MỤC LỤC:
1.1. Lí do chọn đề tài. (Sách giáo dục thời đại)..........................................................................2
1.2 Mục đích nghiên cứu. (Sách giáo dục thời đại).....................................................................2
1.3.Đối tượng nghiên cứu.( thực tế lớp chủ nhiệm)....................................................................3
1.4. Phương pháp nghiên cứu.( tự đúc rút kinh nghiệm bản thân).............................................3
2. NỘI DUNG ...................................................................................................................................3
2.1. Cơ sở lí luận. ( Tìm hiểu qua internet, tự nghiên cứu)........................................................3
2.2 . Thực trạng...........................................................................................................................4
2.2.1. Tình hình học sinh cá biệt ở trường Trung học cơ sở.(Tìm hiểu qua báo hoa học
trò,học hỏi đồng nghiệp, thực tế ở trường)..............................................................................4
2.2.2. Nguyên nhân khách quan.( Sách giáo dục thời đại).....................................................6
2.2.3. Nguyên nhân chủ quan về phía bản thân các em. ( Tự tìm hiểu)................................8
2.3. Các biện pháp giáo dục........................................................................................................8
2.3.1 . Biện pháp giáo dục học sinh thông qua giờ sinh hoạt trường( sinh hoạt tập thể).
Tham khảo tài liệu hoa học trò, tự nghiên cứu.......................................................................10
2.3.2.Biện pháp giáo dục học sinh thông qua giờ sinh hoạt lớp và sinh hoạt 15 phút đầu
giờ. ( Tự nghiên cứu)..............................................................................................................10
2.3.3. Biện pháp giáo dục học sinh bằng tâm lý. (Tham khảo qua internet,báo giáo dục thời
đại, học hỏi đồng nghiệp,khảo sát thực tế, tự nghiên cứu)....................................................11
2.3.4. Biện pháp giáo dục học sinh bằng tập thể.( Tự nghiên cứu)......................................13
2.3.5. Biện pháp giáo dục học sinh kết hợp với phụ huynh học sinh.( Tự đúc rút kinh
nghiệm)....................................................................................................................................14
2.3.6. Biện pháp giáo dục học sinh kết hợp giáo dục qua giáo viên bộ môn. (học hỏi đồng
nghiệp, tựu nghiên cứu)..........................................................................................................15
2.3.7. Biện pháp giáo dục học sinh kết hợp với các ban ngành, các bộ phận trong và ngoài
nhà trường.( Tự nghiên cứu)..................................................................................................15
2.4. Hiệu quả nghiên cứu...........................................................................................................16
3. KẾT LUẬN, KIẾN NGHỊ.............................................................................................................17
3.1.Kết luận. (Tự rút kinh nghiệm)................................................................................................17
3.2. Kiến nghị. ( Tự nghiên cứu)................................................................................................19
TÀI LIỆU THAM KHẢO:..................................................................................................................20
lớp bản thân tôi cũng rút ra được một số kinh nghiệm. Trong phạm vi đề tài này tôi
xin được trao đổi với các bạn đồng nghiệp, mong muốn được góp một phần nhỏ bé
của mình tạo nguồn dồi dào về biện pháp giáo dục học sinh góp phần nâng cao hơn
nữa thực chất chất lượng giáo dục hiện nay. Đó là lí do tôi chọn đề tài để viết sáng
kiến kinh nghiệm năm học này : “Một số biện pháp giáo dục học sinh cá biệt ở
trường trường Trung học cơ sở ”.
Với phạm vi bài viết này, bản thân tôi đề xuất một số biện pháp để giáo dục học
sinh cá biệt, mong tìm ra giải pháp tháo gỡ tình hình học sinh cá biệt trong trường
học hiện nay.
1.2 Mục đích nghiên cứu. (Sách giáo dục thời đại).
Mục tiêu giáo dục của bậc Trung học cơ sở là “ … Tiếp tục phát triển toàn diện
về đạo đức, trí tuệ , thể chất , thẫm mỹ và các kỹ năng cơ bản của nhân cách con
người Việt Nam Xã hội chủ nghĩa có trình độ học vấn Trung học cơ sở và những
hiểu biết ban đầu về kỹ thuật và hướng nghiệp để tiếp tục học Trung học phổ thông,
Trung học chuyên nghiệp, học nghề hoặc đi vào cuộc sống ”.
2
Vấn đề đặt ra là trường Trung học cơ sở có nhiệm vụ giáo dục học sinh phát
triển trở thành con người có ích cho xã hội và trước tiên là phát triển về mặt nhân
cách .
Về mặt nhân cách, hay nói cụ thể hơn là đạo đức, hạnh kiểm học sinh phải được
hình thành trên cơ sở tự rèn luyện của bản thân học sinh ngay trên ghế nhà trường
Trung học cơ sở. Đó là ý thức học tập nghiêm túc, chấp hành đúng nội quy lớp học,
trường học, chấp hành đúng pháp luật.
1.3.Đối tượng nghiên cứu.( thực tế lớp chủ nhiệm).
- Nhóm học sinh cá biệt:
+ Em: Nguyễn Hữu Tuấn.
+ Em: Nguyễn Phi Hùng.
+ Em: Đỗ Hữu Trường.
thường quan tâm đến những đối tượng học sinh cá biệt nổi trội mà ai cũng nhìn
thấy được, từ đó giáo viên chủ nhiệm tìm hiểu tính cách cá biệt của các em do
những nguyên nhân nào để có hướng giáo dục thích hợp. Có những trường hợp học
sinh cá biệt nhưng không có biểu hiện rõ, khó phát hiện nhiều khi giáo viên chủ
nhiệm cũng lầm tưởng nên chưa có được phương pháp giáo dục thích hợp.
Không ít giáo viên chủ nhiệm lớp cho rằng việc giáo dục học sinh cá biệt quả
là một việc vô cùng khó. Sinh thời Bác Hồ đã từng nói:
“ Hiền dữ phải đâu là tính sẵn
Phần nhiều do giáo dục mà nên".
Bản chất con người - học sinh là lương thiện, nhưng do những yếu tố khác
nhau làm ảnh hưởng đến đời sống, tâm lý của học sinh nên các em có những biểu
hiện khác nhau như vậy. Ở lứa tuổi các em cần có sự hỗ trợ, tư vấn của người lớn
hay nói cách khác các em cần có sự giáo dục và các em rất cần đến chúng ta, muốn
đạt được hiệu quả cao chúng ta cần có tâm huyết, năng động sáng tạo đồng thời có
sự kiên trì, nhất định chúng ta sẽ thành công.
2.2 . Thực trạng.
So với học sinh Tiểu học, ở bậc Trung học cơ sở môi trường sống và sự hoạt
động của các em có sự thay đổi. Tất cả sự thay đổi đó là điều kiện rất quan trọng
làm cho hoạt động nhận thức và nhân cách của học sinh Trung học cơ sở có sự thay
đổi về chất so với các lứa tuổi trước . Đây là lứa tuổi mà diễn biến hết sức phức tạp
và đầy mâu thuẩn. Do đó nắm vững đối tượng này sẽ có ý nghĩa quyết định đến
thành công của nhà giáo dục.
2.2.1. Tình hình học sinh cá biệt ở trường Trung học cơ sở.(Tìm hiểu qua báo
hoa học trò,học hỏi đồng nghiệp, thực tế ở trường).
Qua theo dõi đã phát hiện những năm gần đây, hiện tượng học sinh cá biệt có
phần gia tăng và ở nhiều cấp độ khác nhau. Nó đã để lại hậu quả như một “ di
chứng” sau những vụ việc xảy ra ở các trường Trung học cơ sở và Trung học phổ
thông như : đánh nhau, chơi gama, đánh bi a …và những hành vi khác của thanh
thiếu niên, học sinh tác động trực tiếp đến học sinh đang học trong nhà trường .
Học sinh cá biệt tăng theo cấp học,lớp học: Ở lớp 6,7 chưa bộc phát nhiều,
động của mình như : lời ăn tiếng nói, ăn mặc, từng tiết giảng, từng cử chỉ của
mình .Vì trong mắt các em, người thầy cô đặc biệt là giáo viên chủ nhiệm là một
tấm gương để cho các em noi theo.
Hầu hết học sinh cá biệt không ý thức được nhiệm vụ học tập của mình, không
ý thức được vai trò của việc học tập đối với cuộc đời của mình, vì vậy các em
không có thói quen tự giác, việc đi học với các em chỉ là để vừa lòng cha mẹ, thầy
cô, để được găp bạn bè, để không phải làm việc nhà. Các em chỉ học cho có học,
chứ không biết học để làm gì, học có tác dụng như thế nào đến cuộc sống của mình
sau này. Do đó người giáo viên chủ nhiệm phải chỉ ra cho các em thấy tác dụng
của việc học bằng những ví dụ cụ thể những tấm gương rất gần gũi với các em của
sự thành công và thất bại trong cuộc sống do sự học mang lại.
Trong quḠtrình làm công tác giáo dục chúng ta đã từng buồn phiền biết bao
bao khi gặp phải những học sinh chậm tiến. Biểu hiện của những học sinh này rất
đa dạng có thể xếp vào hai nhóm hành vi sau:
- Ở trong trường : thiếu ý thức tổ chức kỉ luật như chây lười trong học tập, lao
động và sinh hoạt tập thể. Học bài, không đầy đủ, trốn giờ học - giờ sinh hoạt.
Quay cóp khi thi , kiểm tra. Ăn mặc lố lăng không tuân thủ quy định chung của
5
trường,của lớp. Thiếu lễ phép, lừa dối, xúc phạm thầy cô giáo …, phá phách tài sản
của trường, của bạn; Gây gổ đánh nhau với bạn bè trong lớp trong trường, dọa nạt
cán bộ lớp, cán bộ cờ đỏ, nói tục, chởi bậy ….
- Ở ngoài trường: thiếu lẽ phép với cha mẹ người lớn, nói dối gia đình, xúc
phạm phụ nữ, trẻ em , gây mất trật tự ở đường phố, thôn xóm…; La cà hàng quán
ăn uống bê tha, cắm đồ để ăn tiêu, đánh bạc; Ngông nghênh, tham gia vào các vụ
mất trật tự, tập hợp để đánh nhau. .
Tình trạng học sinh yếu kém về mặt đạo đức làm cho cha mẹ ,thầy cô hết sức lo
âu trăn trở. Nếu xóa bỏ được tình trạng học sinh yếu kém trong lớp là cơ sở thành
công đối với mọi công tác khác.
* Gia đình có hoàn cảnh kinh tế khó khăn :
Từ những khó khăn về đời sống kinh tế, cha mẹ phải lao động vất vả, không
quan tâm đến việc học tập của con em, phó mặc cho nhà trường, có gia đình buộc
con cái phải lao động, làm cho các em không có thời gian học tập ở nhà như soạn
bài, học bài cũ, do đó khi đến lớp việc tiếp thu bài mới rất khó khăn, không làm
được bài kiểm tra, lo lắng sợ sệt khi thầy cô giáo kiểm tra bài cũ .. từ đó thua sút
bạn bè và phát sinh tâm lí chán học dẫn đến bỏ giờ trốn học, bỏ học ( nhóm 2 ) .
* Gia đình chỉ lo làm ăn, không quan tâm đến việc học của con cái :
Nhiều gia đình vì kế sinh nhai, cả bố mẹ đều đi làm ăn xa, phó mặc con cái
cho ông bà hoặc chị em chăm sóc lẫn nhau, một số học sinh chưa tự giác và thiếu
sự quản lí chặt chẽ của người lớn nên nảy sinh những tư tưởng không lành mạnh, từ
đó ham chơi mà trốn học, bỏ học .
Có gia đình tuy không khó khăn về kinh tế nhưng có tham vọng làm giàu, bỏ
mặc con cái, không quan tâm đến việc học tập của con cái kể cả những thói hư tật
xấu của con cái, cha mẹ cũng không biết để răn đe, do đó từ những vi phạm nhỏ
dần dần đến vi phạm lớn .
* Gia đình có cha mẹ bất hòa, không có hạnh phúc :
Lứa tuổi các em rất nhạy cảm, những cuộc cải vả của cha mẹ, sự to tiếng
quát nạt, bạo lực của người cha làm cho các em dần dần bị ảnh hưởng, từ đó nẩy
sinh những việc làm không lành mạnh các em bị ức chế, bỏ nhà đi chơi không thíêt
tha đến việc học, từ đó lực học giảm sút dẫn đến chán học, bỏ học. Ngoài ra, gặp
hoàn cảnh gia đình có người cha nát rượu, cũng ảnh hưởng rất lớn đến học sinh làm
các em trở thành học sinh cá biệt.
Với môi trường giáo dục của gia đình như vậy, học sinh khó có thể trở thành
con ngoan trò giỏi, nếu không có sự động viên kịp thời của bạn bè, nhà trường và
thầy cô giáo .
b. Ảnh hưởng về phía nhà trường :
Đây là ngôi nhà thứ hai của các em, nơi để phụ huynh gửi gắm niềm tin vào
sao có hành động tốt được. Việc hạn chế trong tiếp thu kiến thức của các em cũng
dẫn đến sự lười biếng, chán nản, muốn phá phách, nhất là đối với học sinh nam.
Xét ở một khía cạnh khác thì cũng có thể các em vì tự ái về sự chê cười của thầy cô
và bè bạn, các em muốn chứng minh cho mọi người thấy rằng mình học không tốt
nhưng mình có thể nổi trội hơn về mặt khác , chính vì thế mà các em có những
hành động vượt ra khỏi những quy định chung.
Thấy rõ được những nguyên nhân trên và từ những phân tích sự hình thành các
nhóm học sinh cá biệt, tôi tìm ra những phương pháp tối ưu để từng bước cảm hoá
giáo dục các em. Sau đây là một vài kinh nghiệm của bản thân trong việc giáo dục
học sinh cá biệt mà tôi muốn trao đổi cùng đồng nghiệp nhằm hạn chế sự phát triển
và giáo dục học sinh cá biệt.
2.3. Các biện pháp giáo dục.
* Danh sách học sinh cá biệt:
STT
Họ và tên
Những biểu hiện
- Không chú ý học.
- Lười học bài cũ,nói chuyện riêng .
1 Nguyễn Hữu Tuấn
- Nói tục, chởi bậy.
- Gây gổ đánh nhau .
- Chơi điện tử.
- Kết bè thành nhóm, gây gổ đánh nhau .
- Thầy cô nhắc nhở có biểu hiện chống chế, nói dối bố
2 Nguyễn Phi Hùng
mẹ, thầy cô giáo.
8
3
Với tôi việc học sinh có vi phạm tất nhiên sẽ phải bị xử lí, người giáo viên chủ
nhiệm không thể nhắm mắt làm ngơ trước những vi phạm của học sinh đó được,
nhưng xử lý như thế nào cho thoả đáng, có tính giáo dục cao nhất.
Tôi rất tâm đắc câu nói “Lạt mềm buộc chặt”. Chính vì thế để giáo dục học
sinh cá biệt tôi đã làm theo một số bước sau:
Bước 1: Phân loại học sinh cá biệt.
Bước 2: Tìm hiểu nguyên nhân dẫn học sinh trở thành học sinh cá biệt.
Sau khi đã phân loại được học sinh cá biệt, biết em đó thuộc loại “cá biệt” nào
người thầy cô phải tìm hiểu nguyên nhân nào làm cho học sinh của mình trở thành
học sinh cá biệt như vậy.
Đây là một công việc không hề đơn giản nó đòi hỏi rất nhiều công phu và hơn
hết là cần đến cái “Tâm” rất lớn của người thầy cô giáo. Người giáo viên chủ
9
nhiệm phải điều tra tỉ mỉ, gặp gỡ nhiều người để tìm ra nguyên nhân sâu xa bên
trong và có biện pháp hữu hiệu nhất để giáo dục.
Khi đã tìm ra nguyên nhân rồi người giáo viên sẽ tìm ra biện pháp hữu hiệu nhất
để giáo dục.
Việc giáo dục học sinh cá biệt có thể mỗi người có một cách khác nhau nhưng
việc giáo dục học sinh cá biệt bằng sự gần gũi yêu thương là biện pháp hữu hiệu
nhất.
Theo tôi việc giáo dục học sinh cá biệt hoàn toàn không phải là ảo tưởng, không
phải là không thể nhưng đó là việc làm cực kì khó khăn đòi hỏi sự kiên trì, sự tâm
huyết với nghề “trồng người” của người giáo viên chủ nhiệm.
Người giáo viên chủ nhiệm phải thật sự nhẫn nại, tỉ mỉ, yêu học sinh và rất cần
một phương pháp đúng đắn. Hãy coi học sinh cá biệt như một “thử thách” cần phải
vượt qua .
Như đẩy mạnh các hoạt động giáo dục thông qua các tiết sinh hoạt tập thể, sinh
hoạt lớp, 15 phút đầu buổi, sinh họat Đội , các hoạt động ngoại khoá ...để giáo dục
làm cho các em mắc sai lầm, vi phạm, vận dụng những điều khoản trong nội quy,
trong quy định xếp loại của Thông Tư 40 làm cho các em thấy được phạm vi vi
phạm ở mức độ nào và nêu ra hướng cho các em khắc phục. giáo viên chủ nhiệm
nêu những việc làm tốt, những cố gắng nổ lực của các thành viên trong lớp để xây
dựng tập thể lớp thành lớp tiên tiến … với thành tích như vậy thì các em sẽ có ý
thức vươn lên.
2.3.3. Biện pháp giáo dục học sinh bằng tâm lý. (Tham khảo qua internet,báo
giáo dục thời đại, học hỏi đồng nghiệp,khảo sát thực tế, tự nghiên cứu).
Quan hệ thầy trò ngày nay so với trước đây có sự thân mật gắn bó hơn, có như
vậy thì chúng ta mới thực hiện tốt được nhiệm vụ giáo dục toàn diện được. Bởi có
quan hệ gần gũi thì mới biết được những tâm tư nguyện vọng của các em chúng ta
mới có những biện pháp giáo dục thích hợp .
Đối với học sinh cá biệt việc gần gũi với các em quả là một vần đề không
đơn giản, nếu giáo viên chủ nhiệm thiếu tế nhị một chút thì khó mà có thể gần gũi
với các em được, chẳng hạn thường xuyên phê bình, dùng nhiều lời xúc phạm đến
các em ... đều có thể làm tổn thương đến mối quan hệ này. Hơn nữa vì các em
thường xuyên vi phạm nên các em càng lẩn tránh tiếp xúc với giáo viên nhất là giáo
viên chủ nhiệm lớp.
Để thấy được hết cá tính của học sinh, giáo viên chủ nhiệm cần tạo đựơc mối
quan hệ gần gũi với các em, thật sự là chỗ dựa đáng tin cậy sau cha mẹ của các em.
Chú ý khi giao tiếp với các em ta phải luôn cởi mở, chân tình, vui vẻ dễ cảm hóa
được các em, khi có được mối quan hệ tốt các em sẽ thổ lộ những tâm tư tình cảm
với giáo viên chủ nhiệm mà không một chút ngần ngại. Những lời khuyên răn dạy
bảo của chúng ta sẽ có tác dụng lớn đối với các em.
Ví dụ: Em Nguyễn Hữu Tuấn- học sinh lớp 9A do tôi chủ nhiệm là một học
sinh học “cá biệt ” rất yếu về mọi mặt lại hay gây gỗ đánh nhau . Theo tôi biết em
đã học ở Hà Nội bị nhà trường đình chỉ nhiều lần và cuối cùng em bị đuổi học . Gia
đình đã xin cho em lên trên trường này để tiếp tục được đi học , Ban giám hiệu đã
phân em Tuấn vào lớp 9A do tôi chủ nhiệm, em thường xuyên hay nói tục, chởi
bậy, không thuộc bài cũ và điểm rất kém ở các bài kiểm tra. Em tỏ ra lầm lì ít nói,
em Tuấn học sinh cá biệt chuyển về các em kết nhóm với nhau trong việc bỏ học
,nói dối bố mẹ, thầy cô giáo... em Trường và em Hùng tôi dùng biện pháp khác tôi
theo dõi các em nhiều hơn, hễ em có vi phạm gì là tôi biết ngay ,vì tôi tìm hiểu các
luồng thông tin từ học sinh các lớp khác trong trường và các luồng thông tin ở
ngoài trường, mỗi lần trao đổi với các em tôi đều đưa ra những chi tiết rất chính
xác, ví dụ chiều nay em nghỉ học đi chơi điện tử ở quán.... với em..., chiều thứ ba
em xin nghỉ học với lý do nhà em bận việc nhưng cô biết em chơi điện tử với
bạn...lớp ....Tất cả việc làm của em cô đều biết, em biết vì sao cô biết nhiều về em
như vậy không ? em biết vì sao cô quan tâm tới em nhiều không ? Cha, mẹ bận
công việc cốt tạo sự nghiệp và cũng là tạo điều kiện để em ăn học, lo cho tương lai
của em, nhiều bạn gia đình vất vả mà các bạn vẫn cố gắng học tốt như bạn Hằng,
bạn Linh còn em có điều kiện tốt mà không lo học tập. Đến cuối năm cứ đà này liệu
các em có được xét tốt nghiệp không? em có thể chơi cả đời được không ? nếu bây
giờ không lo học thì sau này em có thể làm được gì ? rồi cha mẹ em sẽ ra sao? có
xấu hổ với mọi người vì đã có một đứa con như em không ? Dần dần Hùng và
Trường thấy được cái sai của mình và hai em cũng đã sửa đổi.
12
2.3.4. Biện pháp giáo dục học sinh bằng tập thể.( Tự nghiên cứu).
Ở tuổi các em, bạn bè có một vị trí rất lớn trong mối quan hệ xã hội của các
em, thường ở lứa tuổi này các em chưa ý thức được việc nào là cần thiết hơn, chính
vì thế đa phần trong quan hệ với thầy cô giáo các em thường có biểu hiện bao che
cho nhau, nhất là những khi đề cập tới các đối tượng học sinh cá biệt, mặc dù biết
việc làm của bạn là sai, tuy vậy khi hỏi đến phần lớn các em đều trả lời một câu
chung nhất đó là không biết , đối với những em có quan hệ gần gũi với học sinh cá
biệt, cũng có thể các em ngại không dám nói ra sự thật vì sợ sự đe doạ của các
bạn... Nhưng phải nói rằng tất cả những suy nghĩ, những việc làm của các em cá
biệt thì chính các em học sinh cùng lớp, cùng khối là biết rõ nhất.
13
các tuần trước nề nếp của lớp ta tuần này tiến bộ hơn và bản thân Tuấn cũng có tiến
bộ, vì sự tiến bộ của lớp ta mà cho bạn cơ hội để khẳng định vai trò của mình ở
tuần học tiếp theo. Về sau Tuấn đã ý thức được trách nhiệm của mình và không còn
vô kỷ luật như trước nữa.
Đối với những đối tượng, nghịch ngợm . Đối với đối tượng này tôi dùng cách
đẩy mạnh các hoạt động thi đua của tổ, đến giờ sinh hoạt lớp tự các em nhận xét
với nhau giữa các tổ ,để các em thấy được những việc làm của mình những hành
động nghịch ngợm của các em, các em tự khắc thấy mình như bị hụt hẫng, xấu hỗ.
Từ đó các em có mong muốn được sống chung trong một tập thể đoàn kết. Khi các
đối tượng này thấy được những lỗi lầm của mình, giáo viên chủ nhiệm lớp cần
động viên học sinh trong lớp gần gũi khích lệ để các em hoà nhập với tập thể.
Thường lứa tuổi học sinh dễ bị ảnh hưởng những thói hư tật xấu nhưng cũng
dễ tiếp thu những điều hay lẽ phải, dễ hòa mình vào những trò chơi có tính tập thể,
tính giáo dục cao . Do đó giáo viên chủ nhiệm nên phân công một nhóm bạn tốt,
cùng hoàn cảnh, cùng sở thích, uớc mơ ... sinh hoạt, học tập với đối tượng này dần
dần lôi kéo các em hòa nhập vào các cuộc chơi bổ ích, từ đó xóa bỏ các mặc cảm là
HS hư để rồi cùng với các thành viên trong lớp xây dựng tập thể vững mạnh .
Mặt khác, thông qua nhóm bạn tốt, giáo viên chủ nhiệm giao cho học sinh cá
biệt thực hiện một số công việc, tạo những điều kiện để những học sinh này hoàn
thành và động viên khích lệ các em để các em xóa những tự ti, mặc cảm là học sinh
cá biệt để hòa mình với bạn bè.
2.3.5. Biện pháp giáo dục học sinh kết hợp với phụ huynh học sinh.( Tự đúc rút
kinh nghiệm).
Đây là một biện pháp hết sức quan trọng giúp cho giáo viên chủ nhiệm đạt
đến sự thành công trong việc giáo dục học sinh cá biệt. Đầu năm họp phụ huynh
tôi yêu cầu phụ huynh ghi đầy đủ thông tin số điện thoại , địa chỉ của gia đình, để
thuận tiện cho việc liên hệ với phụ huynh. Cách làm này giúp tôi thường xuyên
viên dạy bộ môn của lớp để có biện pháp giáo dục thích hợp và cũng từ đó tôi có
thể góp ý ngay với giáo viên trong việc cần phải tôn trọng và công bằng trong đối
xử với học sinh .
Cũng có thể do tính cách cá biệt của các em, ở mỗi môn học em có một biểu
hiện cá biệt khác nhau, tôi tổng hợp các ý kiến để xác định nguyên nhân cơ bản.
Từ việc trao đổi trên tôi tìm ra những ưu điểm của các em để động viên,
đồng thời lồng vào những khuyết điểm của các em để nhắc nhở khắc phục.
2.3.7. Biện pháp giáo dục học sinh kết hợp với các ban ngành, các bộ phận
trong và ngoài nhà trường.( Tự nghiên cứu).
* Kết hợp với tổ chức Đội thiếu niên:
Đây là tổ chức chuyên về mảng giáo dục hạnh kiểm học sinh. Tổ chức này
có ban chỉ huy liên Chi đội, có đội Cờ Đỏ thường xuyên theo dõi các hoạt động của
toàn trường và từng lớp học, có một tổng phụ trách Đội chuyên trách tổ chức các
hoạt động Đội và kịp thời xử lý những vi phạm của học sinh, hơn thế nữa có phong
trào thi đua làm đòn bẩy nên thường các biện pháp luôn đạt hiệu quả giáo dục cao.
Đối với đội Cờ Đỏ: tôi yêu cầu các em ghi lại tên của tất cả những em vi
phạm , có như vậy thì tôi mới kịp thời có được thông tin và xử lý dứt điểm những
vi phạm đựơc.
Với tổng phụ trách Đội: Tôi thường xuyên giữ mối quan hệ chặt chẽ, đối với
những đối tượng học sinh cá biệt tôi sử dụng biện pháp cứng ở những lúc này thì
mềm ở những lúc khác, chúng tôi kết hợp chặt chẽ hơn về khâu theo dõi và các
luồng thông tin về đối tượng học sinh cá biệt.
15
* Đối với hội phụ nữ xã:
Giáo viên chủ nhiệm cũng cần phối hợp với tổ chức phụ nữ ở cơ sở để vận
động các phụ huynh có con em trong diện này quan tâm nhiều hơn đến con mình ,
đồng thời các chi hội phụ nữ thôn - bản cũng có thể giúp chúng ta trong việc thu
nhận những thông tin mới về các em để chúng ta có biện pháp kết hợp giáo dục tốt.
năm
Học kì I
Cuối
HKII
15
2
1
0
7
9
1
17
0
0
0
5
- Luôn tạo mối quan hệ gần gũi, cảm hoá các em.
- Giáo viên chủ nhiệm cần biết kết hợp được nhiều tác nhân phối hợp giáo dục.
Khi tìm hiểu được nguyên nhân thì sẽ có biện pháp giáo dục phù hợp với từng đối
tượng học sinh và kết hợp với những điều giáo viên chủ nhiệm nên làm:
- Không gọi các em là học sinh cá biệt trước lớp, trước mặt người khác.Các em
chỉ là những “học sinh chưa ngoan”, những “học sinh có hoàn cảnh đặc biệt”.
Chúng ta gọi các em là “học sinh cá biệt” tức là chúng ta đã cố tách học sinh đó ra
khỏi lớp, cô lập các em trước lớp. Nhiệm vụ của chúng ta là giáo dục các em học
sinh “chưa ngoan” này trở thành học sinh ngoan.
- Đa số các em học sinh cá biệt rất cần một điểm tựa tinh thần để có thể được chia
sẻ tâm sự, để được bộc bạch những khó khăn những nỗi niềm riêng tư của mình,
thầy cô sẽ trở thành một người đáng tin cậy của các em.Tìm cách cho các em thể
hiện cái “tôi” cá nhân của mình trước tập thể, không thẳng tay trừng trị các em,
đừng làm mất đi điểm tựa cuối cùng của các em. Hãy nhìn các em bằng sự bao
dung của người cha, sự nhân từ của người mẹ, sự gần gũi, cảm thông của người anh
người chị, sự thân thiết của người bạn.
- Thầy cô hãy phân tích những ưu khuyết điểm những đúng sai trong nhận thức
và hành động của các em, cố gắng giúp các em tự nhận ra sai lầm của mình, tạo cho
các em có thiện chí sửa chữa và không tái phạm. Không la mắng chửi bới các em
trước lớp học ,trước đám đông , trước mặt mọi người, đừng để học sinh nghĩ cứ gặp
thầy cô lại bị la mắng.
- Học sinh cá biệt dù cho có khó giáo dục đến đâu đi chăng nữa thì bên trong các
em vẫn luôn tiềm ẩn những nhân tố, những phẩm chất tích cực nếu có phương pháp
đúng chúng ta vẫn khơi gợi để làm thức tỉnh các em. Để từ đó phát huy làm điểm
tựa cho các em, khôi phục lại niềm tin để các em thấy rằng mình không hề kém
17
cỏi ,từ đó có thể vứt bỏ được sự tự ti, mặc cảm mà tự giác, chủ động hội nhập với
các bạn. Hãy tìm ra điểm mạnh của các em để có thể “ khích lệ” vì đa số học sinh
của lớp, không đánh nhau, em Nguyễn Phi Hùng không còn kết nhóm rủ đánh
nhau,không còn nghỉ học vô lí do ,đầu tóc cắt theo đúng quy định , em Đỗ Hữu
Trường không nghỉ học không có lí do chính đáng, không còn nói leo, nói tự do
trong lớp... Nhìn chung các em đã có sự tiến bộ dần dần.
Trong lớp các em đoàn kết, lễ phép với mọi người và cuối tháng ba khi xếp loại
hạnh kiểm lớp tôi không còn học sinh nào xếp hạnh kiểm loại khá ,yếu nữa.
Đến nay lớp 9A do tôi chủ nhiệm là một trong nhũng lớp có nề nếp tương đối tốt,
thường xuyên được nhà trường tuyên dương là lớp có tinh thần học tập tốt, chi đội
18
mạnh. Từ đó, học sinh cá biệt cũng thấy rõ sự tiến bộ của mình góp phần vào sự
tiến bộ chung của cả lớp. các em đang cố gắng thi đua học tốt để hướng tới kì thi
cuối năm - cuối cấp.
Giáo dục học sinh cá biệt là một việc làm khó khăn và phức tạp, đòi hỏi người
giáo viên luôn có sự nhiệt tình, năng động, sáng tạo. Tất cả sự cố gắng và nỗ lực
của chúng ta sẽ là cái chìa khoá cho các em bước sang một cuộc đời mới với sự
nhìn nhận tích cực về thực tế và có ý thực rèn luyện để đạt tiêu chuẩn của con
người mới xã hội chủ nghĩa.
Trong quá trình thực hiện để có được kết quả như trên tôi rút ra một số ý kiến
sau:
Người thầy cô phải là người cha, mẹ, người lớn tuổi, phải là tấm gương sáng
cho các em noi theo.
Hết lòng thương yêu và tôn trọng các em, biết tìm ra nguyên nhân và phán xét
một cách khách quan để các em có cơ hội tiến bộ.
Người thầy cô phải có sự kiên trì trong giáo dục . Việc đề ra phải có sự khen
chê đúng mực, khách quan để các em có lòng tin và ý thức vươn lên.
Người thầy cô nên đề ra các chủ đề thi đua, phương hướng thi đua để rồi cùng
nhau thực hiện.
Gia đình cần thấy rõ vai trò và nghĩa vụ của họ đối với sự chăm sóc giáo dục
Sách giáo dục thời đại.
Báo hoa học trò.
Tài liệu từ internet.
Học hỏi đồng nghiệp.
20
21