GNCN và PHHS được thống nhất, hợp lý, nhà
Xây dựng đội ngũ học sinh cốt cán ở các lớp về việc theo dõi nề nếp của học
sinh, nếu các bạn trong lớp có biểu hiện lạ như nghỉ học, hay đi trễ, hay vi phạm nội
quy của nhà trường thì báo ngay cho quản sinh hoặc ban giám hiệu nhà trường để có
biện pháp x lý kịp thời.
1.4. Xử ý h
s nh
ph m
6
Nếu có học sinh vi phạm Nội quy đã được học tập rộng rãi thì GVCN sẽ làm
việc với học sinh đó, theo các bước như sau:
Trước tiên, GVCN yêu cầu học sinh tường trình lại vụ việc vi phạm, GVCN
cần phân tích những tình tiết dẫn đến sai sót hoặc khuyết điểm để giúp học sinh nhận
thấy được lỗi lầm của mình.
Sau đó, yêu cầu học sinh viết bản tường trình nêu rõ cụ thể từng tình tiết của
những lỗi đã mắc phải, tự nhận xét việc đã làm với mức độ đúng sai như thế nào, bản
thân học viên tự đối chiếu với khung hình phạt đã được niêm yết ở lớp, tự nhận mức
kỷ luật hình phạt và làm bản cam kết không tái phạm. Viết xong, GVCN yêu cầu học
sinh phải đọc lại một cách to, rõ để nhập tâm. Chỗ nào câu văn viết mơ hồ, ý tứ, tình
tiết chung chung, tránh tội thì VCN hướng dẫn và buộc học sinh phải viết lại cho
thật cụ thể, chính xác thực tế. Đã gây ra lỗi thì phải can đảm trình bày hết các lỗi lầm,
có như thế mới “nhập tâm” mà tự s a chữa, tự phòng tránh sau này. VCN lưu bản
tường trình và cam kết vào hồ sơ Chủ nhiệm lớp.
Trong tiết Sinh hoạt lớp, GVCN cho học sinh đọc lại bản tường trình về những
lỗi đã vi phạm cho tập thể lớp nghe, theo dõi và giúp đỡ bạn để không mắc phải
những lỗi lầm nữa, GVCN có ý kiến và công bố việc xếp loại Hạnh kiểm tháng đối
nghe, đồng thời yêu cầu học sinh có ý kiến tự nhận xét về những việc làm vi phạm
của mình và tự nhận mức hình thức kỷ luật. Trong buổi họp kỷ luật, c c em được
nghe sự giáo dục của cả hội đồng kỷ luật của nhà trường, đặc biệt trong cuộc họp
luôn có mặt của một VCN có uy tín trong trường cũng đóng góp ý kiến cho các em.
Để việc công tác giáo dục mang nặng tính giáo dục hơn tính trừng trị thì cả
giáo viên chủ nhiệm lẫn lãnh đạo nhà trường cũng cần nắm rõ hoàn cảnh gia đình của
học sinh, chú ý đến công việc làm ăn kinh tế thường ngày của cha mẹ (hoặc người
trực tiếp nuôi dưỡng), những khó khăn gian khổ, những ước mơ, niềm tin yêu của cha
mẹ dối với con cái, để Nhà trường tác động đến sự nhận thức, đến tình cảm, đến bổn
phận, đến trách nhiệm, đến sự tỉnh ngộ của các em.
Với tình cảm thương yêu như vậy, chắc chắn sẽ tác động đến sự suy nghĩ sai trái, cá
biệt trong tư tưởng các em, xoá đi mặc cảm bị mọi người ghét bỏ, là người không ra
gì, là kẻ quậy quạng… yêu cầu các em nói lên sự cam kết, hứa hẹn trước sự chứng
kiến của Lãnh đạo nhà trường, GVCN, PHHS về việc quyết tâm s a chữa sai lầm và
quyết tâm làm lại từ đầu để trở thành người tốt, xứng đáng với niềm tin yêu của gia
đình, của Thầy Cô. Từ đó, tuỳ thuộc vào sự hối cải, nhận thức được lỗi lầm, mức độ
thành thật nhận lỗi vi phạm mà có hình thức kỷ luật phù hợp, nhưng cần phải có sự
khoan dung và độ lượng.
Nếu trình tự kiểm điểm học sinh cá biệt vi phạm như thế thì PHHS và cả học
sinh không thể nào trách cứ nhà trường quá khắt khe, không tạo cơ hội cho các em
s a chữa, không tạo điều kiện cho các em tiến bộ.
Nhà trường cần tổ chức cho học sinh học tập và quán triệt “những lỗi vi phạm
và khung hình phạt”, yêu cầu những học sinh nếu có vi phạm dựa vào khung kỷ luật
để tự nhận mức x lý kỷ luật tương xứng. X lý như thế thì mới “tâm phục, khẩu
phục” và ngăn ngừa những hậu quả xấu có thể xảy ra. Người thầy đừng bao giờ quên
là khi x lý học sinh có lỗi là người thầy phải luôn có cái “tâm” và có “lòng khoan
dung” khi các em đã biết hối lỗi.
8
pháp giúp giáo viên chủ nhiệm định hướng đổi mới công tác chủ nhiệm cho phù hợp
với tình hình thực tế của địa phương mang ý nghĩa quan trọng đối với công tác giáo
dục ý thức đạo đức đối với học sinh cá biệt trong giai đoạn hiện nay.
Nội dung cụ thể như sau:
9
Thứ nhất: Tiến hành tìm hiểu cụ thể hoàn cảnh từng gia đình học sinh của lớp
mình trong đó có học sinh “cá biệt” như là: thu nhập hàng ngày của gia đình, quan hệ
giữa các thành viên trong gia đình như thế nào? Có êm ấm hạnh phúc hay không? Có
nhiều thành kiến gây ra xào xáo bất đồng, mức độ quan tâm đến việc học của gia đình
đối với học sinh... mục đích là để hiểu rõ từng đối tượng học sinh để có biện pháp
giáo dục ph hợp.
Thứ hai: hi ch p đầy đủ các hoạt động của lớp, của từng học trong sổ chủ
nhiệm. Đối với học sinh, yêu cầu mỗi em phải có một cuốn “Sổ liên lạc giữa GVCN
với gia đình”, trong giờ sinh hoạt tự học sinh ghi vào để biết các công việc của tuần
tới, biết những sai phạm tuần qua, gia đình biết những ưu khuyết của con và của lớp,
biết những khoản đóng góp được phổ biến, biết những buổi học phụ đạo các môn.…
Qua sổ liên lạc phụ huynh cũng nắm bắt kịp thời những vi phạm của co mình để nhắc
nhở điều chỉnh kịp thời, biết sự tiến bộ của con em mình c ng động viên khuyến
khích để các em có động lực phát huy tốt hơn.
Thứ ba: Thường xuyên trò chuyện, quan tâm, gần gũi, nhắc nhở, động viên học
sinh học tập, có thái độ thân thiện với học sinh, nhất là những học sinh “cá biệt”.
Điều quan trọng phải làm sao tạo cho học sinh có cảm giác là giáo viên như là một
người bạn thân, bạn tâm tình, s n sàng lắng nghe chia sẻ ý kiến của mình, khi mình
vui, buồn đều có thể chia sẻ với thầy cô, khích lệ mình khi mình khó khăn trong gia
đình, bế tắc trong học tập.
Thứ tư: Trong quá trình chủ nhiệm, cần thường xuyên và hướng dẫn cụ thể
những thắc mắc khó khăn mà học sinh hỏi, đối x công bằng giữa các em học sinh
trong lớp tránh để học sinh cá biệt cảm thấy mình lạc lõng, cảm giác vì mình học dở,
vì học sinh thân yêu”
Hiểu biết tâm lý lứa tuổi của học sinh lớp mình chủ nhiệm. Cuộc sống nội tâm
của học sinh ở lứa tuổi này còn nhiều mặt dễ biến đổi. Do các quá trình tâm lý chưa
ổn định và sự tác động rất lớn của xã hội, hoàn cảnh sống....
Biết sự kiềm chế, bình tĩnh trong mọi tình huống, kiên định thực hiện thiên
chức và nhiệm vụ của người giáo viên.
Có sự nhạy cảm sư phạm biết dùng yếu tố tình cảm như một nghệ thuật sư
phạm để cảm hóa học sinh cá biệt.
Bên cạnh đó GVCN cần lưu ý:
Những điều nên làm:
Đối với học sinh cá biệt, người GVCN phải biết nhìn bằng con mắt của tình
thương và sự thông cảm thật sự xem học sinh như người thân của mình, GVCN nên
có cái hiền từ bao dung của người mẹ, người cha cái gần gũi cảm thông của người
anh, người chị và cái thân thiết của một người bạn.
Nhẹ nhàng phân tích những mặt ưu, hạn chế, đúng sai trong nhận thức, suy
nghĩ của các em... Giúp các em nhận biết những ưu điểm, hạn chế của mình và biết
khuyến khích các em phát huy mặt mạnh của mình. Trước tập thể lớp hoặc khi gặp
11
riêng các em không nên nói những câu phũ phàng như “Ở em ch ng có điểm nào tốt
cả”, “Người như em thật ch ng ra gì”, “cuộc đời em rồi ch ng có ra làm sao đâu”...
Giúp học sinh cá biệt khắc phục s a chữa những sai phạm của mình và chú ý
theo dõi, động viên khích lệ kịp thời. GVCN phải luôn nghĩ rằng một lời khen học
sinh cá biệt sẽ có tác dụng hơn là một bản tự kiểm. Và chúng ta cũng biết : quá cứng
thì dễ gãy, quá mềm thì khó uốn. Trong sự nghiệp trồng người thì học sinh cá biệt
giống như cái cây không mộc th ng. Đối với loại cây này người GVCN phải gia công
nhiều hơn, mất thời gian nhiều hơn. Thành công trước mắt là học sinh ra trường với
học lực khá giỏi, hạnh kiểm tốt. Nhưng lâu dài thì sau học sinh ra trường khi gặp lại
mình còn biết gật đầu chào, biết nói một lời thăm hỏi, biết nhắc lại những sai phạm
thái độ nhiệt tình, về tính kiên trì, lòng độ lượng bao dung thầy cô phải làm tấm
gương cho học sinh noi theo. Đối với học sinh, bản thân các em là ngọn đuốc và
người thầy chính là người thắp sáng cho những ngọn đuốc đó b ng cháy. Nói như
vậy có nghĩa là sự lớn lên về tình cảm của học sinh một phần tuỳ thuộc sâu sắc vào
tấm lòng, tâm hồn và lẽ sống của thầy. Khi thầy lên lớp phải để lại ấn tượng tốt đẹp
cho học sinh , tạo bầu không khí thoải mái, học sinh mong muốn được tiếp xúc tâm
sự, giãi bày những băn khoăn của mình; học sinh có niềm tin vững chắc vào lời dạy
bảo của thầy cô và cảm nhận thấy sự tiến bộ trong học tập, trong quan hệ với mọi
người sau mỗi lần tiếp xúc với thầy cô.
Việc giáo dục HS “cá biệt” thực sự là một cuộc th thách về trình độ, về bản
lĩnh, về năng lực sư phạm, về lòng yêu nghề và tình yêu thương con người của người
thầy. Chỉ có những người thầy có tính kiên nhẫn, có lòng yêu nghề, yêu thương học
sinh hết mực thì mới có thể cảm hóa được những HS “cá biệt”. Trước hết, người thầy
cần phải tìm hiểu kĩ hoàn cảnh của từng em, để có biện pháp giáo dục cho thích hợp,
sinh động, sáng tạo, tránh sự đơn điệu lặp đi lặp lại nhiều lần như phạt chép bài, phạt
viết kiểm điểm. Có nhiều giáo viên phạt hoài, phạt hoài nhưng HS vẫn cứ lì lợm,
không hề tiến bộ. X lí các tình huống phải có tính nghệ thuật sư phạm cao. Có khi
phải hòa mình vào các em, cùng trao đổi, c ng chơi,... với các em để cảm hóa các em.
Tránh thành kiến, nóng giận như khi có sự việc xảy ra, chưa biết rõ nguyên nhân đã
mắng ch i, hăm dọa học sinh. Cần kiên nhẫn giáo dục các em. Để bỏ được một tật
xấu thì cần phải có thời gian dài chứ không thể một sớm một chiều. Cần quan tâm
đến việc học tập của HS, tận tình giải đáp những chỗ các em chưa hiểu. Cần sắp xếp
các em ngồi cạnh những HS có ý thức học tập tốt và ở những vị trí dễ kiểm soát.
Động viên, mạnh dạn giao việc cho các em khi thấy các em có chút ít tiến bộ. Làm
như vậy các em sẽ cảm thấy tự tin, thấy mình cũng có những điểm tốt được thầy cô
tin tưởng. Các em sẽ dần cảm mến thầy cô mà tiến bộ. Tuyệt đối không nên đuổi các
em ra khỏi lớp học khiến các em không hiểu bài, giờ sau các em sẽ tiếp tục quậy phá.
Cần phối hợp tốt với phụ huynh, bàn biện pháp giáo dục các em ở gia đình như lập
thời gian biểu cụ thể, nhắc nhở kiểm tra các em ở nhà,... hông nên hăm dọa g i thư
mời đến gia đình mỗi khi các em mắc lỗi. Hãy đến gia đình gặp gỡ trực tiếp phụ
dạy, các thầy cô luôn đặt ra các tình huống sư phạm, tình huống đời thường để học
sinh giải quyết. Phương pháp nhà trường là gắn thực tiễn vào bài học, phát huy khả
năng tư duy độc lập, tập cho học sinh làm quen với những kỹ năng mềm trong cuộc
sống.”
Kịp thời tuyên dương khen thưởng những học sinh có nhiều đóng góp, cũng
như học tập giỏi. “Các em học sinh cá biệt tuy học lực yếu nhưng bù lại lại có những
năng khiếu đặc biệt như văn nghệ, thể dục, thể thao, vi tính,… Những khả năng này,
nhà trường có thể phát huy để các em có thể góp sức vào phong trào hoạt động của
nhà trường và từ đó có thể định hướng cho các em theo đúng sở trường… iáo dục
học sinh cá biệt chỉ có thể “Bớt lời, nới tay” mới hiệu quả.”
14
Nhiều khi, các việc làm nhỏ nhất như lau bảng, giặt khăn, chính các thầy cô
cũng phải tự thân làm. Chính những việc làm giản đơn này sẽ dần dần hình thành ý
thức tự giác trong mỗi em học sinh. Và trong giờ học cũng thế, mỗi khi những em
học sinh này đ a nghịch thì thầy cô không phải dùng gậy gộc hay lời mắng ch i cay
cú mà thay vào đó là lời nói nhỏ nhẹ, tình cảm như những người bạn.
Bên cạnh đó, nhà trường còn thường xuyên tổ chức các buổi sinh hoạt, cắm
trại, ngoại khóa, tạo nên sân chơi bổ ích cho học sinh toàn trường.
IV. HIỆU QUẢ CỦA ĐỀ TÀI
Công tác giáo dục giáo dục học sinh các biệt trường THPT Võ Trường Toản đã
thu được một số thành công. Nhà trường đã nhận thức được việc giáo dục học sinh cá
biệt trong môi trường thực tiễn phối hợp giáo dục là hết sức cần thiết. Năm học 20152016 nhờ định hướng tốt, nhà trường đã có sự tiến bộ rõ rệt trong việc giáo dục học
sinh cá biệt. Tình trạng bỏ học, vi phạm nội quy vẫn còn, tuy vậy đã hạn chế được rất
nhiều, học sinh đến trường trong sự đoàn kết, thân ái, giúp đỡ nhau học tập và tu
dưỡng, không có hiện tượng bè phái trong tập thể các lớp. Các hoạt động giáo dục,
trong đó có giáo dục học sinh cá biệt cũng đi vào trọng tâm hơn, học sinh cá biệt
cũng tham gia các hoạt động của nhà trường, của lớp cũng nhiệt tình hơn. Có được
những kết quả như vậy thật đáng mừng, đó là do sự chỉ đạo của BGH, sự cố gắng
Số lớp
2014-2015
1473
42
479
14
424
13
570
15
2015-2016
1321
42
480
15
%
SL
%
SL
%
2014-2015
1287
87.37
140
9.50
46
3.12
2015-2016
1149
86.98
Năm học
SL
%
SL
%
SL
%
SL
%
SL
%
2014-2015
128
8.69
709
2.57
3
0.23
V. ĐỀ XUẤT, KHUYẾN NGHỊ KHẢ NĂNG ÁP DỤNG
1. Đối với n
trường
- Bồi dưỡng thêm về nhận thức, nâng cao nghiệp vụ và năng lực tổ chức công
tác giáo dục đạo đức cho học sinh nhất là giáo dục học sinh cá biệt cho toàn thể giáo viên
của trường.
- Chỉ đạo tổ chức thí điểm và sau đó nhân rộng điển hình ra phạm vi toàn
trường.
- Tăng cường công tác kiểm tra, đánh giá đối với công tác giáo dục học sinh cá
biệt.
- Phối, kết hợp với địa phương và các lực lượng xã hội khác. Đầu tư trang thiết
bị cơ sở vật chất, thiết bị dạy học trong điều kiện cho ph p để nâng cao dần chất
lượng giáo dục toàn diện , trong đó có giáo dục học sinh cá biệt của trường.
2. Đối với gi đìn p ụ huynh học sinh
16
Cần quan tâm hơn nữa đến việc học hành, rèn luyện của con em mình, tạo mối
liên hệ hai chiều với nhà trường để cùng phối hợp giáo dục học sinh cá biệt.
3. Đối với xã hội
- Có trách nhiệm trong việc xây dựng một môi trường học tập và vui chơi lành
mạnh cho HS.
1
BGH
Ban giám hiệu
2
CSVC
Cơ sở vật chất
3
GVCN
Giáo viên chủ nhiệm
4
HS
Học sinh
5
HSCB
Học sinh cá biệt
Học sinh tự tổ chứ v i
ơi, tự khẳng địn mìn trước cô giáo và tập th lớp
Học sinh tham gia các ho t động xã hội d trường tổ chức
Cẩm Mỹ, ngày 20 tháng 5 năm 2016
Người thực hiện
Nguyễn Đức Thẩm
21
MỤC LỤC
I. Lý do chọn đề t i ………………………………………………….. Trang 1
II. Cơ sở lý luận và thực tiễn ……………………………………….. Tr ng 2
III. Tổ chức thực hiện và các giải p áp ……………………………. Tr ng 4
IV. Hiệu quả c
đề t i ....…………………………………………... Tr ng 14
V. Đề xuất và khuyến nghị khả năng áp dụng …………………….. Tr ng 15
VI. Danh mục tài liệu tham khả …………..………………….…… Tr ng 16
VII. Phụ lụ ………………………………………………………….. Tr ng 17
22