ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
---------------------
NGUYỄN VĂN DŨNG
TRÁCH NHIỆM XÃ HỘI CỦA
CÔNG TY CỔ PHẦN XI MĂNG VICEM BÚT SƠN
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN TRỊ KINH DOANH
CHƯƠNG TRÌNH ĐỊNH HƯỚNG ỨNG DỤNG
Hà Nội - 2019
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
---------------------
NGUYỄN VĂN DŨNG
TRÁCH NHIỆM XÃ HỘI CỦA
CÔNG TY CỔ PHẦN XI MĂNG VICEM BÚT SƠN
Chuyên ngành: Quản trị kinh doanh
Mã số: 60 34 01 02
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN TRỊ KINH DOANH
CHƯƠNG TRÌNH ĐỊNH HƯỚNG ỨNG DỤNG
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS. TS. NGUYỄN ĐĂNG MINH
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
STT Ký hiệu
Nguyên nghĩa
1
BKS
Ban kiểm soát
2
CBCNV
Cán bộ công nhân viên
3
ĐHĐCĐ
Đại hội đồng cổ đông
4
HĐQT
Bảng 2.1 Các nhận định về CSR
Các tiêu chí đánh giá công tác thực hiện TNXH
Bảng 2.2
của Công ty Vicem Bút Sơn đối với người lao động
Các tiêu chí đánh giá công tác thực hiện TNXH
Bảng 2.3
của Công ty Vicem Bút Sơn đối với môi trường
Các tiêu chí đánh giá công tác thực hiện TNXH
Bảng 2.4
của Công ty Vicem Bút Sơn đối với cộng đồng
Bảng 3.1 Tỷ lệ độ tuổi theo mẫu khảo sát
6
Bảng 3.2 Tỷ lệ trình độ học vấn theo mẫu khảo sát
42
7
Bảng 3.3 Tỷ lệ nhận thức về CSR theo mẫu khảo sát
44
8
Bảng 3.4 Mức độ thực hiện TNXH đối với người lao động
47
Trang
7
1
Hình 1.1
Mô hình kim tự tháp về CSR
12
2
Hình 2.1
Sơ đồ quy trình nghiên cứu
25
3
Hình 3.1
Mô hình tổ chức của Vicem Bút Sơn
35
4
Hình 3.6
Tỷ lệ giới tính theo mẫu khảo sát
Tỷ lệ thời gian làm việc tại Công ty theo mẫu
khảo sát
8
43
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Trong bối cảnh toàn cầu hóa hiện nay, cùng với tiến trình hội nhập kinh
tế quốc tế của nước ta ngày càng được đẩy mạnh, áp lực cạnh tranh giữa các
doanh nghiệp ngày càng khốc liệt. Đặc biệt, khi gia nhập thị trường quốc tế,
sự đòi hỏi của các nhà nhập khẩu hàng hóa đối với các doanh nghiệp Việt
Nam trong việc tuân thủ các chuẩn mực quốc tế về nguồn gốc, xuất xứ hàng
hóa, chế độ của người lao động, bảo vệ môi trường… ngày càng gia tăng. Do
đó, để tham gia cuộc chơi, các doanh nghiệp nước ta buộc phải đáp ứng các
vấn đề nêu trên.
Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp (CSR - Corporate Social
Responsibility) đã và đang ngày càng được biết đến, có vai trò quan trọng
trong sự phát triển bền vững của doanh nghiệp và quốc gia bởi nó bao gồm
toàn bộ các khía cạnh trên. Thực hiện tốt trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp
không những sẽ giúp doanh nghiệp kinh doanh tốt mà còn nâng tầm ảnh
hưởng của doanh nghiệp, chiếm được niềm tin, sự tôn trọng của khách hàng,
đối tác và xã hội, đồng thời giúp doanh nghiệp giải quyết các vấn đề mang
tính chiến lược.
hạn chế còn tồn tại.
Đề xuất giải pháp nhằm nâng cao nhận thức và công tác thực hiện trách
nhiệm xã hội của Công ty Cổ phần xi măng Vicem Bút Sơn.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Tình hình thực hiện trách nhiệm xã hội tại Công ty Cổ phần xi măng
Vicem Bút Sơn.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
Về không gian: Công ty Cổ phần xi măng Vicem Bút Sơn.
10
Về thời gian: Từ năm 2016 đến năm 2018.
Về nội dung: Nội dung nghiên cứu liên quan đến nhận thức về CSR và
công tác thực hiện trách nhiệm xã hội tại Công ty Cổ phần xi măng Vicem
Bút Sơn dựa trên mô hình kim tự tháp về CSR của Carroll và dựa trên Bộ quy
tắc ứng xử BSCI, Bộ nguyên tắc CERES, tiêu chuẩn ISO 26000.
5. Những đóng góp của luận văn
Làm rõ thực trạng nhận thức về CSR và thực hiện trách nhiệm xã hội
tại Công ty Vicem Bút Sơn.
Gợi ý các đề xuất nâng cao nhận thức và thực hiện trách nhiệm xã hội
tại Công ty Vicem Bút Sơn.
Gợi ý cho các nhà quản lý của Công ty Vicem Bút Sơn có định hướng
phát triển doanh nghiệp đi đôi với việc thực hiện CSR nhằm đảm bảo cho
Công ty phát triển bền vững.
6. Kết cấu của luận văn
Nội dung của luận văn gồm:
Phần mở đầu
Danh mục các từ viết tắt, bảng, hình
chân các nhân viên hàng đầu. Để đảm bảo thành công, các nhà quản lý nên
cùng với nhân viên tạo ra các chiến lược CSR, thông báo cho nhân viên về
các sáng kiến CSR, đáp ứng nhu cầu của họ và khuyến khích trao đổi với
công ty.
Perrini và cộng sự (2009) dựa trên các phân tích về sáu hoạt động của
công ty liên quan đến CSR: tổ chức, khách hàng, xã hội, môi trường tự nhiên,
đổi mới, quản trị để đưa ra sáu điểm quan trọng cho nhà quản lý: Thực hiện
12
báo cáo CSR giúp củng cố tổ chức doanh nghiệp, CSR giúp tăng cường quản
lý nguồn nhân lực, khách hàng quan tâm đến việc thực hiện CSR của công ty,
cải thiện môi trường tác động đến hiệu quả tài chính của công ty, thực hiện tốt
CSR giúp doanh nghiệp gặp ít rủi ro, CSR có thể thúc đẩy sự đổi mới.
Jacobs và cộng sự (2010) thực hiện một cuộc điều tra thực nghiệm về
hiệu quả môi trường và giá trị thị trường của công ty dựa trên đánh giá về 417
thông báo của công ty về các sáng kiến nhằm tránh, giảm thiểu hoặc bù đắp
cho môi trường và 363 thông báo của bên thứ ba về giải thưởng và chứng
nhận được xuất bản trong 14 ấn phẩm kinh doanh hàng ngày như Financial
Times, The New York Times và The Wall Street Journal từ năm 2004 đến
2006. Nghiên cứu đưa ra giả thuyết thị trường sẽ phản ứng tích cực với cả hai
loại thông báo, nhưng các giải thưởng và chứng nhận của bên thứ ba sẽ dẫn
đến giá cổ phiếu tăng vọt so với thông báo của công ty, bởi vì sự tin cậy của
các bên thứ ba.
Adewuyi và Olowookere (2010) đã nghiên cứu CSR và sự phát triển
bền vững hướng tới cộng đồng ở Nigeria tại công ty xi măng WAPCO trên cơ
sở phân tích 15 khía cạnh: công bố các chính sách xã hội và môi trường;
chính sách xã hội và an toàn; thực hiện bảo vệ môi trường; quản trị doanh
nghiệp; chính sách nguồn nhân lực và việc làm; đầu tư cộng đồng và tình
Hornik (2014) với nghiên cứu truyền thông các chính sách CSR trong
các nhà máy xi măng chính tại Séc, tác giả đã phân tích truyền thông trực
tuyến bên ngoài các hoạt động CSR qua trang web, Facebook, Twitter,
Youtube và khảo sát nhận thức của các nhân viên về CSR tại 5 công ty sản
xuất xi măng: CMC, Holcim, Lafarge, Cemex, Cement Hranice. Nghiên cứu
cho thấy các công ty đều có nhận thức về CSR và hầu hết đều có các báo cáo
bền vững từ các hoạt động bằng tiếng Séc. Đồng thời, nghiên cứu cũng đưa ra
một số giải pháp về truyền thông CSR và nhận thức của nhân viên về CSR để
giúp các công ty sẽ có được nguồn thông tin quý giá về hiệu quả của công ty
14
trong các lĩnh vực và đảm bảo cho các bên liên quan về lợi ích của việc kinh
doanh của công ty, giúp nâng cao danh tiếng, hình ảnh công ty: Cần có báo
cáo phát triển bền vững, các báo cáo nên được kiểm tra bởi bên thứ 3; Báo
cáo bền vững nên được đưa lên trang web, Facebook hoặc qua liên kết trên
Twitter; Cần có người của công ty chịu trách nhiệm tổng hợp các dữ liệu để
tạo một báo cáo bền vững hoàn chỉnh; Tăng cường nhận thức cho nhân viên
ngay từ khi ký hợp đồng với công ty; Đẩy mạnh các quy tắc ứng xử đạo đức,
chủ yếu trong quan hệ kinh doanh và các quy tắc này đều được đưa lên mạng
nội bộ của công ty.
1.1.2. Các nghiên cứu ở trong nước
Phạm Văn Đức (2011), trong bài viết “Trách nhiệm xã hội của doanh
nghiệp ở Việt Nam: Một số vấn đề lý luận và thực tiễn cấp bách”, tác giả đi
sâu phân tích nội dung, vai trò của CSR và một vài vấn đề đặt ra trong việc
thực hiện CSR của các doanh nghiệp Việt Nam. Qua việc làm rõ những lợi ích
và những rào cản, thách thức của việc thực hiện trách nhiệm xã hội của các
doanh nghiệp tại Việt Nam, tác giả đã đưa ra gợi ý để thúc đẩy việc thực hiện
trách nhiệm của các doanh nghiệp thông qua việc tuyên truyền, giáo dục trách
Báo Quảng Ninh có bài “Công ty Cổ phần Xi măng Cẩm Phả: Nêu cao
trách nhiệm xã hội trong phát triển”. Bài báo cho biết Công ty CP Xi măng
Cẩm Phả được biết đến là doanh nghiệp luôn tích cực trong các phong trào
ủng hộ từ thiện, ủng hộ đồng bào nghèo, đồng bào bị thiên tai, lũ lụt... Những
hành động đầy ý nghĩa đã được Công ty thực hiện như: Ủng hộ đồng bào bị lũ
quét và sạt lở đất tại tỉnh Lai Châu và Bắc Kạn với trị giá 100 triệu đồng; xây
dựng, trao tặng xi măng để xây dựng các công trình công cộng, tham gia các
hoạt động nhân đạo từ thiện trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh. Công ty đã trao
tặng trên 300 tấn xi măng cho các đơn vị trên địa bàn tỉnh để xây dựng cơ sở
vật chất, đóng góp hàng trăm triệu đồng cho các quỹ xã hội từ thiện trên địa
bàn tỉnh Quảng Ninh.
16
Tạp chí Vietnam Business Forum (VBF) với bài viết “Vicem Hoàng
Thạch: Gắn kinh doanh với trách nhiệm xã hội” cho biết Vicem Hoàng Thạch
đã luôn coi trọng "trách nhiệm xã hội" và được thể hiện qua các hoạt động cụ
thể: Hằng năm, Công ty đều đầu tư kinh phí thích đáng, ưu tiên sử dụng thiết
bị, công nghệ thân thiện với môi trường, hướng tới mục tiêu “sản xuất sạch
hơn”; sử dụng nhiên liệu thay thế, giảm thiểu phát thải khí nhà kính CO2;
đồng thời thực hiện các giải pháp phục hồi môi trường; tổ chức các hoạt động
truyền thông rộng rãi nhằm nâng cao nhận thức về quản lý rác thải, tuân thủ
hệ thống ISO 14000 các quy định về môi trường của pháp luật Việt Nam và
các tiêu chuẩn quốc tế; hưởng ứng, tham gia đóng góp, ủng hộ cho các hoạt
động xã hội, từ thiện.
Nguyễn Thị Nhâm Tuất và cộng sự (2012) đã đánh giá hiện trạng môi
trường tại Công ty xi măng Bút Sơn thông qua kết quả đo đạc một số chỉ tiêu
vi khí hậu và các chỉ tiêu về chất lượng môi trường. Kết quả cho thấy hàm
lượng bụi tại một số khu vực trong Công ty và một số tuyến đường vận tải
Công ty Cổ phần xi măng Vicem Bút Sơn nói riêng chưa có. Do đó, việc
nghiên cứu trách nhiệm xã hội của Công ty Cổ phần xi măng Vicem Bút Sơn
sẽ đóng góp một phần nào đó trong lĩnh vực này tại Việt Nam.
1.2. Cở sở lý luận về trách nghiệm xã hội của doanh nghiệp
1.2.1. Khái niệm về trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp
Khái niệm Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp (CSR) bắt đầu từ
những năm 1920, tuy nhiên, do cuộc khủng hoảng và chiến tranh thế giới thứ
II, nó đã không trở thành một chủ đề được các nhà lãnh đạo doanh nghiệp
tranh luận cho đến những năm 1950. Howard Rothmann Bowen, năm 1953,
với cuốn sách “Trách nhiệm xã hội của doanh nhân” (Social Responsibilities
of the Businessmen), ông là người đầu tiên đưa ra khái niệm CSR nhằm
“tuyên truyền và kêu gọi người quản lý tài sản không làm tổn hại đến các
18
quyền và lợi ích của người khác, kêu gọi lòng từ thiện nhằm bồi hoàn những
thiệt hại do các doanh nghiệp làm tổn hại cho xã hội” (Phạm Văn Đức).
Nếu như vào những năm 1950 có rất ít các định nghĩa về CSR, thập
niên 1960 cho thấy một sự gia tăng đáng kể các khái niệm CSR. Keith Davis
(1960) đưa ra định nghĩa về trách nhiệm xã hội trong một bài báo bằng cách
lập luận rằng nó đề cập đến các quyết định và hành động kinh doanh của các
doanh nhân vì lý do một phần vượt ra ngoài lợi ích về kinh tế hay công nghệ
của công ty. William C. Frederick (1960) cũng là người có đóng góp ảnh
hưởng đến các khái niệm ban đầu về trách nhiệm xã hội, CSR có nghĩa là các
doanh nhân cần tăng cường phúc lợi kinh tế xã hội, đáp ứng sự mong đợi của
công chúng. Năm 1963, Joseph W. McGuire, trong cuốn sách “Kinh doanh và
Xã hội” (Business and Society), ông đã viết “Ý tưởng về trách nhiệm xã hội
cho rằng các tập đoàn không chỉ có nghĩa vụ về kinh tế và pháp lý mà còn có
những trách nhiệm nhất định đối với xã hội, vượt ra ngoài những nghĩa vụ
Khía cạnh thứ hai, trách nhiệm pháp lý, việc tuân thủ pháp luật chính là một
phần của bản “cam kết” giữa doanh nghiệp và xã hội. Nhà nước có trách
nhiệm đưa các quy tắc xã hội, đạo đức vào văn bản luật, để doanh nghiệp theo
đuổi mục tiêu kinh tế trong khuôn khổ đó một cách công bằng và đáp ứng
được các chuẩn mực và giá trị cơ bản mà xã hội mong đợi ở họ; Khía cạnh
thứ ba, trách nhiệm đạo đức, là các quy tắc, giá trị được xã hội chấp nhận
nhưng chưa được đưa vào văn bản luật. Thông thường, luật pháp chỉ có thể đi
sau để phản ánh các đổi thay trong những quy tắc ứng xử xã hội vốn luôn
mới. Hơn nữa, trong đạo đức xã hội luôn tồn tại nhiều tranh luận đúng - sai
20
không rõ ràng, nên chúng chưa thể được đưa vào luật; Khía cạnh thứ tư, trách
nhiệm từ thiện, là việc doanh nghiệp có những hành động vượt ra ngoài sự
mong đợi của xã hội, như quyên góp ủng hộ cho những người thiếu may mắn,
tài trợ học bổng, đóng góp cho các dự án cộng đồng… Sự khác biệt giữa trách
nhiệm từ thiện và đạo đức là doanh nghiệp hoàn toàn tự nguyện. Nếu doanh
nghiệp không thực hiện trách nhiệm xã hội đến cấp độ này, họ vẫn được coi là
đáp ứng đủ các chuẩn mực mà xã hội mong đợi.
Trong những thập kỉ tiếp theo, có rất nhiều định nghĩa về CSR và khái
niệm CSR được mở rộng rất nhiều. Năm 2003, nhóm phát triển kinh tế tư
nhân của Ngân hàng thế giới định nghĩa “Trách nhiệm xã hội của doanh
nghiệp là sự cam kết của doanh nghiệp đóng góp vào việc phát triển kinh tế
bền vững, thông qua những hoạt động nhằm nâng cao chất lượng đời sống của
người lao động và các thành viên gia đình họ, cho cộng đồng và toàn xã hội,
theo cách có lợi cho cả doanh nghiệp cũng như phát triển chung của xã hội”
(World Bank, 2003). Đây là khái niệm CSR đang được sử dụng nhiều nhất
trên thế giới bởi vì sự hoàn chỉnh, rõ ràng và dễ hiểu của nó. Khái niệm này
đã đề cập đến CSR phải gắn liền với vấn đề phát triển bền vững - một yêu cầu
công suất do thiếu nguồn cung ứng sữa bò từ địa phương, và do vậy đã lỗ
trầm trọng. Để giải quyết vấn đề này, công ty đã thiết lập một chương trình
tổng thể giúp nông dân tăng sản lượng sữa bò. Chương trình này bao gồm đào
tạo nông dân cách chăn nuôi, cải thiện cơ sở hạ tầng cơ bản và thành lập một
Ủy ban điều phối những nhà cung cấp địa phương. Nhờ chương trình này, số
lượng làng cung cấp sữa bò đã tăng từ 6 tới hơn 400, giúp cho công ty hoạt
động hết công suất và đã trở thành một trong những chi nhánh kinh doanh lãi
nhất của Tập đoàn.
Nâng cao giá trị thương hiệu và uy tín của công ty: CSR có thể giúp
doanh nghiệp tăng giá trị thương hiệu và uy tín đáng kể. Uy tín giúp doanh
nghiệp tăng doanh thu, hấp dẫn các đối tác, nhà đầu tư, và người lao động.
22
Những tập đoàn đa quốc gia như The Body Shop (Tập đoàn của Anh chuyên
sản xuất các sản phẩm dưỡng da và tóc) và IKEA (Tập đoàn kinh doanh đồ
dùng nội thất của Thụy Điển). Cả hai công ty này đều nổi tiếng không chỉ vì
các sản phẩm có chất lượng và giá cả hợp lý của mình mà còn nổi tiếng là các
doanh nghệp có trách nhiệm đối với môi trường và xã hội.
Thu hút nguồn lao động giỏi: Nguồn lao động có năng lực là yếu tố
quyết định năng suất và chất lượng sản phẩm. Ở các nước đang phát triển, số
lượng lao động lớn, nhưng đội ngũ lao động đạt chất lượng cao lại không
nhiều; do vậy việc thu hút và giữ được nhân viên có chuyên môn tốt và có sự
cam kết cao là một thách thức đối với các doanh nghiệp. Những doanh nghiệp
trả lương thỏa đáng và công bằng, tạo cho nhân viên cơ hội đào tạo, bảo hiểm
y tế và môi trường làm việc sạch sẽ có khả năng thu hút và giữ được nhân
viên tốt.
1.2.2.2. Lợi ích đối với quốc gia
Góp phần nâng cao hình ảnh quốc gia: Trách nhiệm xã hội là xu thế tất
trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp ở châu Âu. Bộ Quy tắc ứng xử BSCI
dựa trên những Tiêu chuẩn lao động quốc tế quan trọng nhất bảo vệ quyền lợi
của người lao động như Công ước ILO, Công ước quốc tế về Quyền con
người của Liên hiệp quốc, Hướng dẫn của OECD dành cho các doanh nghiệp
đa quốc gia và các Hiệp định quốc tế khác. Khi tham gia ký kết tuân thủ theo
Bộ Quy tắc ứng xử BSCI nghĩa là các công ty cam kết thừa nhận các tiêu
chuẩn về xã hội và môi trường qui định trong Bô Quy tắc ứng xử này và đảm
bảo có các biện pháp phù hợp để triển khai thực hiện và tuân thủ. Ngoài ra,
các công ty cung ứng phải đảm bảo các nhà thầu phụ của mình tuân thủ Bộ
Quy tắc ứng xử này trong các quy trình sản xuất từ các giai đoạn bắt đầu cho
24
đến khi sản phẩm được hoàn thành. Bộ quy tắc ứng xử BSCI gồm 10 nội
dung sau:
Tuân thủ pháp luật: Đây là nghĩa vụ đầu tiên của các doanh nghiệp
kinh doanh, cần áp dụng các tiêu chuẩn có quy định nghiêm ngặt khi có sự
khác biệt giữa Bộ quy tắc ứng xử BSCI và các quy định, luật pháp của nước
sở tại nhằm đảm bảo sự bảo vệ cao nhất cho người lao động và môi trường.
Tự do lập hội và quyền thương lượng tập thể: Mọi người đều có quyền
tự do thành lập, tham gia và tổ chức công đoàn và có người đại diện cho mình
để thương lượng tập thể với doanh nghiệp. Doanh nghiệp phải tôn trọng
quyền này và không được can thiệp vào dưới bất kỳ hình thức nào.
Không phân biệt đối xử: Không phân biệt, loại trừ hoặc dành ưu tiên
nhất định cho các cá nhân dựa vào giới tính, độ tuổi, tôn giáo, chủng tộc, tầng
lớp xã hội, quốc tịch, bệnh tật… hoặc bất kỳ điều kiện nào khác có thể phát
sinh sự phân biệt đối xử.
Trả công: Tối thiểu phải tuân theo chế độ tiền lương của nước sở tại;
tiền lương phải được thanh toán đúng kỳ hạn, đều đặn và đầy đủ một cách