HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ HOẠT ĐỘNG CHẤT VẤN TẠI PHIÊN HỌP ỦY BAN THƯỜNG VỤ QUỐC HỘI pot - Pdf 11

V¨n phßng quèc héi ch−¬ng tr×nh ph¸t triÓn liªn hîp quèc

DỰ ÁN TĂNG CƯỜNG NĂNG LỰC CỦA CÁC CƠ QUAN DÂN CỬ
Ở VIỆT NAM
BÁO CÁO NGHIÊN CỨU

HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ HOẠT ĐỘNG CHẤT VẤN TẠI
PHIÊN HỌP ỦY BAN THƯỜNG VỤ QUỐC HỘI

Ấn phẩm này được hoàn thành và xuất bản với sự hỗ trợ kỹ thuật của Dự án
“Tăng cường năng lực cho các cơ quan đại diện ở Việt Nam” (giai đoạn III),
Văn phòng Quốc hội và UNDP tại Việt Nam. Những quan điểm thể hiện
trong ấn phẩm này là của tác giả, và không nhất thiết đại diện cho quan
điểm của Liên Hợp Quốc bao gồm UNDP cũng nh
ư các thành viên Liên Hợp
Quốc.
HÀ NỘI
Tháng 7-2012
2

thường vụ Quốc hội 39
2.2.4. Một số hạn chế và những vấn đề đặt ra 42

Chương 3: Kiến nghị hoàn thiện pháp luật về hoạt động chất vấn tại phiên
họp Ủy ban thường vụ Quốc hội

3.1- Phương hướng chung về việc tổ chức hoạt động chất vấn tại phiên họp Ủy ban thường vụ
Quốc hội 52
3.1.1. Hoàn thiện pháp luật: đồng bộ hóa, bổ sung những quy định còn thiếu, sửa đổi những
quy định thiếu tính khả thi. 52
3.1.2. Tiếp tục tổ chức, tăng thời lượng, tần suất hoạt động chất vấn tại phiên họp Ủy ban
th
ường vụ Quốc hội 53
3.1.3. Khắc phục những hạn chế, bất cập trong thực tiễn, tiếp tục đổi mới cách thức tổ chức
nhằm tiếp tục nâng cao hiệu quả hoạt động chất vấn tại phiên họp Ủy ban thường vụ Quốc
hội 54
3.2- Kiến nghị giải pháp hoàn thiện quy định của pháp luật hiện hành về tổ chức hoạt
động
chất vấn tại phiên họp Ủy ban thường vụ Quốc hội 55
3.2.1. Sửa đổi, bổ sung các quy định hiện hành của pháp luật 55
3.2.2. Ban hành mới Quy chế về việc tổ chức hoạt động chất vấn tại phiên họp Ủy ban
thường vụ Quốc hội 66
Kết luận
Danh mục tài liệu tham khảo

3
Mở đầu
Quyền chất vấn là một trong những quyền quan trọng và cơ bản của các
đại biểu Quốc hội được ghi nhận trong Hiến pháp và các văn bản pháp luật có
liên quan. Trong các khóa Quốc hội gần đây, các phiên chất vấn của Quốc hội

ừ yêu cầu của thực tiễn, với trách nhiệm của đơn vị được phân
công phối hợp tổ chức phục vụ hoạt động chất vấn của đại biểu Quốc hội, Vụ
tổng hợp, Văn phòng Quốc hội xây dựng Báo cáo nghiên cứu về “Hoàn thiện
quy định của pháp luật về hoạt động chất vấn tại phiên họp Ủy ban thường vụ
Quốc hội”. Việc xây dựng Báo cáo nghiên cứu hướng tới những mục đích sau
đây:

4
- Thiết thực phục vụ việc sửa đổi, bổ sung Hiến pháp 1992, Luật tổ chức
Quốc hội, Luật hoạt động giám sát của Quốc hội và các văn bản pháp luật khác
có liên quan, góp phần tạo cơ sở pháp lý vững chắc cho việc tổ chức hoạt động
chất vấn và trả lời chất vấn tại phiên họp Ủy ban thường vụ Quốc hội.
- Xây dựng quy trình, th
ủ tục cụ thể, chi tiết từ khâu chuẩn bị, tiến hành
đến hậu chất vấn, tạo điều kiện thuận lợi cho đại biểu Quốc hội tham gia hoạt
động chất vấn giữa hai kỳ họp Quốc hội và giúp cho các cơ quan tham mưu,
giúp việc dễ dàng hơn trong công tác phục vụ hoạt động này.
Nội dung của Báo cáo nghiên cứu tập trung vào những vấn đề sau đây:
- M
ột số vấn đề lý luận về hoạt động chất vấn giữa hai kỳ họp Quốc hội:
mục đích, ý nghĩa, yêu cầu và sự cần thiết tiến hành hoạt động chất vấn tại phiên
họp Ủy ban thường vụ Quốc hội.
- Phân tích thực trạng các quy định của pháp luật và việc thi hành các quy
định về việc tổ chức hoạt động chất vấn t
ại phiên họp Ủy ban thường vụ Quốc
hội.
- Kiến nghị hoàn thiện hệ thống các quy định pháp luật về việc tổ chức
hoạt động chất vấn tại phiên họp Ủy ban thường vụ Quốc hội.
Để chuẩn bị, đồng thời xin ý kiến về những nội dung nghiên cứu chủ yếu,
Văn phòng Quốc hội đã tổ chức một cu

thay mặt nhân dân yêu cầu người bị chất vấn phải trả lời về nhữ
ng vấn đề liên
quan đến trách nhiệm pháp lý; quy trách nhiệm pháp lý, trách nhiệm chính trị
đối với người bị chất vấn.
Theo Từ điển tiếng Việt năm 1999
1
, thì “chất vấn là yêu cầu phải giải
thích rõ ràng - Đại biểu Quốc hội chất vấn Chính phủ”.
Theo quy định của Điều 2, Luật hoạt động giám sát của Quốc hội năm
2003, thì chất vấn là một hoạt động giám sát, trong đó đại biểu Quốc hội nêu
những vấn đề thuộc trách nhiệm của Chủ tịch nước, Chủ tịch Quốc hội, Thủ
t
ướng Chính phủ, Bộ trưởng và các thành viên khác của Chính phủ, Chánh án
Toà án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao và yêu cầu
những người này trả lời”.
Từ quy định nêu trên có thể thấy rằng, chất vấn là hoạt động quyền lực
nhằm thực hiện chức năng giám sát, là quyền hiến định của đại biểu Quốc hội,
được thể hiện bằng hình thức hỏi – đáp. B
ản chất của hoạt động chất vấn là việc
đại biểu Quốc hội yêu cầu những người giữ các chức danh do Quốc hội bầu 1
Minh Tân - Thanh Nghi - Xuân Lãm, Từ điển tiếng Việt, Nhà xuất bản Thanh Hóa, 1999, trang 200.

6
hoặc phê chuẩn trả lời về trách nhiệm của mình trong việc thực hiện chính sách
của Nhà nước hay về một vấn đề thời sự nào đó được nhân dân quan tâm.
2


2
TS. Hoàng Văn Tú, Phó Viện trưởng Viện nghiên cứu lập pháp, Cơ sở pháp lý của hoạt động chất vấn tại
phiên họp Ủy ban thường vụ Quốc hội, phát biểu tại cuộc Tọa đàm về Hoàn thiện pháp luật về hoạt động chất
vấn tại phiên họp Ủy ban thường vụ Quốc hội, Hà Nội, 12.4.2012.
3
TS. Nguyễn Sĩ Dũng, Chất vấn, Báo Người đại biểu nhân dân, 24/4/2008.

7
tiếp để đông đảo cử tri cả nước có thể theo dõi và phản hồi ý kiến, thì đó sẽ là áp
lực, góp phần đẩy nhanh, mạnh và vững chắc các điều chỉnh cần thiết.
4

Có thể nói, chất vấn là một quyền riêng có của đại biểu Quốc hội, là việc
thực hiện một trong những hình thức giám sát mang lại hệ quả chính trị và hệ
quả xã hội to lớn. Từ kết quả trả lời chất vấn, đại biểu Quốc hội và các cơ quan
có thẩm quyền có thể thực hiện quyền kiến nghị bỏ phiếu tín nhiệm đối v
ới
người trả lời chất vấn. Với sự thu hút sự chú ý rộng rãi của công luận, các phiên
họp chất vấn được coi là đợt sinh hoạt chính trị về các vấn đề đang đặt ra trong
đời sống xã hội cần được giải quyết, do đó tạo sức ép lên Chính phủ để tăng
cường trách nhiệm, giải quyết nhanh hơn, tốt hơn vấn đề mà đại biểu đã nêu lên
hoặc cảnh báo qua các câu hỏi chất vấn.
Trong giai đoạn đổi mới, cùng với những đổi mới mạnh mẽ về đường lối,
chính sách phát triển kinh tế, đời sống chính trị của đất nước ta cũng từng bước
cởi mở, dân chủ hơn. Một trong những biểu hiện quan trọng nhất là hoạt động
của cơ quan đại diện cao nhất của nhân dân – Quốc h
ội - dần trở nên thực chất,
công khai hơn với những hoạt động bao trùm như lập pháp, giám sát, quyết định
các vấn đề quan trọng, hoạt động tiếp xúc cử tri và đặc biệt là hoạt động chất
vấn các thành viên Chính phủ, Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, Viện trưởng


Trong điều kiện Quốc hội hoạt động không thường xuyên, mỗi năm
thường họp 2 kỳ với tổng thời gian khoảng 60 ngày, Ủy ban thường vụ Quốc hội
vừa là một cơ quan thuộc cơ cấu tổ chức của Quốc hội được thực hiện một số
nhiệm vụ trong thời gian giữa hai kỳ họp; vừa là một thực thể
độc lập, có vai trò
quan trọng đối với hoạt động của Quốc hội, cụ thể là: 5
Nguồn: website của Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam,
http://www.na.gov.vn/htx/Vietnamese/C1400/#bt1zJBbKJaQR9
Trong lĩnh vực lập pháp: lập pháp là một trong những nội dung hoạt động
quan trọng của Ủy ban thường vụ Quốc hội, tất cả các dự án luật trước khi được
trình ra Quốc hội đều phải được Ủy ban thường vụ Quốc hội xem xét, cho ý
kiến; bên cạnh đó, Ủy ban thường vụ Quốc hội tự mình xem xét, thông qua pháp
lệnh, nghị quyết có chứa quy phạm pháp luật. Hoạ
t động lập pháp chiếm một
thời lượng đáng kể trong các phiên họp của Uỷ ban thường vụ Quốc hội. Chẳng
hạn, năm 2009, trong số 11 phiên họp của Uỷ ban thường vụ Quốc hội khóa XII,
(từ phiên họp thứ 16 đến phiên họp thứ 26), phiên họp nào cũng có nội dung về
hoạt động lập pháp. Tính trung bình thời gian dành cho hoạt động lập pháp của
Uỷ ban thường vụ Quố
c hội trong năm 2009 là xấp xỉ 44,11% tổng số thời gian
họp, trong đó có phiên họp mà thời gian dành cho hoạt động lập pháp lên đến
82,14%
6

Luật kiểm toán Nhà nước…
Trong lĩnh vực giám sát: Theo các quy định pháp luật hiện hành về tổ
chức và hoạt động của Quốc hội, thẩm quyền giám sát được phân định cho từng
chủ thể, trong đó Uỷ ban thường vụ Quốc hội thực hiện quyền giám sát đối với
hoạt động của Chính phủ, Th
ủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng và các thành viên
khác của Chính phủ, Toà án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao và
Hội đồng nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương trong việc thi hành
Hiến pháp, luật, nghị quyết của Quốc hội, pháp lệnh, nghị quyết của Ủy ban
thường vụ Quốc hội; giám sát văn bản quy phạm pháp luật của Chính phủ, Thủ
tướng Chính phủ, Toà án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, ngh

quyết của Hội đồng nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc thuộc trung ương; giúp
Quốc hội giám sát theo sự phân công của Quốc hội. Thực tế, hoạt động giám sát
của Uỷ ban thường vụ Quốc hội chủ yếu tập trung vào ba nội dung công việc là:
(1) Xem xét các báo cáo công tác của Chính phủ, Toà án nhân dân tối cao,
Viện kiểm sát nhân dân tối cao và yêu cầu các cơ quan này báo cáo những nội
dung khác khi xét thấy cần thiết.
(2) Xem xét báo cáo của các đoàn giám sát, bao g
ồm các đoàn giám sát
theo chương trình giám sát của Quốc hội và chương trình giám sát của Uỷ ban
thường vụ Quốc hội trước khi báo cáo Quốc hội tại kỳ họp.
(3) Tổ chức hoạt động chất vấn và trả lời chất vấn.
Nhìn chung, với vị trí là cơ quan thường trực của Quốc hội, vai trò của Ủy
ban thường vụ Quốc hội chủ yếu là cơ quan điều ph
ối chương trình, cân nhắc về
mặt quy trình, thủ tục để đưa các vấn đề trọng đại vào chương trình nghị sự của
Quốc hội. Bên cạnh đó, Ủy ban thường vụ Quốc hội cũng được pháp luật giao
thẩm quyền quyết định trong việc thực hiện một số nhiệm vụ thuộc các lĩnh vực
lập pháp, giám sát và quyết định các vấn đề quan trọ

hội giảm ban hành pháp lệnh.
10

Thứ hai, xu hướng củng cố tổ chức và hoạt động của Ủy ban thường vụ
Quốc hội, coi đây là một cơ cấu quan trọng, chịu trách nhiệm trong việc tổ chức
thực hiện các chức năng, nhiệm vụ và thẩm quyền của Quốc hội. Với việc thành
viên Ủy ban thường vụ Quốc hội đồng thời là thành viên Đảng đoàn Quốc hộ
i,
Ủy ban thường vụ Quốc hội còn có nhiệm vụ bảo đảm sự lãnh đạo của Đảng đối 8
Các ý kiến thảo luận trong quá trình sửa đổi, bổ sung Hiến pháp 1992.
9
Khoản 8, Điều 91, Hiến pháp 1992.
10
Nghị quyết số 10-NQ/TW ngày 09 tháng 02 năm 2007 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng thông qua tại
Hội nghị lần thứ tư, khoá X "Về đổi mới, kiện toàn tổ chức bộ máy các cơ quan đảng, định hướng về đổi mới tổ
chức bộ máy nhà nước, Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể chính trị - xã hội". 12
với hoạt động của Quốc hội, các cơ quan của Quốc hội và đại biểu Quốc hội.
Như vậy, thẩm quyền của Ủy ban thường vụ Quốc hội không những không thu
hẹp mà còn được tăng cường và mọi vấn đề quan trọng Quốc hội sẽ xem xét trên
cơ sở Tờ trình, Báo cáo của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
Chúng tôi cho rằng, việc xây dựng
Ủy ban thường vụ Quốc hội trở thành
một ”Quốc hội thu nhỏ” để xem xét, quyết định nhiều vấn đề thuộc thẩm quyền
của Quốc hội (về mặt lý thuyết) khó có thể được Quốc hội đồng thuận trong giai

2. Quyết định thời hạn, hình thức trả lời chất vấn;
3. Xem xét việc trả lời chất vấn của đại biểu Quốc hội được Quốc hội
quyết định cho trả lời tại phiên h
ọp Uỷ ban thường vụ Quốc hội và chất vấn
khác được gửi đến Uỷ ban thường vụ Quốc hội trong thời gian giữa hai kỳ họp
Quốc hội;
4. Xem xét việc trả lời chất vấn của đại biểu Quốc hội trong trường hợp
cần điều tra;
5. Xem xét việc trả lời chất vấn của đại biểu Quốc hội trong trường h
ợp
đại biểu Quốc hội không đồng ý với nội dung trả lời
bằng văn bản của người trả
lời chất vấn và được Chủ tịch Quốc hội đồng ý đưa ra thảo luận trước Uỷ ban
thường vụ Quốc hội;

6. Khi xét thấy cần thiết, ra nghị quyết về việc trả lời chất vấn và trách
nhiệm của người bị chất vấn.
Như vậy, có thể thấy rằng, Ủy ban thường vụ Quốc hội là một cơ cấu
quan trọng trong việc giúp Quốc hội thực hiện chức năng, nhiệm vụ luật định, cả
trong lĩnh vực lập pháp, giám sát và quyết định các v
ấn đề quan trọng. Riêng đối
với việc thực hiện quyền chất vấn của đại biểu Quốc hội trong thời gian Quốc
hội không họp, Ủy ban thường vụ Quốc hội có thẩm quyền ”xem xét việc trả lời
chất vấn” đối với bốn loại chất vấn của đại biểu Quốc hội, đó là:
(1) Các chất vấn cần điề
u tra;
(2) Các chất vấn được Quốc hội quyết định cho trả lời tại phiên họp Ủy
ban thường vụ Quốc hội;
(3) Các chất vấn được ”
gửi đến Uỷ ban thường vụ Quốc hội trong thời gian giữa

Quốc hội đối với các cá nhân do Quốc hội bầu, phê chuẩn. Trong trường hợp
này, có thể hiểu Ủy ban thường vụ Quốc hội tổ chức phiên họp để xem xét, đánh
giá việc trả lời đối với những chất vấn đã có, đã xác định trước của đại biểu
Quốc hội. Hay nói cách khác, đây chỉ là một hoạt độ
ng giám sát của chủ thể Ủy
ban thường vụ Quốc hội, không phải là hoạt động giám sát của đại biểu Quốc
hội.
Theo quy định của Hiến pháp và Luật tổ chức Quốc hội, với yêu cầu về
chủ thể quyết định tiến hành và nội dung của hoạt động chất vấn và trả lời chất
vấn tại phiên họp Ủy ban thường vụ Quố
c hội (Quốc hội quyết định trong trường

15
hợp cần điều tra về vấn đề đại biểu Quốc hội chất vấn; Chủ tịch Quốc hội quyết
định trong trường hợp đại biểu Quốc hội đề nghị khi không đồng ý với nội dung
trả lời bằng văn bản của người trả lời chất vấn) có thể thấy, đây là một hoạt động
không phổ bi
ến với mục đích là để làm sáng tỏ hơn những vấn đề đại biểu Quốc
hội đã chất vấn tại kỳ họp Quốc hội hoặc giữa hai kỳ họp Quốc hội và đây cũng
chính là việc Ủy ban thường vụ Quốc hội xem xét việc trả lời chất vấn.
Theo Luật hoạt động giám sát, Quy chế hoạt động c
ủa Ủy ban thường vụ
Quốc hội, với việc quy định “những chất vấn được gửi tới Ủy ban thường vụ
Quốc hội trong thời gian giữa hai kỳ họp Quốc hội” và “những chất vấn khác
do Quốc hội giao” đều có thể được đưa ra chất vấn tại phiên họp Ủy ban
thường vụ Quốc hội thì hoạt động chấ
t vấn tại phiên họp Ủy ban thường vụ
Quốc hội có mục đích là nhằm giải quyết kịp thời những vấn đề đại biểu
Quốc hội chất vấn giữa hai kỳ họp Quốc hội và giải quyết nốt những vấn đề
đại biểu Quốc hội nêu lên tại kỳ họp Quốc hội nhưng chưa có điề

lự
c nhà nước cao nhất, cơ quan đại biểu cao nhất của nhân dân. Cử tri và nhân
dân cả nước theo dõi sát sao hơn, đặt nhiều kỳ vọng hơn vào hoạt động của
Quốc hội nói chung và các vị đại biểu Quốc hội nói riêng. Vì vậy, yêu cầu đặt ra
đối với hoạt động của Quốc hội, các cơ quan của Quốc hội và đại biểu Quốc hội
vào thời điểm Quốc hộ
i thông qua Luật hoạt động giám sát của Quốc hội năm
2003 đã khác hơn so với năm 1992. Đó có thể là những lý giải cho những “thay
đổi” hay “mở rộng” hơn về mục đích tổ chức hoạt động chất vấn tại phiên họp
Ủy ban thường vụ Quốc hội của Luật hoạt động giám sát so với Hiến pháp và
Luật tổ chức Quốc hội như trên. Những
điểm mở rộng đó chính là xuất phát từ
yêu cầu của thực tiễn và đã được đa số đại biểu Quốc hội chấp thuận với việc
biểu quyết thông qua Luật hoạt động giám sát.
Cũng có ý kiến băn khoăn về việc có nên tổ chức một cách thường xuyên
hoạt động chất vấn trong thời gian giữa hai kỳ họp như hiện nay hay chỉ
nên tổ
chức hoạt động này khi ”có vấn đề bức xúc trong thực tiễn”, ví dụ như vụ thất
thoát ngân sách nhà nước ở các Tập đoàn Vinashin, Vinalines hay vụ vi phạm
pháp luật trong cưỡng chế thu hồi đất ở Tiên Lãng, Hải Phòng Tuy vậy, ý
kiến khác lại cho rằng việc tổ chức thường xuyên các phiên họp chất vấn tại Ủy
ban thường vụ Quốc hội chính là thông điệp của Quốc hộ
i gửi tới cử tri để cử tri
thấy được tính thường xuyên, liên tục trong hoạt động của Quốc hội. Bên cạnh
đó, quan niệm về ”vấn đề bức xúc trong thực tiễn” để tổ chức hoạt động này
cũng không nên cứng nhắc, hoàn toàn có thể tổ chức chất vấn về những vấn đề

17
nhỏ nhưng có ý nghĩa xã hội to lớn và thể hiện tính chất phản ứng nhanh của
Quốc hội với các vấn đề bức xúc trong xã hội.

trưởng và các thành viên khác của Chính phủ, Chánh án Toà án nhân dân tối 11
Ý kiến thảo luận tại Tọa đàm về Hoàn thiện pháp luật về hoạt động chất vấn tại phiên họp Ủy ban thường vụ
Quốc hội, Hà Nội, 12.4.2012

18
cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao và yêu cầu những người này
trả lời. Đi kèm theo quyền chất vấn của đại biểu Quốc hội là trách nhiệm phải
trả lời câu hỏi chất vấn của các đối tượng theo quy định của pháp luật. Hậu quả
pháp lý của hoạt động là đều có thể dẫn tới việc xác định trách nhiệm chính trị,
pháp lý của người trả
lời chất vấn, cụ thể và rõ ràng nhất là có thể dẫn tới việc
bỏ phiếu tín nhiệm.
- Về đối tượng, thành phần tham gia: chất vấn tại kỳ họp là hoạt động của
một ”phiên họp toàn thể”, với sự có mặt của tất cả các vị đại biểu Quốc hội, còn
chất vấn tại Ủy ban thường vụ Quốc hội thì
đối tượng, thành phần tham dự hạn
hẹp hơn:
1- Ủy ban thường vụ Quốc hội.
2- Các vị đại biểu Quốc hội có chất vấn được trả lời tại phiên họp
Ủy ban thường vụ Quốc hội.
3- Các vị đại biểu Quốc hội chuyên trách ở trung ương, Hà Nội và
một số tỉnh lân cận.
4- Khách mời của Ủy ban thường vụ Quốc hội không phải là đại
biểu Quốc hội (tham dự như
ng không chất vấn).
12


trong thực tế” vào phiên họp Ủy ban thường vụ Quốc hội còn chưa rõ ràng, gặp
nhiều khó khăn bởi số lượng câu hỏi chất vấn của đại biểu Quốc hội gửi đến
giữa hai kỳ họp là rất ít. Các nội dung chất vấn tại phiên họp Ủy ban thường v

Quốc hội chủ yếu là những nội dung do Quốc hội quyết định tại kỳ họp trước
đó, vì vậy, tính thời sự không thật cao và khó có thể nói đó không phải là những
vấn đề “ở tầm vĩ mô”. Vì vậy, sự khác biệt trong nội dung chất vấn tại phiên họp
Ủy ban thường vụ Quốc hội và kỳ họp Quốc hội không thực sự rõ ràng.

Như vậy, ở thời điểm hiện nay, trong điều kiện hoạt động chất vấn tại
phiên họp Ủy ban thường vụ Quốc hội có tính chất gần giống với hoạt động chất
vấn tại kỳ họp Quốc hội, việc tổ chức hoạt động này chỉ đơn thuần mang ý nghĩa
tăng tần suất hoạt động giám sát củ
a Quốc hội nhằm tiếp tục nâng cao chất
lượng, hiệu quả hoạt động của Quốc hội, các cơ quan của Quốc hội và đại biểu
Quốc hội. Bên cạnh đó, do các phiên họp chất vấn được phát thanh, truyền hình
trực tiếp, được nhiều phương tiện thông tin đại chúng, báo chí bình luận, đưa tin
nên đã thu hút sự chú ý rộng rãi của nhân dân và công luận về những vấn đề bức
xúc về kinh tế, xã hội, có tác động mạnh mẽ và cũng là sức ép, áp lực để Chính
phủ giải quyết kịp thời và triệt để hơn những vấn đề bức xúc được đại biểu Quốc
hội thay mặt cử tri nêu lên. Ở một số nước, nhiều bộ trưởng phải từ chức do áp
lực của công luận chứ không nhất thiết là áp lực từ phía Nghị việ
n. Đồng thời,
thông qua các phiên họp chất vấn và trả lời chất vấn giữa hai kỳ họp Quốc hội,

20
cử tri cũng có điều kiện để hiểu biết tốt hơn về đời sống kinh tế, chính trị, xã hội
của đất nước; về hoạt động của Quốc hội, Chính phủ, các cơ quan tư pháp; về
những chính sách mới ban hành và sắp ban hành, như vậy, đóng góp tích cực
vào việc dân chủ hóa và minh bạch hóa hoạt động của các cơ quan trọng bộ máy

định pháp luật về lĩnh vực này theo những nội dung cơ bản
như sau:
2.1.1. Quy định về điều kiện tổ chức hoạt động chất vấn
a) Theo quy định của Hiến pháp và Luật tổ chức Quốc hội
Điểm 2 Điều 98, Hiến pháp 1992 và Điểm 2 Điều 49 Luật tổ chức Quốc
hội quy định:
“Người bị chất vấn ph
ải trả lời trước Quốc hội tại kỳ họp; trong trường
hợp cần điều tra thì Quốc hội có thể quyết định cho trả lời trước Uỷ ban
thường vụ Quốc hội hoặc tại kỳ họp sau của Quốc hội hoặc cho trả lời bằng
văn bản”.
Điểm 3 và 4, Điều 49 Luật tổ chức Quốc h
ội quy định:
“Trong thời gian giữa hai kỳ họp Quốc hội, chất vấn được gửi đến Uỷ ban
thường vụ Quốc hội để chuyển đến cơ quan hoặc người bị chất vấn và quyết
định thời hạn trả lời chất vấn. Nếu đại biểu Quốc hội không đồng ý với nội dung
trả lời thì có quyền đề nghị Chủ t
ịch Quốc hội đưa ra thảo luận trước Quốc hội
hoặc Uỷ ban thường vụ Quốc hội.”

22
Như vậy, theo Hiến pháp và Luật tổ chức Quốc hội thì mặc nhiên các chất
vấn của đại biểu Quốc hội giữa hai kỳ họp của Quốc hội sẽ được trả lời bằng
văn bản; chỉ có hai chủ thể có quyền quyết định việc tổ chức chất vấn hoặc thảo
luận về vấn đề chất vấn củ
a đại biểu Quốc hội trước Ủy ban thường vụ Quốc hội
và chỉ trong những trường hợp nhất định, đó là:
(1) Quốc hội quyết định: trong trường hợp cần điều tra về vấn đề đại biểu
Quốc hội chất vấn;
(2) Chủ tịch Quốc hội quyết định: trong trường hợp đại biểu Quốc hội đề

thường vụ Quốc hội trong thời gian giữa hai kỳ họp Quốc hội” đều có thể
được đưa ra để Ủy ban thường vụ Quốc hội “xem xét việc trả lời” tại phiên
họp Ủy ban thường vụ Quốc hội. Đồng thời, đối với những chất vấn do đại
biểu Quốc h
ội nêu lên tại kỳ họp, Quốc hội có thể quyết định “chuyển” sang
trả lời tại phiên họp Ủy ban thường vụ Quốc hội không nhất thiết phải là
những chất vấn “cần điều tra”.
2.1.2. Quy định về đối tượng trả lời chất vấn
Điều 16 Luật tổ chức Quốc hội quy định về đối tượng trả lờ
i chất vấn
tại phiên họp Ủy ban thường vụ Quốc hội như sau:
“Trong thời gian giữa hai kỳ họp Quốc hội, Uỷ ban thường vụ Quốc hội
xem xét việc Thủ tướng và các thành viên khác của Chính phủ, Chánh án Toà
án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao trả lời chất
vấn ”.
Trong khi đó, Điểm 1 Điều 98 Hiến pháp 1992 và Điều 49 Luật tổ ch
ức
Quốc hội quy định: ”Đại biểu Quốc hội có quyền chất vấn Chủ tịch nước, Chủ
tịch Quốc hội, Thủ tướng Chính phủ và các thành viên khác của Chính phủ,
Chánh án Toà án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối
cao”. Như vậy, đối tượng trả lời chất vấn tại phiên họp Ủy ban thường vụ
Quốc hội hẹp hơn đối t
ượng trả lời chất vấn tại kỳ họp Quốc hội và không bao
gồm Chủ tịch nước, Chủ tịch Quốc hội.
2.1.3. Quy định về quy trình tổ chức chất vấn
Quy trình tổ chức hoạt động chất vấn tại phiên họp Ủy ban thường vụ
Quốc hội được quy định tại Điều 19 của Luật hoạt động giám sát của Quốc

24
hội như sau:

“Khi xét thấy cần thiết, ra nghị quyết hoặ
c đề nghị Quốc hội ra nghị quyết về
việc trả lời chất vấn và trách nhiệm của người bị chất vấn”.

25
Như vậy, theo quy định, khi cần thiết, có hai chủ thể có quyền ra nghị
quyết về hoạt động chất vấn đó là:
(1) Quốc hội
(2) Ủy ban thường vụ Quốc hội
Nội dung của nghị quyết có thể bao gồm hai vấn đề sau:
(1) Về việc trả lời chất vấn
(2) Về trách nhiệm của người bị chấ
t vấn.
Bên cạnh đó, khoản 5, Điều 11 Luật hoạt động giám sát của Quốc hội quy định:
“Người đã trả lời chất vấn tại kỳ họp Quốc hội, tại phiên họp Uỷ ban thường vụ Quốc hội
hoặc đã trả lời chất vấn của đại biểu Quốc hội bằng văn bản có trách nhiệm báo cáo với các
đại biểu Quố
c hội bằng văn bản về việc thực hiện những vấn đề đã hứa khi trả lời chất vấn tại
kỳ họp tiếp theo”. Đây cũng là một trong những quy định ràng buộc hậu chất vấn đối với
người trả lời chất vấn, là căn cứ giúp Quốc hội, các cơ quan của Quốc hội và đại biểu Quốc
h
ội tiếp tục giám sát đối với người trả lời chất vấn.
2.1.5. Những vấn đề đặt ra
Nhìn chung, cơ sở pháp lý để tiến hành hoạt động chất vấn tại phiên
họp Ủy ban thường vụ Quốc hội đã được pháp luật quy định trong các văn
bản pháp luật, từ Hiến pháp, Luật tổ chức Quốc hội, Luật hoạt động giám sát
của Quốc hội đến các văn bản pháp quy khác như Quy chế hoạt động của Ủ
y
ban thường vụ Quốc hội, Quy chế hoạt động của đại biểu Quốc hội và Đoàn
đại biểu Quốc hội, Nội quy kỳ họp Quốc hội. Cụ thể là pháp luật đã quy định


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status