SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TỈNH THANH HOÁ
TRƯỜNG THPT TRẦN PHÚ
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
MỘT SỐ BIỆN PHÁP “GIÁO DỤC HỌC SINH CÁ BIỆT”
TRONG TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG TRẦN PHÚ
Người thực hiện: Đồng Thị Loan
Chức vụ: Giáo viên
SKKN thuộc môn: Vật lý
MỤC LỤC
THANH HÓA NĂM 2017
MỤC LỤC
I. PHẦN MỞ ĐẦU ………………………………………………………………... 3
1.Lý do chọn đề tài ………………………………………………………................3
2.Mục đích nghiên cứu …………………………………………………..............4
3.Đối tượng nghiên cứu …………………………………………………....... ....4
4.Phương pháp nghiên cứu ……………………………………………... .......... .4
II.PHẦN NỘI DUNG …………………………………………………….......... ....4
1.Cơ sở lý luận.………………………………………………………….......... ....4
2.Thực trạng vấn đề nghiên cứu .………………………………………...............4
3.Các giải pháp …………………………………………………………..............7
3.1. Biện pháp giáo dục bằng tập thể ...………………………………….............7
3.2. Giáo dục thông qua giờ sinh hoạt lớp……………………………............ ....8
3.3. Dùng phương pháp kết bạn …………………………………………............8
3.4. Biện pháp giáo dục bằng tâm lý …………………………………….. ..... ....8
3.5. Kết hợp giáo dục qua giáo viên bộ môn……………………………............ 9
nhân cách con người Việt Nam”. Từ đó, vấn đề đặt ra là trường THPT có nhiệm
vụ giáo dục học sinh phát triển để trở thành con người có ích cho xã hội, để các
em trở thành con ngoan, trò giỏi, mà trước tiên là phát triển về mặt nhân cách.
Qua nhiều năm làm công tác chủ nhiệm lớp ở bậc THPT, bản thân tôi gặp
không ít đối tượng học sinh cá biệt, nhưng mỗi em một vẻ cá biệt khác nhau, đòi
hỏi trong quá trình giáo dục phải có nhiều sáng tạo mới có hiệu quả được.
Trong thời gian qua, tôi có tìm hiểu được biện pháp giáo dục không chỉ
dừng lại ở một vài lần tiếp xúc với học sinh hoặc dừng lại ở một năm làm chủ
nhiệm, mà tôi cho rằng việc giáo dục học sinh cá biệt cần phải thường xuyên,
liên tục.
Ở lứa tuổi các em, lứa tuổi đang có sự mất cân bằng về mặt tâm sinh lý,
việc các em mong muốn trở thành người lớn trong khi các em chưa có đủ sự
hiểu biết, chưa có đủ kinh nghiệm sống cộng với hoàn cảnh sống mỗi em một
khác, có em may mắn nhận được sự tư vấn kịp thời của ông bà, cha mẹ, thầy cô
khi ở trong trạng thái thiếu cân bằng ấy, có em không được sự quan tâm đúng
mức, có em thì lại được quá nuông chiều... Từ sự khác biệt trên, nảy sinh ra
những hiện tượng cá biệt trong học sinh và chính một bộ phận học sinh này đã
gây không ít khó khăn cho giáo viên chủ nhiệm lớp.
Giáo dục là khoa học nhưng cũng là nghệ thuật. Trước những vấn đề nêu
trên, đã đặt giáo viên và các nhà quản lý giáo dục trước thực tế là làm thế nào để
cảm hóa và giáo dục học sinh cá biệt có hiệu quả là một vấn đề khá nan giải.
Công việc này đã và đang trở thành một thách thức lớn với toàn xã
hội nói chung và đặc biệt là ngành giáo dục nói riêng, trong đó chủ yếu là
nhiệm vụ của các nhà trường.
3
Vậy, làm sao để giáo dục học sinh cá biệt có hiệu quả?
Với mong muốn góp phần vào việc luận giải những vấn đề nói trên, tôi
hiện nay.
2. Thực trạng vấn đề nghiên cứu
2.1. Thuận lợi
Việc giáo dục đạo đức cho học sinh luôn được Đảng ủy, Ban Giám hiệu
nhà trường quan tâm chỉ đạo, được các tổ chức đoàn thể trong nhà trường ủng hộ
nhiệt tình.
Đa số các phụ huynh học sinh trong lớp đều có sự quan tâm đến việc học
tập của con em (thể hiện qua các cuộc họp, 100% phụ huynh tham gia).
Đa số học sinh của lớp tôi chủ nhiệm đều chăm ngoan, có ý thức đạo đức
tốt, có tinh thần đoàn kết xây dựng tập thể, giúp đỡ bạn bè.
4
Tại các địa phương là vùng tuyển sinh của nhà trường, các tệ nạn xã hội
xuất hiện nên cũng tác động không nhỏ đến học sinh.
Bản thân luôn chấp hành tốt chính sách, pháp luật của Nhà nước; chấp
hành tốt mọi quy định của nhà trường; tâm huyết, nhiệt tình, trách nhiệm với
công việc.
2.2. Khó khăn
Chất lượng tuyển sinh đầu vào còn thấp, hầu hết là con em nông dân nên
điều kiện kinh tế còn nhiều khó khăn. Đặc biệt, còn nhiều gia đình phải đi làm
ăn xa, nên việc phối hợp giữa gia đình và nhà trường còn nhiều hạn chế.
2.3. Nhóm học sinh cá biệt:
Tạm thời chia làm 4 nhóm sau:
1- Gây gổ đánh nhau , kết bè thành băng nhóm .
2- Bỏ giờ trốn học ra quán nét chơi điện tử dẫn đến học tập sa sút hơn .
3- Sử dụng điện thoại trong giờ học .Quậy phá, thiếu nghiêm túc trong học tập
4- Ương ngạnh, học đòi, không nghe lời thầy cô giáo, ý thức tổ chức kỷ luật kém
* Ở nhóm thứ 1 : Học sinh thường có thể lực phát triển, phát sinh tâm lý đua đòi,
không có ý thức khác, rồi bỏ học và có nguy cơ trở thành tội phạm .
Tất cả những học sinh bình thường trở thành những học sinh cá biệt đều
có nguyên nhân của nó, ở đây chỉ nêu lên một số nguyên nhân làm ảnh hưởng
trực tiếp hoặc gián tiếp đến học sinh làm cho các em trở thành học sinh cá biệt.
2.4. Nguyên nhân
2.4.1. Nguyên nhân về phía gia đình
Thời gian mà các em sống với gia đình là khoảng thời gian dài nhất, chính
vì thế môi trường sống của gia đình có ảnh hưởng rất lớn đối với các em. Những
thái độ, hành vi, cách ứng xử trong gia đình sẽ hình thành cho các em nền móng
để các em tiếp xúc ngoài xã hội. Những em thiếu may mắn sinh ra trong gia đình
cha mẹ bất hòa, cách cư xử của cha mẹ thô bạo, rượu chè bê tha… đã tạo cho
các em một ảnh hưởng không tốt. Điều đó có thể dẫn đến tình trạng học sinh trở
nên lầm lì ít nói, có em ảnh hưởng những thói quen không tốt đó, cũng có những
hành vi cư xử không tốt với mọi người. Hình thành nên tính cách cá biệt trong
học sinh.
Ảnh hưởng do gia đình có hoàn cảnh kinh tế khó khăn. Từ những khó
khăn về đời sống kinh tế, cha mẹ phải lao động vất vả, không quan tâm đến việc
học tập của con em, phó mặc cho nhà trường. Có gia đình buộc con cái phải lao
động, làm cho các em không có thời gian học tập ở nhà như soạn bài, học bài cũ.
Do đó, khi đến lớp việc tiếp thu bài mới khó khăn; lo lắng, sợ thầy cô kiểm tra
bài cũ. Từ đó thua sút bạn bè và phát sinh tâm lý chán học, dẫn đến bỏ giờ, trốn
học, bỏ học.
Ảnh hưởng do gia đình chỉ lo làm ăn, không quan tâm đến việc học của
con cái. Nhiều gia đình vì kế sinh nhai, cả vợ chồng đều đi làm ăn xa, phó mặc
con cái cho ông bà hoặc chị em chăm sóc. Một số học sinh chưa tự giác và thiếu
sự quản lý chặt chẽ của người lớn nên nảy sinh những tư tưởng không lành
mạnh, từ đó ham chơi mà trốn học, bỏ học.
2.4.2. Nguyên nhân về phía nhà trường
Đây là ngôi nhà thứ hai của các em, nơi để phụ huynh gửi gắm niềm tin
vào việc giáo dục con em của họ. Từ đây, các em được học tập, được hiểu biết,
đến tình trạng ấy, tôi tìm ra những phương pháp tối ưu để từng bước cảm hoá
giáo dục các em. Sau đây là một vài kinh nghiệm của bản thân trong việc giáo
dục học sinh cá biệt mà tôi muốn trao đổi cùng đồng nghiệp qua đề tài này.
3. Các giải pháp thực hiện “giáo dục học sinh cá biệt” trong Trường trung
học phổ thông Trần Phú
3.1. Biện pháp giáo dục bằng tập thể:
Xây dựng một tập thể lớp đoàn kết, thân thiện, học tập tích cực. Đa số học
sinh phải hiểu và thực hiện tốt nội quy của trường lớp, không vi phạm những
điều cấm đối với học sinh. Qua đó để học sinh chậm tiến bộ thấy được những lỗi
vi phạm của mình ảnh hưởng đến tập thể lớp như thế nào? Để làm được điều đó
tôi sử dụng các biện pháp sau:
Cho học sinh viết cam kết thực hiện nghiêm nội quy trường lớp, không vi
phạm những điều cấm đối với học sinh theo điều lệ trường trung học, sau đó yêu
cầu phụ huynh học sinh ký xác nhận (01 bản học sinh giữ, 01 bản giáo viên chủ
nhiệm giữ).
Thường xuyên tuyên truyền, giáo dục các nội quy của nhà trường, luật an
toàn giao thông… trong các buổi sinh hoạt 15 phút đầu giờ, sinh hoạt cuối tuần,
sinh hoạt chi đoàn, sinh hoạt cuối tháng với các hình thức như: Cập nhật các học
sinh vi phạm trong nhà trường và chỉ rõ lỗi vi phạm, nguyên nhân vi phạm và
hình thức xử lý của nhà trường đối với các học sinh đó như thế nào? Tại sao phải
xử lý như vậy? Để các em rút kinh nghiệm.
Hướng dẫn để các em tổ chức buổi sinh hoạt tập thể như: Tọa đàm ngày
8/3 (tổ chức văn nghệ, bắt thăm câu hỏi, đố vui…) hoạt động chào mừng ngày
20/11 (các em tham gia văn nghệ do Đoàn trường tổ chức, hát về thầy cô, mái
trường..) qua đó để các em hiểu được truyền thống “tôn sư trọng đạo” truyền
7
thống “uống nước nhớ nguồn” của dân tộc ta. Từ các buổi sinh hoạt tập thể như
Mặt khác, thông qua nhóm bạn tốt, GVCN giao cho HS cá biệt thực hiện một số
công việc, tạo những điều kiện để những HS này hoàn thành và động viên khích
lệ các em để các em xóa những tự ti, mặc cảm là HSCB để hòa mình với bạn bè.
Ngoài ra có thể vận động gia đình của nhóm bạn tốt tham gia vào việc giúp đỡ
những HS này bằng cách tạo cho các em tâm lý xem gia đình của bạn như gia
đình mình, tạo điều kiện cho các em cùng tham gia học tập với con em mình để
tách dần ra khỏi nhóm bạn chưa ngoan. Việc làm này cả là một cố gắng trong đó
vai trò của GVCN rất quan trọng và sự tham gia của Hội PHHS là rất cần thiết .
Giao nhiệm vụ cho tất cả học sinh trong lớp, phải đoàn kết giúp đỡ các
bạn học sinh cá biệt. Để có trách nhiệm hơn thì phân công công việc cụ thể.
3.4. Biện pháp giáo dục bằng tâm lý:
8
Thường xuyên quan tâm, gần gũi với học sinh cá biệt để các em không
mặc cảm, tự ti. Giáo viên chủ nhiệm đóng vai trò là người cha, người mẹ đáng
tin cậy để các em trao đổi những tâm tư nguyện vọng của mình, qua đó giáo viên
chủ nhiệm có cơ hội để khai thác, tìm hiểu nguyên nhân tại sao học sinh lại mắc
phải khuyết điểm này, khuyết điểm kia để từ đó có biện pháp nhắc nhở, uốn nắn
kịp thời.
Để thu thập được các thông tin trên phải dựa vào những kênh thông tin nào?
Thông qua nhận xét sổ đầu bài; thông qua các giáo viên bộ môn; thông qua ban
theo dõi nề nếp của nhà trường; thông qua ban cán sự lớp; thông qua bạn bè mà
học sinh đó chơi thân; thông qua phụ huynh học sinh.
3.5. Kết hợp giáo dục qua giáo viên bộ môn:
Như phần trình bày nguyên nhân trên, một phần biểu hiện cá biệt của các
em là do quan hệ giữa giáo viên và học sinh chưa tốt, có em có những phản kháng
đối với những hành động quá đáng của một vài giáo viên. ví dụ như có GV dùng
những lời quá nặng nề trong việc nhận xét HS không thuộc bài cũ, không hiểu
Trong trường hợp học sinh vi phạm với mức độ nghiêm trọng, hoặc chậm
tiến bộ cần phối hợp với Đoàn trường, Ban Giám hiệu để có biện pháp giáo dục.
4. Hiệu quả của sáng kiến kinh nghiệm:
Vận dụng các biện pháp trên vào lớp tôi chủ nhiệm:
Qua theo dõi trong lớp 10H tôi chủ nhiệm có 4 học sinh cá biệt:
Số
TT
1
2
3
4
Họ và tên
Mai Văn Đức
Nguyễn Hữu Linh
Trịnh văn Quyền
Trương Thị Trang
Ngày
sinh
Giới
không nghe lời
thầy cô, tóc
3/10
Nam nhuộm màu vàng Yếu
1997
hoe, bấm lỗ tai, áo
in hình quái vật ,
hay đi học muộn.
Bôi son, sử dụng
điện thoại, hay
02/6
Nữ nói chuyện riêng Yếu
1997
trong giờ học,
lười lao động.
TB
Bố mất,
mẹ đi
làm ăn
xa, ở với
bà
TB
Bố mất
sớm, ở
với mẹ
30 71,43
6
14,29
2
4,76
4
9,52
Xếp loại văn hóa
10H
42
Giỏi
Khá
Trung bình
Yếu
SL
%
SL
%
SL
%
SL
%
0
0
15
35,7
27 64,3
0
0
Trung bình
SL
%
SL
%
SL
%
59,5
35,7
2
4,76
25
15
2
2
chủ nhiệm,
Yếu
SL
%
0
0
Yếu
SL
Để đạt được kết quả nhất định cần phải biết kết hợp từ nhiều phía:
Giáo viên chủ nhiệm, giáo viên bộ môn, cán sự lớp, các đoàn thể, phụ huynh...
11
Các giải pháp đưa ra phải phù hợp với đối tượng học sinh.Người giáo viên phải
tâm huyết với nghề, nhiệt tình, trách nhiệm với công tác chủ nhiệm.
2. Kiến nghị
- Lãnh đạo các cấp chính quyền có hướng tích cực hơn về mặt giáo dục đạo đức cho
học sinh, nhất là đối với học sinh cá biệt ( HSCB)
- Tăng cường tiết ngoại khóa về giáo dục đạo đức học sinh.
- Nhà trường kết hợp với chính quyền để giáo dục học sinh cá biệt.
- Bí thư Đoàn trường, BGH, PH kết hợp với GVCN để cùng giáo dục HSCB
- Giáo viên CN năm sau kết hợp với GVCN năm trước về tình hình HSCB
- Giáo viên bộ môn cũng có trách nhiệm hơn trong việc giáo dục đạo đức cho
học sinh.
Tôi viết đề tài này, với mong muốn được chia sẻ với đồng nghiệp về
những kinh nghiệm của mình trong công tác chủ nhiệm. Song đề tài được viết
dựa trên những kinh nghiệm cá nhân nên không tránh khỏi những hạn chế nhất
định, rất mong sự đóng góp ý kiến của bạn bè đồng nghiệp.
Tôi xin chân thành cảm ơn!
XÁC NHẬN
Nga Sơn, ngày 10 tháng 5 năm 2017
CỦA THỦ TRƯỞNG ĐƠN
Tôi xin cam đoan đề tài này là cá