CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
TÊN ĐỀ TÀI, SÁNG KIẾN, GIẢI PHÁP:
MỘT SỐ BIỆN PHÁP GIÁO DỤC HỌC SINH CÁ BIỆT
Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG
Quảng Bình, tháng 01 năm 2019
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
TÊN ĐỀ TÀI, SÁNG KIẾN, GIẢI PHÁP:
MỘT SỐ BIỆN PHÁP GIÁO DỤC HỌC SINH CÁ BIỆT
Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG
Họ và tên: Nguyễn Thị Phương Thảo
Chức vụ: Tổ phó chuyên môn
Đơn vị công tác:Trường THPT Phan Đình Phùng
Quảng Bình, tháng 01 năm 2019
MỤC LỤC
I. MỞ ĐẦU .................................................................................................................. 1
1. Lý do chọn đề tài ..................................................................................................... 1
2. Điểm mới của đề tài.................................................................................................. 1
3. Phạm vi áp dụng ...................................................................................................... 2
II. NỘI DUNG ............................................................................................................. 3
I.
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
Luật giáo dục đã xác định: “Mục tiêu của giáo dục phổ thông là giúp cho
học sinh phát triển toàn diện về đạo đức, trí tuệ, thể chất, thẩm mỹ và các kỹ năng
cơ bản nhằm hình thành nhân cách con người Việt Nam Xã hội Chủ nghĩa, xây
dựng tư cách và trách nhiệm công dân”… ( Điều 23-Luật giáo dục).
Có thể nói rằng, sự nghiệp giáo dục đào tạo hiện đang được toàn Đảng toàn
dân quan tâm. Vai trò của người giáo viên trong nhà trường gắn liền với hai nhiệm
vụ: vừa giảng dạy vừa làm công tác giáo dục. Mục đích là đào tạo ra những học
sinh vừa có kiến thức văn hóa, vừa có nhân cách làm người.
Giáo dục là khoa học nhưng cũng là nghệ thuật. Trước những vụ bạo lực
học đường liên tiếp xảy ra gần đây đặt giáo viên và các nhà quản lý giáo dục trước
thực tế: làm thế nào để cảm hóa và giáo dục học sinh cá biệt có hiệu quả là một
vấn đề khá nan giải, phức tạp và hết sức nhạy cảm. Công việc này đã và đang trở
thành một thách thức lớn với toàn xã hội nói chung và đặc biệt là ngành giáo dục
nói riêng, trong đó chủ yếu là nhiệm vụ của các nhà trường.
Vậy, làm sao để giáo dục học sinh cá biệt có hiệu quả?
Với mong muốn góp phần vào việc luận giải những vấn đề nói trên, tôi chọn
đề tài: “Một số biện pháp giáo dục học sinh cá biệt ở trường THPT”, vấn đề này
chắc hẳn không chỉ riêng tôi, mà rất nhiều đồng nghiệp khác quan tâm suy nghĩ,
làm sao học sinh của mình trở thành những con người tốt có ích cho xã hội.
2. Điểm mới của đề tài:
Đề tài tập trung đưa ra một số biện pháp giáo dục học sinh cá biệt ở trường
THPT. Nhìn chung, các biện pháp nêu ra căn bản dựa trên các phương pháp giáo
dục học sinh truyền thống, dựa vào đặc điểm tình hình học sinh cụ thể, giáo viên
Một số vấn đề chung về học sinh cá biệt (HSCB)
1.1.1. Thế nào là HSCB?
Trước hết, cần hiểu đúng khái niệm “học sinh cá biệt”. Đó là những học
sinh có cá tính khác biệt so với số đông học sinh bình thường (không có nghĩa học
sinh cá biệt là bất bình thường). Chẳng hạn khi ở lớp học đang yên lặng làm bài
tập thì em đó bỗng la lớn lên khi làm bài được, thích học thì học, không thích thì
đùa giỡn, quậy phá các bạn kế bên, chọc cho bạn giỡn, nói chuyện với mình, tâm
trạng thì "mưa nắng thất thường" hoặc thầy cô đang giảng về vấn đề này lại hỏi
vấn đề khác.
1.1.2. Phân loại HSCB
1.1.2.1. Học sinh cá biệt về học tập: có ba loại:
+ Một là những em có trí tuệ và khả năng nhận thức bình thường nhưng rất
lười biếng, lêu lổng, học kiểu “tài tử” dẫn đến hổng kiến thức, hay quay cóp trong
học tập. Kết quả học tập thất thường, sút kém, luôn xếp “đội sổ”, dẫn đến chán
học.
+ Hai là những em thiểu năng về trí tuệ: Là những trẻ trông hình thức bề
ngoài bình thường, hơi có vẻ như đần độn, trong học tập thì dạy mãi, học mãi
chẳng nhập tâm được cái gì (hay nói cách khác là thuộc diện “chậm hiểu”).
+ Ba là những em thuộc diện khuyết tật (nói ngọng hoặc không nói được,
mắt, tai, tay chân…) dẫn dến không đủ giác quan, phương tiện để học tập bình
thường như những bạn khác.
1.1.2.2. Học sinh cá biệt về đạo đức, lối sống: Thường có những biểu hiện
như:
+ Hay trốn học đi chơi điện tử, lừa dối cha mẹ, thầy cô, giả tạo chữ kí
của bố mẹ trong sổ liên lạc hoặc giấy xin phép;
+ Dọa nạt bạn bè thậm chí đánh nhau; lảng tránh các hoạt động tập thể;
+ Tiêu xài các khoản phí của bố mẹ cho để đóng góp với nhà trường; càn
3
4
Xử phạt: là phê phán những khiếm khuyết của học sinh, là tác động có tính
chất cưỡng bức đến danh dự lòng tự trọng của cá nhân học sinh để răn đe những
hành vi thiếu đạo đức và ngăn ngừa sự tái phạm của học sinh đó và những học
sinh khác. Do đó phải thận trọng và đúng mực, không được lạm dụng phương
pháp này. Khi xử phạt cần phải làm cho học sinh thấy rõ sai lầm, khuyết điểm,
thấy hối hận và đặc biệt sau đó phải theo dõi, giúp đỡ, động viên học sinh sửa
chữa khuyết điểm, cần phải tỏ rõ thái độ nghiêm khắc nhưng không có lời nói, cử
chỉ thô bạo đánh đập, xỉ nhục hoặc các nhục hình xúc phạm đến thân thể học sinh.
1.1.3.3. Phương pháp rèn luyện
Là những phương pháp tổ chức cho học sinh hoạt động để rèn luyện cho
các em những thói quen đạo đức, thể hiện được nhận thức và tình cảm đạo đức
của các em thành hành động thực tế:
Rèn luyện thói quen đạo đức thông qua các hoạt động cơ bản của nhà
trường: dạy học trên lớp, lao động, hoạt động xã hội đoàn thể và sinh hoạt tập thể
đặc biệt là xây dựng đội ngũ cán bộ Đoàn có khả năng giao tiếp, khuyên nhủ tốt.
Rèn luyện đạo đức thông qua các phong trào thi đua trong nhà trường là
biện pháp tác động tâm lý rất quan trọng nhằm thúc đẩy các động cơ kích thích
bên trong của học sinh, làm cho các em phấn đấu vươn lên trở thành người có đạo
đức tốt, vì vậy nhà trường cần tổ chức các phong trào thi đua và động viên học
sinh tham gia tốt phong trào này. Phối hợp với giáo viên chủ nhiệm đề cử các em
đảm nhiệm một số nhiệm vụ của lớp, hay theo dõi thi đua trong lớp .
Rèn luyện bằng cách chuyển hướng các hoạt động của học sinh từ hoạt động
có hại sang hoạt động có ích, phương pháp này dựa trên đặc tính ham hoạt động
của trẻ và được dùng để giáo dục học sinh bỏ một thói hư xấu nào đó bằng cách
gây cho học sinh hứng thú với một hoạt mới bổ ích, lôi kéo trẻ ra ngoài những tác
động có hại.
1.2. Thực trạng giáo dục HSCB ở trường THPT hiện nay
- Thứ tư là từ bản thân học sinh : Giai đoạn tâm sinh lý có nhiều biến đổi.
Từ tuổi thiếu niên chuyển sang tuổi thanh niên, học sinh muốn khẳng định mình
bằng sự hiểu biết chưa hoàn thiện của mình; có thể do bản năng hoặc bệnh a dua
...
6
1.3. Kết quả giáo dục các năm trước
Qua thống kê và theo dõi lớp 11A3, Trường THPT Phan Đình Phùng, lớp
tôi chủ nhiệm, năm học 2017 – 2018, có một số em học sinh thuộc dạng cá biệt
như sau:
1.3.1. Dạng cá biệt về học tập
Đây là những học sinh lười học tập, không chịu lắng nghe giảng bài, thường
vắng học và có kết quả học tập thấp. Kết quả kiểm tra cuối năm gồm có 09 em
dưới điểm, xếp học lực yếu, chiếm tỉ lệ là trên 24 %. Đa số các em mất gốc kiến
thức. Cụ thể:
STT
Họ và tên
Ghi chú
1 Nguyễn Hoàng Hải
Yếu Văn, Sinh, Lý, Anh
2 Lê Trung Hậu
Yếu Toán, Lý, Anh
Qua khảo sát năm học 2017-2018, lớp 11A3 có 04 HSCB, trong đó, có 02
em hạnh kiểm yếu, 02 em hạnh kiểm trung bình, chiếm tỉ lệ 10,8 %. Hầu hết các
em này thường nói tục, chửi thề, ngồi học không tập trung, không nghe lời giáo
viên, lười học bài, có em nghiện điện tử... Có em thường hay vắng học không lý
do, hỏi ít chịu trả lời…. Trong đó có các em sau :
- Nguyễn Hoàng Hải – hay nghỉ học không có lí do
- Nguyễn Chung Bửu – lắng nghe nhưng không học theo, thường làm
theo những gì mình muốn.
- Lê Ngọc Sơn – hay nói tục, chửi thề, nghỉ học …
7
- Nguyễn Viết Quân – không chịu vâng lời
Chương 2. Một số biện pháp giáo dục học sinh cá biệt ở trường THPT
Như chúng ta đã biết, giáo dục HSCB là một nhiệm vụ vô cùng khó khăn,
phức tạp và rất khó thành công trong một thời gian ngắn. Nó đòi hỏi một quá trình
dài lâu, có sự gắn kết, thật sự trách nhiệm của các giáo viên chủ nhiệm từ lớp dưới
đến lớp trên, cùng sự quan tâm chia sẻ thường xuyên từ phía phụ huynh, gia
đình…
Để góp phần làm cho công tác giáo dục HSCB trong nhà trường đạt hiệu
quả, sau đây tôi xin đưa ra một số biện pháp:
2.1. Nắm chắc quan điểm chỉ đạo của cấp trên
Nắm vững đường lối quan điểm của Đảng về công tác giáo dục, mục tiêu
giáo dục, mục tiêu cấp học, lớp học, kế hoạch, nhiệm vụ giáo dục, dạy học của
học kỳ, năm học đối với HSCB. Khéo léo khích lệ HSCB chủ động hòa nhập, thực
hiện nhiệm vụ chung, nhiệm vụ của lớp trong phong trào chung. Đồng thời, phải
nắm vững tri thức lý luận giáo dục, có nghệ thuật sư phạm, xây dựng và phối hợp
tốt các mối quan hệ trong nhà trường và địa phương.
Tìm hiểu tiềm năng của cộng đồng, địa phương, xã hội, theo dõi thời sự
trong nước và quốc tế để vận dụng những hiểu biết đó vào công tác chủ nhiệm.
vị thành niên, giáo dục kĩ năng sống vào nhà trường để các em có đủ hành trang
bước vào cuộc sống, không bị bỡ ngỡ, bất ngờ. Khi gặp phải những tình huống
bất ngờ các em biết bình tĩnh xử lí hiệu quả nhất. Sưu tầm và đưa các trò chơi dân
gian, có thể sáng tạo các trò chơi dân gian cho phù hợp với thời đại ngày nay vào
trong nhà trường.
Đoàn trường chủ động phối hợp với giáo viên chủ nhiệm, giáo viên bộ môn
tổ chức tốt phong trào thi đua học tập, rèn luyện đoàn viên theo năm điều Bác Hồ
dạy, phong trào xây dựng trường hoc thân thiện, học sinh tích cực; thường xuyên
đổi mới nội dung hình thức sinh hoạt; xây dựng đội tuyên truyền hoạt động thường
xuyên, nêu gương tốt, phê phán nhưng thói hư tật xấu…Tổ chức sinh hoạt đoàn
thường xuyên tạo sân chơi lành mạnh cho các em học sinh chưa ngoan. Có thể tổ
chức các hoạt động, các sân chơi theo chủ đề, chủ điểm, các hội thi như: Chúng
em với ATGT, Thi cắm hoa, thi văn nghệ, diễn đàn giới tính và sức khỏe sinh sản
vị thành niên. Thông qua các hoạt động nhằm giáo dục kĩ năng nhận diện vấn đề,
biết xác định tình huống, biết cách tự khẳng định, biết cách từ chối khi bị lôi cuốn,
9
biết tự chăm sóc sức khỏe, biết phòng chống các tệ nạn xã hội, thực hiện tốt
ATGT, tránh rủi ro đáng tiếc.
2.5. Nêu gương sáng cho học sinh noi theo
Bản thân người giáo viên chủ nhiệm phải là tấm gương sáng biết tự hoàn
thiện phẩm chất nhân cách của mình. Hơn ai hết, giáo viên chủ nhiệm lớp cần
phải có trí tuệ, có lương tâm, có uy tín, sống mẫu mực, tự trọng và biết giữ chữ
tín; hiểu biết tâm lý lứa tuổi của học sinh mình chủ nhiệm; phải có tinh thần trách
nhiệm cao yêu nghề, yêu thương học sinh và luôn luôn xác định phương châm “vì
sự nghiệp trăm năm trồng người” và “tất cả vì học sinh thân yêu”; biết sự kiềm
chế, bình tĩnh trong mọi tình huống, kiên định thực hiện thiên chức người kỹ sư
tâm hồn; có sự nhạy cảm sư phạm biết dùng yếu tố tình cảm như một nghệ thuật
sư phạm để cảm hóa học sinh cá biệt. Đã là giáo viên chủ nhiệm phải gương mẫu
phạm ở mức độ lỗi lớn hay nhỏ tôi cũng xử lí trên cơ sở giáo dục các em, cụ thể
cho em đó biết chuộc lỗi, làm một việc tốt, giao cho em đó thời gian thử thách.
2.7. Kiên trì tạo niềm tin và yêu thương
Để điều hành được HSCB, người thầy phải sắm đủ các vai. Khi thì nhà mô
phạm nghiêm khắc, lúc lại là cái vai cho các em gục đầu vào. Khi thì nhà tâm lý,
lúc lại là bác sĩ trị liệu, khi thì ông trọng tài, lúc khác lại là người cố vấn... Cứ như
thế, kiên trì cho đến khi các em tự nhận ra tại sao mình phải thay đổi. Từ cảm giác
cô thầy đã không chối bỏ mình, không chê mình, luôn khen ngợi, động viên ...,
các em dần phát hiện ra giá trị của bản thân, cảm thấy mình hữu ích và được việc...
Thế là tinh thần học tập được nhân lên, tạo ra sự tương tác và cộng hưởng. Giáo
viên nên thường xuyên trò chuyện, quan tâm, gần gũi, nhắc nhở, động viên học
sinh học tập, có thái độ thân thiện với học sinh. Tạo cho học sinh nhìn mình là
cảm thấy gần gũi, chứ không phải gặp mình là sợ la, sợ bị mắng. Ta phải làm sao
tạo cho học sinh có cảm giác là giáo viên như là một người bạn thân, bạn tâm tình,
sẵn sàng lắng nghe ý kiến của mình, khi mình vui, buồn đều có thể chia sẻ với
thầy cô, khích lệ mình khi mình khó khăn trong gia đình, bế tắc trong học tập.
Giáo dục từng bước, chậm rãi từ những công việc nhỏ. Chẳng hạn phải thức
sớm một chút để không phải đi trễ, mình học yếu thì nên chịu khó, siêng làm bài
tập hơn các bạn, khi nào làm bài tập, học sinh mệt thì nên giải lao để tinh thần
thoải mái rồi làm tiếp, không nên cố gắng quá sức. Giáo viên không nên giáo dục
11
ào ạt chưa hỏi han lý do gì hết mà đã la mắng học sinh cho dù học sinh đó vi phạm
nhẹ, như vậy sẽ mất hiệu quả giáo dục. Bởi vì đấy là những học sinh cá biệt, tính
tình ương ngạnh, tâm lý bất cần, học hay không cũng không quan trọng.
2.8. Giáo viên phải biết làm mới tiết dạy của mình
Muốn HSCB nghe theo mình thì một yêu cầu quan trọng là thầy, cô phải
giỏi nghề. Thầy, cô luôn cải tiến, đổi mới phương pháp giảng dạy. Tiết sau “mới”
hơn tiết trước. Sau một tiết học, trò học được nhiều tri thức bổ ích tạo nên sự đam
Chương 3. Kết quả vận dụng một số biện pháp giáo dục HSCB ở
trường THPT
Sau một học kỳ vận dụng phương pháp giáo dục HSCB mới ở lớp chủ
nhiệm (12A3), trường THPT Phan Đình Phùng, năm học 2018 – 2019, bản thân
tôi nhận thấy kết quả khả quan như sau:
3.1. Dạng cá biệt về học tập
Sơ kết học kỳ I, năm học 2018 - 2019, có 01 em dưới điểm, xếp học lực
yếu, chiếm tỉ lệ là trên 2,8 %. Cụ thể:
STT
Họ và tên
1 Trần Ngọc Phú
Ghi chú
Kém môn Vật Lý
3.2. Dạng cá biệt về đạo đức
Qua khảo sát học kỳ I, năm học 2018-2019, cả lớp còn 01 HSCB, xếp hạnh
kiểm yếu, chiếm tỉ lệ 2,8 %. Em này thường hay nghỉ học, không chịu lắng nghe
giáo viên bộ môn, đi học không chép bài vở …
Như vậy, kết quả hai mặt của học kỳ I năm học 2018 – 2019 so với năm
học 2017 – 2018, đã tiến bộ hơn hẳn, số HSCB về học lực và HSCB về đạo đức
giảm hẳn. Từ 09 em yếu học lực năm 2017 - 2018, đến kỳ I năm học 2018 – 2019
chỉ còn 01 em; hạnh kiểm từ chổ 02 em yếu, đến học kỳ I năm 2018 – 2019 chỉ
còn 01 em. Các em ngoan hơn, chăm học hơn, có ý thức xây dựng tập thể, vâng
lời thầy cô giáo….
Tuy nhiên, cha ông ta nói cũng thật chí lý: “Nhất quỷ, nhì ma, thứ ba học
trò”. Học trò được xếp vào bậc có thứ hạng nên dù đại đa số các em đã ngoan,
tiến bộ thì vẫn còn học sinh chưa ngoan, chưa tiến bộ. Giáo viên chủ nhiệm sẽ kết
các bạn đồng nghiệp.
Tuy nhiên do thời gian nghiên cứu ngắn, phạm vi nghiên cứu chỉ là một
trường THPT nên có nhiều vấn đề chưa được nhìn nhận một cách toàn diện. Một
số phân tích có thể phiến diện chưa bao quát toàn cục của vấn đề, các giải pháp
đưa ra chưa thể vận dụng hoàn hảo được trong các trường THPT hiện nay, nhưng
tôi tin rằng ít nhiều đề tài cũng giúp cho các nhà quản lý giáo dục thấy được thực
trạng của đạo đức HSCB hiện nay, để định hướng lại một số việc cần phải làm
14
trong thời gian sắp tới nhằm góp phần thành công vào công tác giáo dục đạo đức
cho học sinh cá biệt .
Đề tài xin được dừng lại ở đây. Rất mong nhận được sự góp ý chân thành
của các đồng nghiệp để vấn đề dạy học văn ngày càng đạt hiệu quả cao.
2. Kiến nghị, đề xuất
Nhân đây tôi cũng muốn cấp Sở có nhiều chuyên đề hội thảo, bồi dưỡng
thường xuyên giúp giáo viên chúng tôi có cơ hội học hỏi, trau dồi kinh nghiệm để
thành thạo hơn, nhuần nhuyễn hơn trong công tác chủ nhiệm.
15
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Nghiệp vụ quản lý trường THPT – tập 4- trường cán bộ quản lý giáo dục
TP. Hồ Chí Minh. Năm 2003.
2. Lý luận quản lý giáo dục và phương pháp nghiên cứu khoa học giáo dục
trường THPT- tập 2- trường cán bộ quản lý giáo dục TP. Hồ Chí Minh.
Năm 2003.
3. Báo giáo dục, báo tiền phong .
4. Quyết định số 40/2006/QĐ- BGDĐT về việc ban hành quy chế đánh giá