Hoàn thiện pháp luật về hoạt động của thanh tra ngân hàng nhà nước Việt Nam - Pdf 28


đại học quốc gia hà nội
khoa luật

nguyễn thị thanh tâm hoàn thiện pháp luật về hoạt động
của thanh tra ngân hàng nhà n-ớc việt nam

luận văn thạc sĩ luật học

Hà nội - 2008

MỤC LỤC
Trang

MỞ ĐẦU
1

Chƣơng 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ HOẠT
ĐỘNG CỦA THANH TRA NGÂN HÀNG VÀ
PHÁP LUẬT VỀ HOẠT ĐỘNG CỦA THANH
TRA NGÂN HÀNG NHÀ NƢỚC VIỆT NAM
5
1.1.
Tổng quan về hoạt động của Thanh tra Ngân hàng
5
1.1.1.
Khái niệm, vai trò, đặc điểm của Thanh tra Ngân hàng
5
1.1.2.
Mục đích, nguyên tắc, đối tượng, nội dung hoạt động của
Thanh tra Ngân hàng
6
1.1.3.
Nhiệm vụ và quyền hạn của Thanh tra Ngân hàng
8
1.2.
Tổng quan pháp luật về hoạt động của Thanh tra Ngân
hàng Nhà nước Việt Nam

Hệ thống thanh tra, giám sát ngân hàng tại Cộng hòa Liên
bang Đức
43
2.1.2.
Hệ thống thanh tra, giám sát ngân hàng tại Cộng hòa Pháp
47
2.1.3.
Giám sát ngân hàng tại Cộng hòa Ba Lan
51
2.2.
Thực trạng pháp luật về hoạt động của Thanh tra Ngân
hàng Nhà nước Việt Nam
53
2.2.1.
Hoạt động của Thanh tra Ngân hàng Nhà nước Việt Nam
sau khi có Pháp lệnh Ngân hàng và Pháp lệnh Ngân hàng
hợp tác tín dụng và công ty tài chính ngày 23/5/1990
53
2.2.2.
Hoạt động của Thanh tra Ngân hàng Nhà nước Việt Nam sau
khi có Luật Ngân hàng Nhà nước Việt Nam và Luật Các tổ
chức tín dụng
57
2.2.3.
Hoạt động của Thanh tra Ngân hàng Nhà nước Việt Nam
sau khi có Luật Thanh tra
63

Chƣơng 3: NHỮNG GIẢI PHÁP NHẰM HOÀN THIỆN
PHÁP LUẬT VỀ HOẠT ĐỘNG CỦA THANH

85

PHỤ LỤC
88
MỞ ĐẦU

1. Tính cấp thiết của đề tài
Thanh tra Ngân hàng là hoạt động thiết yếu của Ngân hàng Nhà
nước Trung ương ở bất kỳ vùng quốc gia, lãnh thổ nào trên thế giới. Thanh
tra Ngân hàng còn là công cụ hữu hiệu của Nhà nước, nhằm thực hiện có
hiệu quả hoạt động quản lý của Nhà nước, hướng tới mục tiêu ổn định sức
mua của đồng tiền, đảm bảo an toàn trong hoạt động ngân hàng. Hoạt động
Thanh tra Ngân hàng nói chung góp phần bảo đảm và tăng cường pháp chế,
kỷ luật nhà nước trong lĩnh vực tiền tệ và hoạt động ngân hàng; đảm bảo an
toàn hoạt động của các tổ chức tín dụng. Hoạt động thanh tra, giám sát của
Thanh tra Ngân hàng Nhà nước Việt Nam nói riêng cũng đóng vai trò quan
trọng không kém trong công tác quản lý của Ngân hàng Nhà nước, nhất là
trong công cuộc đổi mới hoạt động ngân hàng ở nước ta hiện nay.
Để nâng cao hiệu quả hoạt động của Thanh tra Ngân hàng Nhà
nước Việt Nam, đòi hỏi phải có một hệ thống các quy phạm pháp luật về
hoạt động của Thanh tra Ngân hàng với đầy đủ tính khoa học và thực tiễn;
đảm bảo sự thống nhất, đồng bộ và khả thi; phù hợp với quy định chung
của Nhà nước về hoạt động thanh tra đồng thời phù hợp với những đặc
điểm về tổ chức và hoạt động của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam.
Tuy nhiên, những yêu cầu trên đối với pháp luật hoạt động thanh tra
nói chung và pháp luật về tổ chức và hoạt động của Thanh tra Ngân hàng
Nhà nước Việt Nam nói riêng hiện nay vẫn còn được thực hiện một cách
hạn chế. Một bộ phận cơ chế chính sách pháp luật liên quan đến hoạt động
của Thanh tra Ngân hàng vẫn chưa đáp ứng được yêu cầu thực tế, thậm chí
còn bộc lộ không ít những điểm không phù hợp và còn nhiều sơ hở. Các

ngân hàng, Luận văn thạc sĩ Kinh tế.
- Trương Ngọc Anh: Giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động thanh
tra của Ngân hàng Nhà nước đối với các ngân hàng liên doanh, chi nhánh
ngân hàng nước ngoài tại Việt Nam, Luận văn thạc sĩ Kinh tế.
- Thái Mạnh Cường: Đổi mới hoạt động Thanh tra Ngân hàng Nhà
nước đối với các tổ chức tín dụng trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh, Luận văn
thạc sĩ Kinh tế.
Tuy nhiên, các công trình trên chủ yếu đi sâu phân tích hoạt động
của Thanh tra Ngân hàng Nhà nước Việt Nam dưới khía cạnh nghiệp vụ,
khía cạnh pháp lý chưa được quan tâm nhiều. Do vậy, học viên tiến hành
nghiên cứu đề tài "Hoàn thiện pháp luật về hoạt động của Thanh tra
Ngân hàng Nhà nước Việt Nam" để làm rõ thực trạng pháp luật hoạt động
của Thanh tra Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, từ đó đưa ra những bất cập
và những giải pháp hoàn thiện.
3. Mục đích của đề tài
Đề tài nhằm làm sáng tỏ những vấn đề lý luận và thực tiễn đối với
pháp luật về hoạt động của Thanh tra Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, tạo
cơ sở cho việc xác lập và thực hiện những quyền và nghĩa vụ cơ bản của
Thanh tra Ngân hàng Việt Nam trong quá trình thực hiện nhiệm vụ kiểm
soát theo chức năng của Ngân hàng Nhà nước đối với các tổ chức tín dụng
Việt Nam. Ngoài ra, đề tài hướng tới việc đề xuất những giải pháp nhằm
hoàn thiện pháp luật về hoạt động của Thanh tra Ngân hàng Nhà nước Việt
Nam.
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu của đề tài
Đề tài nghiên cứu các quy định pháp luật về hoạt động của Thanh
tra Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, việc áp dụng chúng trong quá trình
thanh tra trực tiếp và giám sát hoạt động ngân hàng của các tổ chức tín
dụng Việt Nam từ khi thực hiện Pháp lệnh Thanh tra tháng 5/1990 (sau đây
gọi tắt là Pháp lệnh Thanh tra); Pháp lệnh Ngân hàng và Pháp lệnh ngân
hàng hợp tác tín dụng và công ty tài chính ngày 23/5/1990 (sau đây gọi tắt


1.1. TỔNG QUAN VỀ HOẠT ĐỘNG CỦA THANH TRA
NGÂN HÀNG
1.1.1. Khái niệm, vai trò, đặc điểm của Thanh tra Ngân hàng
"Thanh tra Ngân hàng là Thanh tra Nhà nước chuyên ngành về
ngân hàng, được tổ chức thành hệ thống thuộc bộ máy của Ngân hàng Nhà
nước Việt Nam (sau đây gọi là Ngân hàng Nhà nước) và có con dấu riêng"
(Điều 1 Nghị định số 91/1999/NĐ-CP ngày 4/9/1999 của Chính phủ về tổ
chức và hoạt động của Thanh tra Ngân hàng - gọi tắt là Nghị định 91).
"Thanh tra Ngân hàng là đơn vị thuộc cơ cấu tổ chức của Ngân
hàng Nhà nước, thực hiện chức năng thanh tra chuyên ngành về ngân hàng
và giúp Thống đốc thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn thanh tra trong các lĩnh
vực thuộc phạm vi quản lý của Ngân hàng Nhà nước theo quy định của pháp
luật" (Điều 1 Quyết định số 1675/2004/QĐ-NHNN ngày 23/12/2004 của
Thống đốc Ngân hàng nhà nước về việc ban hành Quy chế tổ chức và hoạt
động của Thanh tra Ngân hàng - gọi tắt là Quyết định 1675).
Như vậy, Thanh tra Ngân hàng là bộ phận không thể thiếu của
Ngân hàng Nhà nước, giữ vai trò thực hiện việc kiểm tra trong lĩnh vực tiền
tệ và hoạt động ngân hàng. Thanh tra Ngân hàng còn là công cụ hữu hiệu
của Nhà nước, nhằm thực hiện có hiệu quả hoạt động quản lý của Nhà
nước, hướng tới mục tiêu ổn định sức mua của đồng tiền, đảm bảo an toàn
trong hoạt động ngân hàng. Thanh tra Ngân hàng tiến hành các hoạt động
kiểm tra việc thực hiện các quy định của pháp luật về tiền tệ và hoạt động
ngân hàng. Có thể nói, kiểm tra được xác định như là bản chất của Thanh
tra Ngân hàng. Với vai trò đó, hoạt động của Thanh tra Ngân hàng là góp
phần bảo đảm và tăng cường pháp chế, kỷ luật nhà nước trong lĩnh vực tiền
tệ và hoạt động ngân hàng; góp phần đảm bảo an toàn hoạt động của các tổ
chức tín dụng.
Thanh tra Ngân hàng có những đặc điểm rất đặc thù. "Hoạt động
của Thanh tra Ngân hàng chỉ tuân thủ theo pháp luật, bảo đảm chính xác, khách

xác, khách quan, công khai dân chủ và kịp thời. Ngoài ra, không một cơ
quan, tổ chức hoặc cá nhân nào được can thiệp trái pháp luật vào hoạt động
của Thanh tra Ngân hàng.
Theo Điều 2 Nghị định 91, đối tượng hoạt động của Thanh tra Ngân
hàng bao gồm: (i) Tổ chức và hoạt động của tổ chức tín dụng, gồm có: các
tổ chức tín dụng nhà nước (Ngân hàng thương mại, Ngân hàng phát triển,
Ngân hàng Đầu tư, Ngân hàng chính sách và tổ chức tín dụng phi ngân
hàng), các tổ chức tín dụng cổ phần của nhà nước và nhân dân (Ngân hàng
thương mại và tổ chức tín dụng phi ngân hàng), các tổ chức tín dụng nước
ngoài được phép hoạt động tại Việt Nam (tổ chức tín dụng liên doanh, tổ
chức tín dụng 100% vốn nước ngoài, chi nhánh của ngân hàng nước ngoài
tại Việt Nam, văn phòng đại diện của Tổ chức tín dụng nước ngoài đặt tại
Việt Nam), các tổ chức tín dụng hợp tác; (ii) Hoạt động ngân hàng của các
tổ chức không phải là tổ chức tín dụng được Ngân hàng Nhà nước cấp giấy
phép, bao gồm: các cơ quan Nhà nước, các tổ chức kinh tế xã hội; (iii) Việc
thực hiện các quy định của pháp luật về tiền tệ và hoạt động ngân hàng của
các cơ quan, tổ chức và cá nhân.
Thanh tra Ngân hàng tiến hành các nội dung hoạt động liên quan đến
việc:
(i) Thanh tra việc chấp hành pháp luật về tiền tệ và hoạt
động ngân hàng, việc thực hiện các quy định trong giấy phép
hoạt động ngân hàng; (ii) Phát hiện, ngăn chặn và xử phạt vi
phạm hành chính theo thẩm quyền; kiến nghị các cơ quan có
thẩm quyền xử lý vi phạm pháp luật về tiền tệ và hoạt động ngân
hàng; (iii) kiến nghị Thống đốc Ngân hàng Nhà nước, Giám đốc
chi nhánh Ngân hàng Nhà nước tỉnh, thành phố và các cơ quan,
tổ chức có thẩm quyền khác thực hiện các biện pháp bảo đảm thi
hành pháp luật về tiền tệ và hoạt động ngân hàng; (iv) Xác minh,
kết luận, kiến nghị việc giải quyết khiếu nại, tố cáo theo quy định
của Luật khiếu nại, tố cáo liên quan đến tổ chức và hoạt động

trưởng cơ quan không chấp thuận kết luận của Thanh tra Ngân
hàng và chịu trách nhiệm về ý kiến đó, đồng thời phải báo cáo
cơ quan nhà nước có thẩm quyền theo quy định của pháp luật về
thanh tra; giúp Thống đốc thực hiện quản lý nhà nước về công
tác Thanh tra Ngân hàng; tổ chức tiếp công dân theo ủy quyền
của Thống đốc. Thẩm tra, xác minh, kết luận, kiến nghị việc giải
quyết khiếu nại, tố cáo theo quy định của Luật khiếu nại, tố cáo;
tham mưu cho Thống đốc trong việc chỉ đạo, hướng dẫn, kiểm
tra công tác phòng ngừa và đấu tranh chống tham nhũng, phòng
chống tội phạm trong ngành Ngân hàng theo quy định của pháp
luật; phối hợp với các đơn vị liên quan xây dựng chương trình và
tổ chức đào tạo, bồi dưỡng nghiệp vụ thanh tra cho công chức
thuộc hệ thống Thanh tra Ngân hàng; thực hiện các dự án quốc tế
về trợ giúp kỹ thuật cho hệ thống Thanh tra Ngân hàng theo sự
phân công của Thống đốc; thực hiện các nhiệm vụ và quyền hạn
khác do pháp luật về thanh tra và các văn bản quy phạm pháp luật
khác có liên quan quy định; thực hiện các nhiệm vụ khác do
Thống đốc giao [2, Điều 4].
Với những nhiệm vụ và quyền hạn theo quy định nêu trên, Thanh
tra Ngân hàng Nhà nước là công cụ đắc lực của Ngân hàng Nhà nước nhằm
thực hiện chức năng, nhiệm vụ của mình. Tuy nhiên, để đảm nhiệm tốt hơn
nữa các công việc được giao, tìm hiểu các vấn đề pháp luật về hoạt động của
Thanh tra Ngân hàng Nhà nước Việt Nam để tìm ra các giải pháp tối ưu để
hoàn thiện hành lang pháp lý đó là một điều cần phải làm.
1.2. TỔNG QUAN PHÁP LUẬT VỀ HOẠT ĐỘNG CỦA
THANH TRA NGÂN HÀNG NHÀ NƢỚC VIỆT NAM
1.2.1. Khái niệm, đặc điểm, vai trò của pháp luật về hoạt động
của Thanh tra Ngân hàng Nhà nƣớc Việt Nam
Như chúng ta đã biết, pháp luật là những quy tắc do Nhà nước đặt ra
để quy định hành vi của các bên tham gia vào các quan hệ quản lý, xã hội,

liên quan đến nhau (Thanh tra Ngân hàng và các tổ chức được thanh tra
(các tổ chức tín dụng, tổ chức tài chính phi ngân hàng, các tổ chức và cá
nhân khác); các tổ chức tham gia quản lý như Bộ Tài chính, Bộ Công an,
Tòa án, Viện kiểm sát; các Vụ, Cục có liên quan trong cơ quan quản lý về
tiền tệ, tín dụng và ngân hàng);
(iv) Mỗi điều luật quy định về hoạt động của Thanh tra Ngân hàng
được thực hiện, tuân thủ trong quá trình thanh tra, giám sát và chúng có
tính bắt buộc đối với tất cả các bên tham gia vào quá trình đó. Đây là đặc
điểm nổi bật của pháp luật về hoạt động của Thanh tra Ngân hàng. Khác
với các điều luật dân sự và kinh tế khác, các chủ thể được lựa chọn thực
hiện hay không thực hiện, miễn sao không ảnh hưởng đến quyền lợi của
các bên liên quan. Tuy nhiên, pháp luật về hoạt động của Thanh tra Ngân
hàng có tính chất bắt buộc, không thể không thực hiện. Nói đến đặc điểm
này, phải hiểu rõ tầm quan trọng của tính tuân thủ pháp luật về hoạt động
của Thanh tra Ngân hàng. Hoạt động thanh tra không phải là một khâu
trong quá trình hình thành nên cơ sở vật chất của xã hội mà hoạt động
thanh tra phải gắn liền với từng khâu trong quá trình đó. Quan điểm hoạt
động thanh tra là khâu cuối cùng của một quy trình hoạt động nào đó đã
không còn lạ đối với các thành viên tham gia vào hoạt động này, song trong
thời đại ngày nay, cách hiểu sâu sắc hơn cả là cách hiểu về hoạt động thanh
tra gắn liền với quy trình hoạt động đó, ở từng bước, từng khâu. Hành động
tự kiểm tra, tự kiểm soát cũng được coi là một khía cạnh của hoạt động thanh
tra và nó có tính bắt buộc đối với từng thành viên.
Pháp luật về hoạt động của Thanh tra Ngân hàng đóng vai trò rất
quan trọng trong hoạt động của ngành ngân hàng. Thông thường, một văn
bản pháp quy ra đời đóng vai trò điều tiết mối quan hệ giữa các bên tham
gia. Pháp luật về hoạt động của Thanh tra Ngân hàng cũng có vai trò điều
chỉnh mối quan hệ giữa các thành viên trong hệ thống Thanh tra Ngân hàng
nói chung và giữa Thanh tra Ngân hàng với tổ chức được thanh tra giám sát
cũng như các tổ chức, cá nhân khác có liên quan. Những điều luật này đóng

Ngân hàng Nhà nƣớc Việt Nam
Hoạt động Thanh tra Ngân hàng đòi hỏi phải có những khung pháp lý
quy định rõ ràng cho hoạt động kinh doanh ngân hàng và cho chính hoạt động
thanh tra. Để có được hiệu quả của hoạt động thanh tra và hoạt động sau thanh
tra thì pháp luật về Thanh tra Ngân hàng nói chung, pháp luật về hoạt động
của Thanh tra Ngân hàng nói riêng cũng cần phải tuân thủ theo những yêu
cầu nhất định.
Trước hết, đó là những yêu cầu về hình thức đối với pháp luật về
hoạt động của Thanh tra Ngân hàng. Các văn bản quy phạm pháp luật về
Thanh tra Ngân hàng phải được các cấp có thẩm quyền ban hành. Quyền
lực của một cơ quan thanh tra cấp Bộ, ngành như Thanh tra Ngân hàng
phải được khẳng định trong các văn bản do Quốc hội và Chính phủ ban
hành và được chính các cơ quan quản lý bộ phận tổ chức thanh tra hướng
dẫn thực hiện. Theo từng giai đoạn phát triển của các mối quan hệ trong
hoạt động thanh tra, pháp luật về hoạt động của Thanh tra Ngân hàng phải
ngày càng được hoàn thiện, có nghĩa là điều luật sau phải có tính đúng đắn
hơn, sửa đổi những điều luật trước đó hay thậm chí có thể thay thế khi
chúng đã trở nên lỗi thời hay không còn phù hợp với mức độ phát triển của
các mối quan hệ trong hoạt động thanh tra. Điều này cũng bao hàm ý nghĩa
tương quan giữa các điều luật nói chung, pháp luật về hoạt động của Thanh
tra Ngân hàng nói riêng với các mối quan hệ mà chúng điều chỉnh. Ngoài
ra, hình thức các văn bản pháp lý về Thanh tra Ngân hàng phải được thể
hiện bằng các điều luật, có cấu trúc rõ ràng.
Bên cạnh những yêu cầu về hình thức đối với pháp luật về hoạt
động của Thanh tra Ngân hàng, những yêu cầu về nội dung trong các văn
bản này lại là yếu tố chính góp phần đảm bảo tính thực thi của chúng. Pháp
luật về hoạt động của Thanh tra Ngân hàng phải điều chỉnh đầy đủ các mối
quan hệ trong hoạt động của Thanh tra Ngân hàng. Pháp luật về hoạt động
của Thanh tra Ngân hàng phải bao quát mọi khâu, mọi giai đoạn của quá
trình thanh tra, từ khâu giám sát từ xa đến thanh tra tại chỗ, từ khâu chuẩn

hiệu quả. Tuy nhiên, theo sự phát triển của một xã hội, sẽ có những mối
quan hệ đã phát triển không còn cần đến sự điều tiết của các điều luật. Lúc
đó có những nội dung pháp lý cần phải được chỉnh sửa, các văn bản cần
phải được thay thế hay sửa đổi, bổ sung.
Như vậy, pháp luật về hoạt động của Thanh tra Ngân hàng cần phải
đáp ứng được đầy đủ các yêu cầu cả về mặt hình thức cũng như nội dung,
nhằm đảm bảo được vai trò là công cụ đắc lực trong quản lý‎ nhà nước đối
với hoạt động tiền tệ, tín dụng, ngân hàng.
1.2.3. Nội dung chủ yếu của pháp luật về hoạt động của Thanh
tra Ngân hàng Nhà nƣớc Việt Nam
Trước hết, cho dù được thiết kế theo mô hình nào thì vị thế pháp lý
chung của Thanh tra Ngân hàng vẫn được xác định là một trong những bộ
phận thực hiện chức năng cơ bản là thanh tra, kiểm tra, thuộc nhiệm vụ
quản lý nhà nước nói chung về lĩnh vực tiền tệ và hoạt động ngân hàng. Do
đó, việc pháp luật hóa hoạt động của Thanh tra Ngân hàng chính là việc
xác định hoạt động của một cơ quan quản lý nhà nước (chủ thể của luật
hành chính) nằm trong hệ thống các cơ quan nhà nước có trách nhiệm quản
lý nhà nước về lĩnh vực này. Đây là một việc hết sức quan trọng trong việc
xây dựng và phát triển Thanh tra Ngân hàng.
Nội dung chủ yếu của pháp luật về hoạt động của Thanh tra Ngân
hàng Nhà nước Việt Nam bao gồm những nội dung chính về chủ thể và quyền
- nghĩa vụ của chủ thể; quy trình hoạt động của Thanh tra Ngân hàng Nhà
nước Việt Nam; những quyền và nghĩa vụ cơ bản mà pháp luật cần phải quy
định cho Thanh tra Ngân hàng trong cả quá trình hoạt động thanh tra, giám
sát từ giai đoạn đầu tiên là tổ chức triển khai các hoạt động thanh tra, giám
sát đến giai đoạn tác nghiệp thực hiện thanh tra, giám sát và giai đoạn sau của
các hoạt động đó.
Thứ nhất, quyền và nghĩa vụ của Thanh tra Ngân hàng trong
việc triển khai thực hiện hoạt động thanh tra trực tiếp và giám sát.
* Xây dựng chương trình, kế hoạch thanh tra, giám sát

thanh tra, giám sát cần thực hiện trong từng định kỳ. Trọng tâm thanh tra,
giám sát cần cụ thể về nội dung, cũng như đối tượng, nhóm đối tượng và địa
bàn cần tập trung thanh tra, giám sát; mục tiêu, phương pháp, giải pháp
thực hiện. Chương trình, kế hoạch phải được trình để cơ quan quản lý cấp
trên có thẩm quyền phê duyệt và cần được kịp thời sửa đổi, bổ sung để phù
hợp với thực tế trong từng định kỳ; việc sửa đổi, bổ sung cũng phải được
cơ quan quản lý cấp trên xét duyệt. Chương trình, kế hoạch thanh tra phải
chỉ ra được Thanh tra Ngân hàng có quyền tiến hành các hoạt động thanh
tra đột xuất khi cần thiết để đảm bảo mục tiêu hoạt động trong trường hợp
không thể dự kiến được khi xây dựng chương trình, kế hoạch.
* Ban hành và tổ chức thực hiện các quyết định thanh tra trực tiếp
Cũng theo khoản 1 Điều 6 Nghị định 91, "Thanh tra Ngân hàng
thực hiện việc… tiến hành các cuộc thanh tra trực tiếp về tổ chức và hoạt
động của tổ chức tín dụng, về hoạt động ngân hàng của các tổ chức
khác…" thì hoạt động thanh tra trực tiếp là một loại hoạt động không thể
thiếu đối với các tổ chức thanh tra nói chung và Thanh tra Ngân hàng nói
riêng. Hoạt động này càng quan trọng khi hệ thống thông tin hoạt động
ngân hàng, công tác giám sát của Thanh tra Ngân hàng và hệ thống tự kiểm
tra, kiểm toán còn hạn chế và chưa có độ tin cậy cao. Mặt khác, khi xem
xét các vấn đề cụ thể thì chỉ qua thanh tra trực tiếp, Thanh tra Ngân hàng
mới có thể tiếp cận được một cách nhiều nhất, trực tiếp nhất và đảm bảo
được tính pháp lý đầy đủ cho việc đưa ra kết luận, kiến nghị và các quyết
định xử lý cụ thể.
Chủ thể có quyền ban hành quyết định thanh tra, xét ở góc độ quản
lý chung, trước hết phải là thủ trưởng cơ quan quản lý Thanh tra Ngân
hàng- là Thống đốc Ngân hàng Nhà nước (hoặc người được ủy quyền) do
Thống đốc Ngân hàng Nhà nước chịu trách nhiệm tổ chức chỉ đạo chung
hoạt động quản lý nhà nước trong lĩnh vực ngân hàng, trong đó có hoạt
động thanh tra. Xét ở góc độ quản lý trực tiếp, chủ thể chịu trách nhiệm
trực tiếp là người đứng đầu cơ quan Thanh tra Ngân hàng- tức Chánh

thiết hoặc quá ngắn làm hạn chế tính chủ động của Thanh tra Ngân hàng.
Trên cơ sở đó, người ra quyết định thanh tra căn cứ vào tình hình thực tế để
gia hạn thanh tra tối đa (đối với tất cả các cuộc thanh tra trực tiếp của
Thanh tra Ngân hàng) trên nguyên tắc chỉ gia hạn thời gian thanh tra trong
trường hợp cần thiết. Thời hạn thanh tra tính bằng ngày làm việc theo quy
định về chế độ làm việc đối với cán bộ công chức nhà nước nói chung và
tính từ khi công bố quyết định thanh tra tại ngân hàng được thanh tra đến
khi ban hành văn bản kết luận thanh tra.
Thực hiện quyền cơ bản này, Thanh tra Ngân hàng có quyền và
nghĩa vụ rất cụ thể. Thanh tra Ngân hàng được quyền: (i) quyết định cơ cấu
đoàn thanh tra, đề nghị các đơn vị hữu quan trong hay ngoài Ngân hàng
Nhà nước cử người tham gia đoàn thanh tra; (ii) quyết định phạm vi, nội
dung thanh tra cụ thể, quyết định thời hạn thanh tra cụ thể cho mối cuộc
thanh tra và quyết định gia hạn thời gian thanh tra khi cần thiết trong giới
hạn quy định của cơ quan quản lý cấp trên; (iii) quyết định chấp nhận hoặc
không chấp nhận toàn bộ hoặc một phần các đề nghị của đối tượng thanh
tra về việc ban hành quyết định thanh tra hay về những nội dung cụ thể
trong quyết định thanh tra; (iv) sửa đổi, bổ sung hoặc hủy bỏ quyết định
thanh tra do mình ban hành khi xét thấy cần thiết; (v) đề nghị đáp ứng
những trang thiết bị, phương tiện cần thiết phục vụ cho việc thực hiện
nhiệm vụ của đoàn thanh tra hoặc thanh tra viên. Ngoài những quyền hạn
trên, Thanh tra Ngân hàng có những nhiệm vụ như sau: (i) việc ban hành
quyết định thanh tra phải đảm bảo yêu cầu hợp pháp và hợp lý; nội dung
thanh tra phải nằm trong chương trình, kế hoạch thanh tra được duyệt;
quyết định thanh tra phải thông báo trước cho đơn vị được thanh tra
(khoảng 1 tuần) để đối tượng thanh tra có sự chuẩn bị cần thiết làm việc với
Thanh tra Ngân hàng hoặc giải trình, đề nghị về những vấn đề cần thiết liên
quan đến việc ban hành quyết định thanh tra đối với đơn vị (trừ trường hợp
thanh tra đột xuất). Nếu là quyết định thanh tra đơn vị trực thuộc ngân hàng
thì việc thông báo cần phải chuyển tới cơ quan quản lý cấp trên trực tiếp

thực hiện các hoạt động giám sát và thanh tra trực tiếp của Thanh tra Ngân
hàng. Do vậy, việc cung cấp có thể mang tính thường xuyên hoặc chỉ nhất
thời phục vụ cho một hoặc một số nghiệp vụ thanh tra nhất định, trong một
thời gian nhất định.
Trong việc thực hiện quyền cơ bản về yêu cầu cung cấp thông tin
tài liệu, quyền của Thanh tra Ngân hàng bao gồm: (i) yêu cầu các chủ thể
có liên quan cung cấp đầy đủ, kịp thời, chính xác, trung thực, đúng mẫu,
đúng quy cách thông tin, tài liệu cũng như các văn bản pháp luật, văn bản
nội bộ phù hợp với yêu cầu thanh tra, giám sát; (ii) yêu cầu đối tượng thanh
tra báo cáo bằng văn bản hoặc báo cáo trực tiếp bằng lời về những vấn đề
Thanh tra Ngân hàng quan tâm cần thiết cho hoạt động thanh tra, giám sát;
(iii) đối với việc cung cấp thông tin tài liệu phục vụ cho hoạt động giám
sát, có thể sử dụng hệ thống truyền tin tập trung trên cơ sở hệ thống máy

Trích đoạn Hoạt động của Thanh tra Ngõn hàng Nhà nƣớc Việt Nam sau khi cú Luật Thanh tra Mụi trƣờng hoạt động của hệ thống ngõn hàng hiện nay tiềm ẩn nhiều rủi ro Sự phỏt triển của khu vực tài chớnh ngõn hàng và thị trƣờng tài chớnh với hàng loạt cỏc loại hỡnh dịch vụ hiện đại, quỏ trỡnh YấU CẦU HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ HOẠT ĐỘNG CỦA THANH TRA NGÂN HÀNG NHÀ NƢỚC VIỆT NAM GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ HOẠT ĐỘNG CỦA THANH TRA NGÂN HÀNG NHÀ NƢỚC VIỆT NAM
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status