skkn một số BIỆN PHÁP GIÁO dục học SINH cá BIỆT ở TRƯỜNG THPT võ TRƯỜNG TOẢN - Pdf 37

SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO ĐỒNG NAI
Đơn vị Trường THPT Võ Trường Toản
Mã số: ................................
(Do HĐKH Sở GD&ĐT ghi)

SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM

MỘT SỐ BIỆN PHÁP GIÁO DỤC
HỌC SINH CÁ BIỆT Ở TRƯỜNG THPT
VÕ TRƯỜNG TOẢN

Người thực hiện: Nguyễn Đức Thẩm
Lĩnh vực nghiên cứu:
- Quản lý giáo dục



- Phương pháp dạy học bộ môn: ............................. 
(Ghi rõ tên bộ môn)
- Lĩnh vực khác: ....................................................... 
(Ghi rõ tên lĩnh vực)

Có đính kèm: Các sản phẩm không thể hiện trong bản in SKKN
 Mô hình
 Đĩa CD (DVD)
 Phim ảnh  Hiện vật khác
MỘT SỐ BIỆN PHÁP GIÁO DỤC HỌC SINH CÁ BIỆT
(các phim, ảnh, sản phẩm phần mềm)
1



những người làm công tác Quản lý giáo dục lẫn đội ngũ giáo viên bộ môn, giáo viên
chủ nhiệm.
Là một một cán bộ quản lý, một giáo viên đứng lớp trong nhà trường phổ
thông cùng với việc không ngừng trau dồi nghiệp vụ để đem đến cho các em những
2


tri thức quý báu, tôi luôn trăn trở và suy nghĩ: làm thế nào để nâng cao việc giáo dục
toàn diện cho học sinh nói chung và học sinh cá biệt nói riêng nhằm góp phần giáo
dục thế hệ trẻ phát triển về mọi mặt để trở thành một người công dân tốt cho xã hội.
Vì vậy, trong quá trình giảng dạy, quản lý tôi chọn đề tài: “Một số biện pháp giáo dục
học sinh cá biệt ở trường THPT Võ Trường Toản” để nghiên cứu.
II. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
1. Khái niệm
Một cách chung nhất: Học sinh cá biệt là những học sinh có cá tính khác biệt
so với số đông học sinh bình thường.
Trong thực tế, học sinh cá biệt (HSCB) là thuật ngữ thường dùng của nhà
trường, thầy cô giáo chỉ những học sinh thường xuyên có các biểu hiện: không chấp
hành quy định về nhiệm vụ học sinh, gây gỗ đánh nhau, bỏ giờ, trốn học, không chấp
hành nội qui nhà trường, vô lễ với các thầy cô hoặc lôi kéo của bạn bè về phía mình
nhằm thỏa mản cá tính hoặc thỏa mản nhu cầu giải tỏa tâm lý bị ức chế về hoàn cảnh
của bản thân mình.
HSCB là hiện tượng tâm lý ở lứa tuổi thanh thiếu niên, theo đó, các em dễ bị
lôi cuốn, dễ bị tiêm nhiễm những thói hư tật xấu dẫn đến tình trạng bỏ học giữa
chừng và có nguy cơ phạm tội.
Với nghĩa đó, HSCB và giáo dục HSCB thực sự là nỗi day dứt của nhà trường,
gia đình và xã hội.
2. Phân loại và những biểu hiện của học sinh cá biệt
2.1. Những đối tượng cá biệt về học lực
Một là những em có trí tuệ và khả năng nhận thức bình thường nhưng rất lười

nhân tác động trực tiếp đến HS làm nảy sinh những tư tưởng, tình cảm không lành
mạnh làm ảnh hưởng đến sự hình thành nhân cách và làm hạn chế đến năng lực học
tập của các em.
Từ nhà trường: Nhà trường chưa có biện pháp phù hợp trong việc quản lí giáo
dục học sinh; chưa quan tâm đúng mức tới những HS có hoàn cảnh đặc biệt (có em
quá đầy đủ về vật chất, được chiều chuộng ngược lại có em quá khó khăn thiếu thốn
về vật chất hoặc những em có hoàn cảnh éo le, những em có cá tính khác thường…);
Hiện nay một số trường chưa tạo ra môi trường thân thiện thực sự khi các em đến
trường, làm cho các em thấy nhàm chán khi đến trường, có nhu cầu muốn tự thay đổi
và làm mới môi trương sống; từng giáo viên nhất là GVCN chưa trở tành chỗ dựa về
tinh thần, nơi các em muốn trao đổi mỗi lúc gặp khó khăn, giáo viên còn ngại khó,
ngại khổ, ngại va chạm, sợ bị xúc phạm khi đối diện với học sinh hư, thiếu tâm huyết
với nghề, chưa quan tâm phát hiện và ngăn chặn kịp thời những hành vi lệch lạc của
HS…
Từ gia đình: Là con của gia đình khá giả, ít con; con của cán bộ, công chức có
địa vị; con mồ côi hoặc gia đình ly tán; con gia đình nghèo khó, cha mẹ thiếu quan
tâm; học sinh có tâm – sinh - lý không được bình thường.
4


Từ bản thân học sinh: Học sinh THPT là giai đoạn tâm sinh lý có nhiều biến
đổi. Từ tuổi thiếu niên chuyển sang tuổi thanh niên, các em muốn khẳng định mình
bằng sự hiểu biết chưa hoàn thiện của mình; có thể do bản năng hoặc bệnh a dua đua
đòi hay bệnh lấy lệ. Thậm chí có em còn nghĩ mình làm như vậy là không sai. Khi
đạo đức yếu kém thì học lực của các em cũng tỉ lệ thuận với nó. Điều này sẽ dẫn đến
hệ quả không tốt, các em kiến thức bị hổng dẫn đến mất căn bản; điểm kiểm tra thấp
so với các bạn cùng lớp làm các em mặc cảm đưa đến hiện tượng sợ bị kiểm tra, chán
học và cuối cùng nảy sinh bỏ học.
Từ xã hội: Thực trạng những mặt xấu của xã hội; Trong điều kiện xã hội hiện
nay từng giờ từng ngày những cám dỗ, ảnh hưởng tiêu cực của xã hội dội vào nhà

khi cần thiết, nếu gia đình chưa có điện thoại) để tiện việc liên hệ và thông tin những
vấn đề có liên quan đến việc học tập, hạnh kiểm của con em. GVCN cho PHHS số
điện thoại của GVCN, Quản sinh và văn phòng để phụ huynh có thể liên lạc lúc cần
thiết. Ngoài ra, GVCN cũng thông báo cho PHHS được biết kênh thông tin trao đổi
giữa nhà trường với HS thông qua tin nhắn của VNPT.
1.3. Đối với Ban giám hiệu
Học sinh rất sợ Ban giám hiệu mời lên gặp nên khi được phân công phụ trách
mảng ngoài giờ và quản lý học sinh, ngay từ đầu năm tôi đã cho thăm dò tất cả học
sinh cá biệt có nguy cơ bỏ học. Sau đó, phối hợp với GVCN, bố trí một số học sinh
ngoan trong lớp theo dõi và giúp đỡ về học tập cũng như các vấn đề khác. Bên cạnh
đó, mỗi tháng bố trí gặp học sinh cá biệt hai lần vào lúc ra chơi giữa giờ để nắm bắt
tình hình, tìm hiểu và giúp đỡ các em khi các em gặp khó khăn. Qua làm việc hàng
tháng như vậy thấy sự tiến bộ của học sinh dù nhỏ cũng động viên các em kịp thời
như tuyên dương dưới cờ, bố trí những em có tiến bộ tham gia đội cờ đỏ của trường
… bên cạnh đó cũng nhắc nhở những em chưa tiến bộ, nếu còn tái phạm sẽ phạt lao
động dọn cỏ 1 buổi.
1.3. Đối với Ban quản sinh
Ngay từ đầu năm lãnh đạo nhà trường chỉ đạo ban quản sinh, GVCN lớp thống
kê những học sinh cá biệt của năm học trước, những học sinh có hoàn cảnh đặc biệt,
những em nghiện game, những em ở trọ để nhà trường nắm bắt phân loại và phân
công người theo dõi quản lý và giúp đỡ cho phù hợp.
Xây dựng đội ngũ học sinh cốt cán ở các lớp về việc theo dõi nề nếp của học
sinh, nếu các bạn trong lớp có biểu hiện lạ như nghỉ học, hay đi trễ, hay vi phạm nội
quy của nhà trường thì báo ngay cho quản sinh hoặc ban giám hiệu nhà trường để có
biện pháp xử lý kịp thời.
1.4. Xử lý học sinh vi phạm
Nếu có học sinh vi phạm Nội quy đã được học tập rộng rãi thì GVCN sẽ làm
việc với học sinh đó, theo các bước như sau:
Trước tiên, GVCN yêu cầu học sinh tường trình lại vụ việc vi phạm, GVCN
cần phân tích những tình tiết dẫn đến sai sót hoặc khuyết điểm để giúp học sinh nhận

phạm thì sẽ mời PHHS và chuyển giao toàn bộ các bản tường trình lên cho Lãnh đạo
nhà trường.
Trường hợp lỗi nặng thì xin ý kiến của Lãnh đạo nhà trường để xử lý kỷ luật.
Sau công đoạn này thì rất ít học sinh vi phạm dám tái phạm.
Nếu có học sinh tái phạm (trường hợp thật sự cá biệt) thì GVCN cung cấp các
sự kiện liên quan, các loại hồ sơ đã vi phạm đến Lãnh đạo nhà trường, đồng thời gởi
Giấy mời PHHS đến và bắt buộc học sinh lần lượt đọc lại các bản tường trình sai
phạm (lần 1, lần 2…) to rõ trước mặt Lãnh đạo nhà trường, GVCN, PHHS cùng
nghe, đồng thời yêu cầu học sinh có ý kiến tự nhận xét về những việc làm vi phạm
7


của mình và tự nhận mức hình thức kỷ luật. Trong buổi họp kỷ luật, céc em được
nghe sự giáo dục của cả hội đồng kỷ luật của nhà trường, đặc biệt trong cuộc họp
luôn có mặt của một GVCN có uy tín trong trường cũng đóng góp ý kiến cho các em.
Để việc công tác giáo dục mang nặng tính giáo dục hơn tính trừng trị thì cả
giáo viên chủ nhiệm lẫn lãnh đạo nhà trường cũng cần nắm rõ hoàn cảnh gia đình của
học sinh, chú ý đến công việc làm ăn kinh tế thường ngày của cha mẹ (hoặc người
trực tiếp nuôi dưỡng), những khó khăn gian khổ, những ước mơ, niềm tin yêu của cha
mẹ dối với con cái, để Nhà trường tác động đến sự nhận thức, đến tình cảm, đến bổn
phận, đến trách nhiệm, đến sự tỉnh ngộ của các em.
Với tình cảm thương yêu như vậy, chắc chắn sẽ tác động đến sự suy nghĩ sai trái, cá
biệt trong tư tưởng các em, xoá đi mặc cảm bị mọi người ghét bỏ, là người không ra
gì, là kẻ quậy quạng… yêu cầu các em nói lên sự cam kết, hứa hẹn trước sự chứng
kiến của Lãnh đạo nhà trường, GVCN, PHHS về việc quyết tâm sửa chữa sai lầm và
quyết tâm làm lại từ đầu để trở thành người tốt, xứng đáng với niềm tin yêu của gia
đình, của Thầy Cô. Từ đó, tuỳ thuộc vào sự hối cải, nhận thức được lỗi lầm, mức độ
thành thật nhận lỗi vi phạm mà có hình thức kỷ luật phù hợp, nhưng cần phải có sự
khoan dung và độ lượng.
Nếu trình tự kiểm điểm học sinh cá biệt vi phạm như thế thì PHHS và cả học

định kỷ luật của Thầy giáo càng không cho phép người Thầy có định kiến đối với học
sinh vi phạm, nhất là học sinh dạng cá biệt.
2. Giải pháp 2: Đối với giáo viên chủ nhiệm lớp
Giáo viên chủ nhiệm có vai trò rất lớn trong công tác giáo dục ý thức đạo đức
cho học sinh nhất là đối với những học sinh cá biệt, vì giáo viên chủ nhiệm là người
quản lý toàn diện học sinh của lớp được phụ trách, là cầu nối giữa Ban giám hiệu với
các tổ chức trong nhà trường, các giáo viên bộ môn với tập thể lớp, là người cố vấn tổ
chức các hoạt động tự quản của lớp, đồng thời là người đứng ra phối hợp các lực
lượng xã hội nhằm thực hiện tốt mục tiêu giáo dục của trường.
Xuất phát từ thực trạng công tác chủ nhiệm của trường, việc đưa ra các biện
pháp giúp giáo viên chủ nhiệm định hướng đổi mới công tác chủ nhiệm cho phù hợp
với tình hình thực tế của địa phương mang ý nghĩa quan trọng đối với công tác giáo
dục ý thức đạo đức đối với học sinh cá biệt trong giai đoạn hiện nay.
Nội dung cụ thể như sau:
Thứ nhất: Tiến hành tìm hiểu cụ thể hoàn cảnh từng gia đình học sinh của lớp
mình trong đó có học sinh “cá biệt” như là: thu nhập hàng ngày của gia đình, quan hệ
giữa các thành viên trong gia đình như thế nào? Có êm ấm hạnh phúc hay không? Có
nhiều thành kiến gây ra xào xáo bất đồng, mức độ quan tâm đến việc học của gia đình
đối với học sinh... mục đích là để hiểu rõ từng đối tượng học sinh để có biện pháp
giáo dục phù hợp.
Thứ hai: Ghi chép đầy đủ các hoạt động của lớp, của từng học trong sổ chủ
nhiệm. Đối với học sinh, yêu cầu mỗi em phải có một cuốn “Sổ liên lạc giữa GVCN
với gia đình”, trong giờ sinh hoạt tự học sinh ghi vào để biết các công việc của tuần
tới, biết những sai phạm tuần qua, gia đình biết những ưu khuyết của con và của lớp,
9


biết những khoản đóng góp được phổ biến, biết những buổi học phụ đạo các môn.…
Qua sổ liên lạc phụ huynh cũng nắm bắt kịp thời những vi phạm của co mình để nhắc
nhở điều chỉnh kịp thời, biết sự tiến bộ của con em mình cùng động viên khuyến

10


Phải là tấm gương sáng biết tự hoàn thiện phẩm chất nhân cách của mình.
Người GVCN hơn ai hết cần phải có trí tuệ, có lương tâm, có uy tín,sống mẫu mực,
tự trọng và biết giữ chữ tín.
Người GVCN phải có tinh thần trách nhiệm cao yêu nghề, yêu thương học sinh
và luôn luôn xác định phương châm “Vì sự nghiệp trăm năm trồng người” và “Tất cả
vì học sinh thân yêu”
Hiểu biết tâm lý lứa tuổi của học sinh lớp mình chủ nhiệm. Cuộc sống nội tâm
của học sinh ở lứa tuổi này còn nhiều mặt dễ biến đổi. Do các quá trình tâm lý chưa
ổn định và sự tác động rất lớn của xã hội, hoàn cảnh sống....
Biết sự kiềm chế, bình tĩnh trong mọi tình huống, kiên định thực hiện thiên
chức và nhiệm vụ của người giáo viên.
Có sự nhạy cảm sư phạm biết dùng yếu tố tình cảm như một nghệ thuật sư
phạm để cảm hóa học sinh cá biệt.
Bên cạnh đó GVCN cần lưu ý:
Những điều nên làm:
Đối với học sinh cá biệt, người GVCN phải biết nhìn bằng con mắt của tình
thương và sự thông cảm thật sự xem học sinh như người thân của mình, GVCN nên
có cái hiền từ bao dung của người mẹ, người cha cái gần gũi cảm thông của người
anh, người chị và cái thân thiết của một người bạn.
Nhẹ nhàng phân tích những mặt ưu, hạn chế, đúng sai trong nhận thức, suy
nghĩ của các em... Giúp các em nhận biết những ưu điểm, hạn chế của mình và biết
khuyến khích các em phát huy mặt mạnh của mình. Trước tập thể lớp hoặc khi gặp
riêng các em không nên nói những câu phũ phàng như “Ở em chẳng có điểm nào tốt
cả”, “Người như em thật chẳng ra gì”, “cuộc đời em rồi chẳng có ra làm sao đâu”...
Giúp học sinh cá biệt khắc phục sửa chữa những sai phạm của mình và chú ý
theo dõi, động viên khích lệ kịp thời. GVCN phải luôn nghĩ rằng một lời khen học
sinh cá biệt sẽ có tác dụng hơn là một bản tự kiểm. Và chúng ta cũng biết : quá cứng

3. Giải pháp 3: Đối với giáo viên bộ môn
Giáo viên bộ môn là người truyền thụ kiến thức chuyên môn cho học sinh. Do
vậy khi giáo viên lên lớp phải nắm bắt được đối tượng học sinh để truyền thụ kiến
thức cho phù hợp. Việc truyền đạt kiến thức và kết hợp giáo dục đạo đức cho học
sinh, đặc biệt là học sinh cá biệt đòi hỏi cao ở người thầy, cô giáo về mặt uy tín, về
thái độ nhiệt tình, về tính kiên trì, lòng độ lượng bao dung thầy cô phải làm tấm
gương cho học sinh noi theo. Đối với học sinh, bản thân các em là ngọn đuốc và
người thầy chính là người thắp sáng cho những ngọn đuốc đó bùng cháy. Nói như
vậy có nghĩa là sự lớn lên về tình cảm của học sinh một phần tuỳ thuộc sâu sắc vào
tấm lòng, tâm hồn và lẽ sống của thầy. Khi thầy lên lớp phải để lại ấn tượng tốt đẹp
cho học sinh , tạo bầu không khí thoải mái, học sinh mong muốn được tiếp xúc tâm
12


sự, giãi bày những băn khoăn của mình; học sinh có niềm tin vững chắc vào lời dạy
bảo của thầy cô và cảm nhận thấy sự tiến bộ trong học tập, trong quan hệ với mọi
người sau mỗi lần tiếp xúc với thầy cô.
Việc giáo dục HS “cá biệt” thực sự là một cuộc thử thách về trình độ, về bản
lĩnh, về năng lực sư phạm, về lòng yêu nghề và tình yêu thương con người của người
thầy. Chỉ có những người thầy có tính kiên nhẫn, có lòng yêu nghề, yêu thương học
sinh hết mực thì mới có thể cảm hóa được những HS “cá biệt”. Trước hết, người thầy
cần phải tìm hiểu kĩ hoàn cảnh của từng em, để có biện pháp giáo dục cho thích hợp,
sinh động, sáng tạo, tránh sự đơn điệu lặp đi lặp lại nhiều lần như phạt chép bài, phạt
viết kiểm điểm. Có nhiều giáo viên phạt hoài, phạt hoài nhưng HS vẫn cứ lì lợm,
không hề tiến bộ. Xử lí các tình huống phải có tính nghệ thuật sư phạm cao. Có khi
phải hòa mình vào các em, cùng trao đổi, cùng chơi,... với các em để cảm hóa các em.
Tránh thành kiến, nóng giận như khi có sự việc xảy ra, chưa biết rõ nguyên nhân đã
mắng chửi, hăm dọa học sinh. Cần kiên nhẫn giáo dục các em. Để bỏ được một tật
xấu thì cần phải có thời gian dài chứ không thể một sớm một chiều. Cần quan tâm
đến việc học tập của HS, tận tình giải đáp những chỗ các em chưa hiểu. Cần sắp xếp

động xã hội để lôi cuốn học sinh tham gia hưởng ứng, qua đó giáo dục các em tinh
thần tương thân tương ái, biết sẻ chia và giúp đỡ mọi người.
Trường luôn lồng ghép các bộ môn như giáo dục công dân, giáo dục quốc
phòng, giáo dục thể chất, ngữ văn,… để giáo dục nhận thức cho học sinh. Các môn
học xã hội cũng như tự nhiên không ép học sinh học nhiều, làm nhiều. Trong các giờ
dạy, các thầy cô luôn đặt ra các tình huống sư phạm, tình huống đời thường để học
sinh giải quyết. Phương pháp nhà trường là gắn thực tiễn vào bài học, phát huy khả
năng tư duy độc lập, tập cho học sinh làm quen với những kỹ năng mềm trong cuộc
sống.”
Kịp thời tuyên dương khen thưởng những học sinh có nhiều đóng góp, cũng
như học tập giỏi. “Các em học sinh cá biệt tuy học lực yếu nhưng bù lại lại có những
năng khiếu đặc biệt như văn nghệ, thể dục, thể thao, vi tính,… Những khả năng này,
nhà trường có thể phát huy để các em có thể góp sức vào phong trào hoạt động của
nhà trường và từ đó có thể định hướng cho các em theo đúng sở trường… Giáo dục
học sinh cá biệt chỉ có thể “Bớt lời, nới tay” mới hiệu quả.”
Nhiều khi, các việc làm nhỏ nhất như lau bảng, giặt khăn, chính các thầy cô
cũng phải tự thân làm. Chính những việc làm giản đơn này sẽ dần dần hình thành ý
thức tự giác trong mỗi em học sinh. Và trong giờ học cũng thế, mỗi khi những em
học sinh này đùa nghịch thì thầy cô không phải dùng gậy gộc hay lời mắng chửi cay
cú mà thay vào đó là lời nói nhỏ nhẹ, tình cảm như những người bạn.
Bên cạnh đó, nhà trường còn thường xuyên tổ chức các buổi sinh hoạt, cắm
trại, ngoại khóa, tạo nên sân chơi bổ ích cho học sinh toàn trường.
IV. HIỆU QUẢ CỦA ĐỀ TÀI
Công tác giáo dục giáo dục học sinh các biệt trường THPT Võ Trường Toản đã
thu được một số thành công. Nhà trường đã nhận thức được việc giáo dục học sinh cá
biệt trong môi trường thực tiễn phối hợp giáo dục là hết sức cần thiết. Năm học 201514


2016 nhờ định hướng tốt, nhà trường đã có sự tiến bộ rõ rệt trong việc giáo dục học
sinh cá biệt. Tình trạng bỏ học, vi phạm nội quy vẫn còn, tuy vậy đã hạn chế được rất


Số lớp

Sĩ số

Số lớp

2014-2015

1473

42

479

14

424

13

570

15

2015-2016

1321

42


SL

%

SL

%

SL

%

2014-2015

1287

87.37

140

9.50

46

3.12

2015-2016

1149


Yếu

Kém

Năm học

SL

%

SL

%

SL

%

SL

%

SL

%

2014-2015

128


35.04

34

2.57

3

0.23

V. ĐỀ XUẤT, KHUYẾN NGHỊ KHẢ NĂNG ÁP DỤNG
1. Đối với nhà trường
- Bồi dưỡng thêm về nhận thức, nâng cao nghiệp vụ và năng lực tổ chức công
tác giáo dục đạo đức cho học sinh nhất là giáo dục học sinh cá biệt cho toàn thể giáo viên
của trường.
- Chỉ đạo tổ chức thí điểm và sau đó nhân rộng điển hình ra phạm vi toàn
trường.
- Tăng cường công tác kiểm tra, đánh giá đối với công tác giáo dục học sinh cá
biệt.
- Phối, kết hợp với địa phương và các lực lượng xã hội khác. Đầu tư trang thiết
bị cơ sở vật chất, thiết bị dạy học trong điều kiện cho phép để nâng cao dần chất
lượng giáo dục toàn diện , trong đó có giáo dục học sinh cá biệt của trường.
2. Đối với gia đình phụ huynh học sinh
Cần quan tâm hơn nữa đến việc học hành, rèn luyện của con em mình, tạo mối
liên hệ hai chiều với nhà trường để cùng phối hợp giáo dục học sinh cá biệt.
3. Đối với xã hội
- Có trách nhiệm trong việc xây dựng một môi trường học tập và vui chơi lành
mạnh cho HS.
- Phối hợp tốt cùng nhà trường trong giáo dục các mặt, tạo ra phong trào xã hội


1

BGH

Ban giám hiệu

2

CSVC

Cơ sở vật chất

3

GVCN

Giáo viên chủ nhiệm

4

HS

Học sinh

5

HSCB

Học sinh cá biệt



Học sinh tham gia các hoạt động xã hội do trường tổ chức
Cẩm Mỹ, ngày 20 tháng 5 năm 2016
Người thực hiện

Nguyễn Đức Thẩm
MỤC LỤC
I. Lý do chọn đề tài ………………………………………………….. Trang 1
II. Cơ sở lý luận và thực tiễn ……………………………………….. Trang 2
III. Tổ chức thực hiện và các giải pháp ……………………………. Trang 4
IV. Hiệu quả của đề tài ....…………………………………………... Trang 14
V. Đề xuất và khuyến nghị khả năng áp dụng …………………….. Trang 15
VI. Danh mục tài liệu tham khảo …………..………………….…… Trang 16
VII. Phụ lục ………………………………………………………….. Trang 17

21


22




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status