BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
VIỆN ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI
LUẬN VĂN THẠC SỸ
PHÁP LUẬT VỀ LAO ĐỘNG
CHƯA THÀNH NIÊN
NGUYỄN THỊ HUYỀN
CHUYÊN NGÀNH: LUậT KINH Tế
MÃ Số: 60.38.01.07
NGƯờI HƯớNG DẫN KHOA HọC:
PGS.TS TRầN THị THÚY LÂM
HÀ NỘI - 2017
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan : Khoá luận tốt nghiệp với đề tài “Pháp luật về lao
động chưa thành niên” là trung thực và không sao chép của ai. Mọi sự giúp
đỡ cho việc thực hiện luận văn này đã được cám ơn và các thông tin trích dẫn
trong luận văn đã được chỉ rõ nguồn gốc rõ ràng và được phép công bố.
Tôi xin chịu mọi trách nhiệm về công trình nghiên cứu của riêng mình !
Hà Nội, ngày 30/10/2017
Tác giả
Nguyễn Thị Huyền
1.3.1. Tính tất yếu khách quan phải sử dụng lao động chưa thành niên .......... 15
1.3.2. Sự cần thiết phải điều chỉnh pháp luật đối với lao động chưa
thành niên ................................................................................................ 16
1.4. Pháp luật quốc tế và Pháp luật của một số quốc gia về lao động
chưa thành niên .......................................................................................... 18
1.4.1. Pháp luật về lao động chưa thành niên theo quy định của Tổ chức
lao động quốc tế (ILO) và Liên Hiệp quốc ............................................... 18
1.4.2. Pháp luật về lao động chưa thành niên của một số nước ................. 25
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VIỆT NAM VỀ LAO
ĐỘNG CHƯA THÀNH NIÊN................................................................... 30
2.1. Trong lĩnh vực việc làm và đào tạo nghề............................................ 30
2.2. Trong lĩnh vực hợp đồng lao động...................................................... 32
2.3. Trong lĩnh vực thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi, và an toàn
lao động, vệ sinh lao động .......................................................................... 33
2.4. Tiền lương, thu nhập và bảo hiểm xã hội ........................................... 37
2.5 Trong lĩnh vực kỷ luật lao động và giải quyết tranh chấp ................. 39
CHƯƠNG 3: THựC TIễN THI HÀNH PHÁP LUậT VỀ LAO ĐỘNG
CHƯA THÀNH NIÊN MộT Số KIếN NGHị NHằM NÂNG CAO
HIệU QUả THI HÀNH PHÁP LUậT Về LAO ĐộNG CHƯA THÀNH
NIÊN ........................................................................................................... 42
3.1. Thực tiễn thi hành pháp luật về lao động chưa thành niên............... 42
3.1.1. Những kết quả đạt được từ thực hiện pháp luật lao động chưa
thành niên ................................................................................................ 42
3.1.2. Một số tồn tại và nguyên nhân ........................................................ 47
3.2. Một số kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật về
lao động chưa thành niên. .......................................................................... 60
3.2.1. Hoàn thiện pháp luật về lao động chưa thành niên .......................... 60
3.2.2. Nâng cao hiệu quả tổ chức thực hiện các quy định pháp luật về
UNICEF
: Quỹ Nhi đồng Liên hợp quốc
UBBV&CSTEVN: Uỷ ban Bảo vệ và chăm sóc trẻ em Việt Nam
NSDLĐ
: Người sử dụng lao động
DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU
Bảng 3.1:
Cơ cấu lao động trẻ em theo số giờ làm việc bình quân tuần, 0% .... 52
Bảng 3.2:
Lao động trẻ em đang làm việc trong các nghề có nguy cơ
thuộc danh mục cấm sử dụng lao động vị thành niên và điều
kiện lao động có hại, theo nhóm tuổi và giới tính. .................... 56
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Tại Hội thảo “Vận động chính sách, giải pháp phòng ngừa lao động trẻ
em trong thảm họa thiên nhiên và biến đổi khí hậu” do Bộ LĐ-TB&XH phối
hợp với Tổ chức Lao động quốc tế (ILO) tổ chức vào ngày 13/6/2017 tại Hà
Nội, Thứ trưởng Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội (LĐ-TB&XH)
Nguyễn Trọng Đàm đã cho biết: Theo ước tính của ILO, thế giới hiện có
khoảng 168 triệu lao động trẻ em. Việc trẻ em phải lao động sớm để lại hậu
mỏ đá, công trường xây dựng, xưởng sản xuất, hoặc môi trường nhạy cảm
như cửa hàng, quán, bar, nhà hàng, khách sạn chủ yếu là người chưa thành
niên ở nhóm từ 15 tuổi đến 17 tuổi.
Mặc dù, Việt Nam đã đạt được những thành tựu đáng kể trong phòng
ngừa và giảm thiểu lao động chưa thành niên, xây dựng khuôn khổ pháp lý,
chính sách vững chắc để phù hợp với các tiêu chuẩn quốc tế về lao động,
đồng thời, cũng đã thực hiện một số chương trình, dự án cấp trung ương và
địa phương để giảm thiểu lao động chưa thành niên. Nhiều mô hình được
triển khai thí điểm tại một số địa phương đã cải thiện điều kiện lao động và an
toàn vệ sinh lao động, môi trường làng nghề, hoạt động du lịch và các hoạt
động trong nông nghiệp, ngư nghiệp. Tuy nhiên, lao động chưa thành niên
vẫn còn tồn tại ở một số nơi, đặc biệt trong khu vực kinh tế phi chính thức.
Tình trạng này đã ảnh hưởng tiêu cực đến sự phát triển về tâm lý, sức khoẻ
của người chưa thành niên, hạn chế cơ hội học tập và ảnh hưởng đến cơ hội
có việc làm bền vững của họ trong tương lai.
Ngoài ra, trong điều kiện hội nhập quốc tế hiện nay, việc vi phạm quy
định về sử dụng lao động chưa thành niên còn ảnh hưởng tới cam kết của Việt
Nam về thực hiện Công ước số138 về độ tuổi tối thiểu làm việc và Công ước số
182 về cấm và hành động ngay lập tức để xoá bỏ các hình thức lao động trẻ em
tồi tệ nhất, ảnh hưởng tới việc xuất khẩu hàng hoá của các doanh nghiệp.
Trong thời gian qua, trên thực tế đã có nhiều đơn vị, cơ sở, cá nhân
là người sử dụng lao động có ý thức chấp hành tốt những quy định pháp luật
2
dành cho lao động chưa thành niên, như những quy định về độ tuổi lao động
và học nghề, về giao kết hợp đồng lao động, về điều kiện lao động, bảo hộ
lao động...Tuy nhiên, cũng còn không ít đơn vị, cá nhân, nhất là các cơ sở tư
nhân, việc thực hiện những quy định pháp luật đối với lao động chưa thành
tiếp trong các giáo trình Luật lao động của một số cơ sở đào tạo luật như
Trường Đại học Luật Hà Nội, Khoa Luật Đại học quốc gia Hà Nội, Khoa Luật
Đại học Cần Thơ và 1 số luận văn tốt nghiệp. Có thể kể đến 1 số công trình
nghiên cứu sau:
-“ Vấn đề lao động trẻ em” của Vũ Ngọc Bình, NXB Chính trị
quốc gia, Hà Nội, năm 2000 . Tập trung nêu vấn đề lao động trẻ em trên
thế giới và vấn đề lao động trẻ em ở Việt Nam hiện nay, các giải pháp nhằm
giải quyết vấn đề lao động trẻ em trong nền kinh tế thị trường.
- "Bảo vệ chăm sóc trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn" của Bộ
Lao động - Thương binh và Xã hội phối hợp với UNICEF biên soạn, NXB
Lao dộng - Xã hội, Hà Nội năm 2000.
- Báo cáo nghiên cứu “Trẻ em làm thuê giúp việc gia đình ở Hà Nội”
năm 2000 được Khoa Tâm lý học, Trường Đại học Khoa học xã hội và Nhân
văn thuộc Đại học Quốc gia Hà Nội thực hiện.
- Báo cáo nghiên cứu “Thực trạng trẻ em làm việc tại bãi rác Nam
Sơn” năm 2000 của Viện xã hội học.
- Báo cáo nghiên cứu về “Trẻ em làm thuê tại làng gốm Bát Tràng”
năm 2000 của Vụ Chính sách lao động và việc làm.
-Báo cáo nghiên cứu “Tình hình lao động trẻ em ở 8 tỉnh, thành phố
Việt Nam” năm 2009 của Viện Khoa học Lao động và Xã hội.
- Báo cáo nghiên cứu “ Điều kiện lao động, sức khoẻ nghề nghiệp của
trẻ em và người chưa thành niên tham gia lao động tại ba làng nghề đồ gỗ
mỹ nghệ, đá mỹ nghệ và dệt truyền thống” năm 2009 của Hội y học lao động
Việt Nam….
- Luận văn tiến sỹ (2012), Đại học Quốc gia Hà Nội, Trần Thắng Lợi
về “Hoàn thiện pháp luật về lao động chưa thành niên trong điều kiện hội
4
do Bộ LĐ-TBXH phối hợp với Unicef tổ chức.
Nhìn chung các nghiên cứu này được thực hiện dưới góc độ kinh tế-xã
hội và chủ yếu nhằm tìm hiểu thực trạng, mức độ và hình thức lao động trẻ
em tại một số tỉnh, thành phố ở Việt Nam mà chưa đề cập nhiều, sâu dưới góc
độ luật học. Do vậy, đề tài thạc sỹ “ Pháp luật về lao động chưa thành niên”
là công trình trực tiếp nghiên cứu về người lao động chưa thành niên dưới góc
độ pháp luật một cách tương đối toàn diện và có hệ thống, ít nhất là cập nhật
đến thời điểm hiện nay.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
- Mục đích nghiên cứu đề tài gồm:
+ Đánh giá thực trạng pháp luật Việt Nam hiện hành về lao động chưa
thành niên.
+ Đưa ra những ý kiến đề xuất, các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp
luật lao động về người lao động chưa thành niên, cũng như áp dụng vào thực
tế sao có hiệu quả.
- Nhiệm vụ nghiên cứu:
+ Một là những vấn đề như: khái niệm, đặc điểm, sự cần thiết, ý nghĩa
của việc quy định đối với lao động chưa thành niên, lịch sử hình thành chế
độ pháp lý đối lao động chưa thành niên ở nước ta.
+ Hai là nghiên cứu những quy định pháp luật quốc tế liên quan đến lao
động chưa thành niên để so sánh, đối chiếu với pháp luật trong nước.
- Ba là trên cơ sở các vấn đề lý luận và thực tiễn nêu trên, luận án đưa
ra một số giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật lao động về người lao động
chưa thành niên.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu:
+Các quy định pháp luật lao động trong Bộ Luật lao động và các văn
bản hướng dẫn thi hành Bộ Luật lao động.
đánh giá thực trạng pháp luật về người lao động chưa thành niên nhằm tìm ra
những ưu điểm, hạn chế trong việc quy định về nội dung điều chỉnh pháp luật
7
đối với người lao động chưa thành niên. Ngoài ra, trong Chương 2 của luận
án cũng sử dụng thêm phương pháp thống kê, điều tra, khảo sát và phỏng vấn
trực tiếp để làm rõ thực tiễn thực thi pháp luật về người lao động chưa thành
niên. Phương pháp phân tích, so sánh và logic được sử dụng trong hầu hết
các nội dung nghiên cứu ở cả ba chương để giải quyết các nội dung cụ thể của
luận án.
6. Đóng góp mới về khoa học của luận văn
Với mong muốn góp phần hoàn thiện quy định pháp luật về người lao
động chưa thành niên nói riêng, pháp luật lao động nói chung, luận văn có
những điểm mới sau đây:
+ Góp phần sáng tỏ thêm 1 số vấn đề pháp lý về lao động chưa thành
niên và pháp luật điều chỉnh đối tượng này trong bối cảnh hội nhập quốc tế
như: khái niệm, đặc điểm, phân loại, ý nghĩa...của lực lượng lao động này để
phân biệt với các loại lao động khác, đồng thời làm căn cứ cho việc hoàn
thiện các quy định riêng đối với họ.
+ Phân tích những quy định pháp luật của quốc tế có liên quan đến lao
động chưa thành niên và đối chiếu với quy định trong nước.
+ Xác định các tác động chủ yếu của quá trình hội nhập quốc tế đối
với pháp luật về người lao động chưa thành niên.
+ Đánh giá toàn diện về thực trạng pháp luật đối với người lao động
chưa thành niên ở Việt Nam và chỉ ra những vấn đề cần phải sửa đổi, bổ sung
trong hệ thống pháp luật.
+ Đưa ra những kiến nghị có tính chất giải pháp mang tính pháp lý
nhằm hoàn các quy định hiện hành về người lao động chưa thành niên, đề
chưa thành niên
9
Chương 1: KHÁI QUÁT CHUNG VỀ LAO ĐỘNG CHƯA THÀNH
NIÊN VÀ PHÁP LUẬT VỀ LAO ĐỘNG CHƯA THÀNH NIÊN
1.1. Khái niệm lao động chưa thành niên
Người chưa thành niên là những người chưa hoàn toàn phát triển đầy
đủ về nhân cách, chưa có đầy đủ quyền lợi và nghĩa vụ của một công dân.
Pháp luật ở mỗi quốc gia quy định độ tuổi cụ thể của người chưa thành niên.
Điều 1 Công ước quốc tế về quyền trẻ em được Đại hội đồng Liên hợp
quốc thông qua ngày 20/11/1989 có ghi: “Trong phạm vi Công ước này, trẻ
em có nghĩa là người dưới 18 tuổi, trừ trường hợp luật pháp áp dụng đối với
trẻ em có quy định tuổi thành niên sớm hơn”.
Tham khảo thêm các văn bản pháp luật quốc tế liên quan đến người
chưa thành niên gồm: Công ước về Quyền trẻ em (United Nations Convention
on the Rights of the Child) được Đại hội đồng Liên hợp quốc thông qua ngày
20-11-1989; Quy tắc tiêu chuẩn tối thiểu của Liên hợp quốc về áp dụng pháp
luật với người chưa thành niên (United Nations Standard Minimum Rules for
the Administration of Juvenile Justice /Beijing Rules) ngày 29-11-1985;
Hướng dẫn của Liên hợp quốc về phòng ngừa phạm pháp ở người chưa thành
niên (United Nations Guidelines for the Prevention of Juvenile delinquency/
Riyadh Guidelines) ngày 14-12-1990. Theo quan niệm quốc tế thì trẻ em
(Child) là người dưới 18 tuổi, người chưa thành niên (Juvenile) là người từ 15
đến 18 tuổi, thanh niên (Youth) là người từ 15 đến 24 tuổi, người trẻ tuổi
(Young persons) bao gồm trẻ em, người chưa thành niên và thanh niên. Trong
số 30 công ước đề cập đến vấn đề lao động trẻ em của tổ chức lao động quốc
tế (viết tắt là ILO) phải đặc biệt quan tâm đến Công ước 138 về độ tuổi lao
động tối thiểu (1973) và Công ước 182 về cấm và hành động ngay lập tức xóa
tuổi, tuổi kết nạp Đoàn thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh là từ 15 đến 30
tuổi. Trong tuổi Đoàn gọi là thanh niên, trong tuổi Đội là thiếu niên, dưới
tuổi Đội gọi là nhi đồng. Ở mỗi lứa tuổi, người chưa thành niên được Nhà
nước và xã hội quan tâm bảo vệ, chăm sóc và giáo dục để phát triển tốt
11
nhất về thể chất và nhân cách, trở thành người khỏe mạnh, có ích cho xã
hội.
Tóm lại, khái niệm người chưa thành niên được xây dựng dựa trên sự
phát triển về mặt thể chất và tinh thần của con người và được cụ thể hoá bằng
giới hạn độ tuổi trong các văn bản pháp luật của từng quốc gia. Theo đó,
người ta quy định những quyền và nghĩa vụ cụ thể của người chưa thành
niên. Vì vậy, có thể đưa ra khái niệm: Người chưa thành niên là người dưới
18 tuổi, chưa phát triển hoàn thiện về thể chất và tinh thần, chưa có đầy đủ
các quyền và nghĩa vụ pháp lý như người đã thành niên.
Công ước số 138 về Độ tuổi tối thiểu mà Việt Nam đã tham gia năm
2003, quy định các nước thành viên tham gia công ước phải xác định độ tuổi
tối thiểu được đi làm việc hoặc được đi lao động và không một ai ở dưới độ
tuổi tối thiểu đó được đi làm việc hoặc được lao động trong bất cứ nghề nào,
độ tuổi tối thiểu đó không được dưới độ tuổi kết thúc chương trình giáo dục
bắt buộc và bất kỳ trường hợp nào cũng không được dưới 15 tuổi.
Tại Điều 6 BLLĐ 2012 của Việt Nam quy định: “người lao động là
người ít nhất đủ 15 tuổi”. Mặt khác, tại khoản 1 Điều 119 quy định “người lao
động chưa thành niên là người lao động dưới 18 tuổi”. Kết hợp quy định tại
Điều này với quy định tại Điều 6 trên, ta thấy độ tuổi của người lao động chưa
thành niên là từ đủ 15 tuổi cho tới dưới 18 tuổi.Như vậy, có thể thấy pháp luật
quốc tế và pháp luật Việt Nam chỉ thừa nhận người lao động là người ít nhất
đủ 15 tuổi.
người chưa thành niên. Đây chính là cơ sở để Bộ luật lao động quy định: "Cấm
nhận trẻ em chưa đủ 15 tuổi vào làm việc, trừ một số nghề và công việc do Bộ
lao động-Thương binh và Xã hội quy định" (Điều 120).
Kết quả của các công trình nghiên cứu sự phát triển hình thái thể lực
của trẻ em ở trong nước và thế giới cho thấy: đến tuổi 17, mức tăng trưởng
hàng năm về chiều cao và cân nặng, hai chỉ tiêu đại diện của hình thái thể
lực, giảm tới mức nhỏ nhất (gần bằng 0). Điều đó chứng tỏ ở tuổi 17, sự tăng
trưởng cơ thể rất ít và từ 18 tuổi trở đi, cơ thể bắt đầu ổn định về mặt hình
13
thái thể lực để bước sang tuổi trưởng thành (đối với trẻ em nam muộn hơn
thái thể lực đạt tới mức khá cao và cơ thể bước vào thời kỳ ổn định của tuổi
trưởng thành. Như vậy, ở tuổi này các em đã là người thành niên, có thể tham
gia đầy đủ vào một quan hệ lao động để gánh vác những nghĩa vụ và được
hưởng quyền thực sự và đầy đủ của một người lao động.
1.2.2. Đặc điểm về tâm lý
Do sự phát triển vượt bậc về mặt thể chất, cho nên các e ở lứa tuổi chưa
thành niên thường có những biểu hiện về mặt tâm lý khá phức tạp, đó là:
Giai đoạn này trẻ em rất dễ tưởng mình đã là người lớn, và ý thức về
bản ngã phát triển mạnh mẽ. Đây là một thời kỳ có nhiều biến động nhanh,
mạnh, đột ngột và những đảo lộn cơ bản, các nhà tâm lý thường gọi là giai
đoạn "khủng hoảng lứa tuổi". Các em thường có biểu hiện rõ nét nhất về sự tự
ý thức về cá tính của mình và hình thành“ cái tôi cũng như các phẩm chất tâm
lý độc lập (phẩm chất tâm lý tích cực hoặc tiêu cực). Các em thường thể hiện
tính bồng dũng cảm, mạnh mẽ, muốn mình như người lớn. Ở giai đoạn này,
quan hệ giao tiếp cũng phát triển mạnh, đặc biệt là quan hệ với nhóm bạn, có
thế vượt ra ngoài giới hạn của tuổi học trò, hoạt động có tính độc lập. Những
đặc điểm tâm lý này cũng ảnh hưởng đến khả năng học nghề, khả năng lao
lao động trẻ em. Chúng ta kiên quyết tìm mọi biện pháp loại bỏ việc lạm
dụng sức lao động trẻ em, nhưng cũng nhìn nhận rằng, trẻ em lao động là
một vấn đề thực tế. Lao động vừa sức, được tổ chức một cách khoa học là
một trong những hoạt động cần thiết và quan trọng cho sự phát triển các năng
lực, kỹ năng và tri thức ở trẻ em. Lao động còn là con đường, là hình thức xã
hội hoá, qua đó trẻ em dần lĩnh hội các kinh nghiệm cần thiết để trở thành
thành viên của xã hội. Vai trò tích cực của hoạt động lao động đối với quá
trình xã hội hoá cá nhân, đóng góp sản phẩm cho xã hội là không thể phủ
nhận. Vấn đề cần quan tâm là mức độ và cơ chế sử dụng lao động trẻ em cho
hợp lý.
15
1.3.2. Sự cần thiết phải điều chỉnh pháp luật đối với lao động chưa thành niên
Người lao động chưa thành niên là người có độ tuổi dưới 18. Ở giai
đoạn này, thể lực và trí lực của họ đang phát triển và chưa ổn định. Người
chưa thành niên tiếp thu công việc nhanh, năng động và sáng tạo trong lao
động song còn thiếu kinh nghiệm sống và làm việc, trình độ nhận thức chưa
toàn diện, thiếu sự kiên trì, dẻo dai, dễ bị tác động bởi môi trường khách
quan. Để bảo vệ và tạo điều kiện cho người chưa thành niên vừa có thể tham
gia quan hệ lao động lại không ảnh hưởng đến sự phát triển thể lực và trí lực,
Bộ luật Lao động cho phép đối tượng này tham gia vào những quan hệ lao
động phù hợp với sức khỏe và năng lực của họ, đồng thời nghiêm cấm việc
lạm dụng sức lao động của người chưa thành niên vào làm những công việc
năng nhọc, độc hại, nguy hiểm, làm việc quá sức. Việc cho phép và tạo điều
kiện cho họ tham gia quan hệ lao động là một bước tập dượt về chuyên môn
tay nghề, về ý thức tổ chức kỷ luật trước khi trở thành chủ nhân của xã hội.
Bên cạnh ý nghĩa kinh tế, việc pháp luật có những quy định riêng đối
với lao động chưa thành niên còn thể hiện ý nghĩa xã hội sâu sắc. Nó đặt
lao động của ngườ chưa thành niên được pháp luật Việt Nam quy định một
cách tương đối toàn diện như hiện nay. Điều đó thấm nhuần quan điểm
của Đảng và Nhà nước ta về chăm lo bồi dưỡng thế hệ chủ nhân tương lai
của đất nước. Thể hiện tính khoa học trong việc xây dựng văn bản pháp luật
về lao động, vừa kế thừa, bổ sung những thành tựu trước đó, vừa chuyển hoá,
cập nhật tinh thần các công ước quốc tế mà chúng ta đã tham gia, phê chuẩn.
Những quy định đối với lao động chưa thành niên đã bước đầu tạo
ra khung pháp lý trong việc điều chỉnh quan hệ lao động, trong đó có một bên
là người chưa thành niên. Đối với người sử dụng lao dộng, những quy định
này, cho phép họ có quyền sử dụng lao động trẻ em trong những trường hợp và
tuân theo những điền kiện nhất định, phù hợp với diều kiện kinh tế - xã hội của
đất nước.
Với tư cách là người lao động thì các em có quyền tham gia vào một quan
hệ lao động phù hợp và được hưởng những thành quả của lao động, được bảo
hộ toàn diện về điều kiện lao động, có cơ sở để đấu tranh, khiếu nại đối
17
với cơ quan, tổ chức có thẩm quyền khi quyền lợi bị xâm hại. Đối với
cha mẹ hoặc người giám hộ hợp pháp của các em, thì có cơ sở pháp lý để có
quyền đồng ý hoặc từ chối khi có con em tham gia lao động, theo dõi và góp
phần bảo vệ các em khi có vi phạm hoặc tranh chấp xảy ra.
Đối với các cơ quan, tổ chức xã hội liên quan đến trẻ em, thì có căn cứ
và cơ sở để tuỳ theo chức năng và nhiệm vụ cụ thể của mình tham gia vào
việc chăm sóc, phát huy khả năng của các em, cũng như ngăn ngừa, xử lý đối
với các hành vi vi phạm trong thực tiễn cuộc sống. Tuy nhiên, cũng như
những lĩnh vực khác, pháp luật đối với lao động chưa thành niên cũng như đối
với trẻ em nói chung, cũng cần phải được không ngừng bổ sung, hoàn thiện
cho phù hợp với nhũng thay đổi của cuộc sống, bất cập với những quy định và