MỤC LỤC
Trang phụ bìa
Lời cam đoan
Mục lục
Danh mục các chữ viết tắt
Danh mục các hình vẽ, đồ thị
MỞ ĐẦU 1
CHƢƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN
ĐẾN ĐỀ TÀI 18
1.1 Tình hình nghiên cứu trong nƣớc 18
1.2 Tình hình nghiên cứu nƣớc ngoài 26
CHƢƠNG 2 CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VIỆC HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT
VỀ HOẠT ĐỘNG GIÁM SÁT CỦA HỘI ĐỒNG NHÂN DÂN 34
2.1 Quan niệm về pháp luật hoạt động giám sát của Hội đồng nhân dân . 34
2.2 Phƣơng hƣớng, tiêu chí và các yếu tố ảnh hƣởng đến hoàn thiện pháp
luật giám sát của Hội đồng nhân dân 51
2.3 Pháp luật về hoạt động giám sát của cơ quan dân cử địa phƣơng một
số nƣớc và giá trị vận dụng vào thực tiễn ở Việt Nam. 66
CHƢƠNG 3 QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH, PHÁT TRIỂN VÀ THỰC
TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ HOẠT ĐỘNG GIÁM SÁT CỦA HỘI ĐỒNG
NHÂN DÂN 73
3.1 Quá trình hình thành và phát triển pháp luật về hoạt động giám sát của
Hội đồng nhân dân. 73
3.2 Thực trạng pháp luật về hoạt động giám sát của Hội đồng nhân dân . 80
3.3 Những vấn đề bất cập trong quá trình thực thi pháp luật hoạt động
giám sát của Hội đồng nhân dân 107
CHƢƠNG 4. QUAN ĐIỂM VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ
HOẠT ĐỘNG GIÁM SÁT CỦA HỘI ĐỒNG NHÂN DÂN 133
4.1 Quan điểm hoàn thiện pháp luật về hoạt động giám sát của Hội đồng
chính thành phố trực thuộc trung ƣơng không tổ chức
HĐND huyện, quận, phƣờng 180
Phục lục 3. Đánh giá hoạt động giám sát của HĐND 181
Phụ lục 4. Trình độ cán bộ TT HĐND nhiệm kỳ 2004-2011 182
Phục lục 5. Cơ cấu đại biểu HĐND là ngƣời ngoài Đảng
nhiệm kỳ 2004-2011 183
Phụ lục 6. Thống kê về số Đoàn giám sát của HĐND 184
Phục lục 7. Số lƣợng chất vấn của đại biểu HĐND 185
Phục lục 8. Tỷ lệ tham khảo ý kiến về nguyên nhân ảnh hƣởng đến hoạt
động chất vấn 186
Phục lục 9. Thống kê các cuộc giám sát cảu HĐND trƣớc và sau khi
thực hiện thí điểm không tổ chức HĐND huyện, quận, phƣờng……187 MỞ ĐẦU
1. Sự cần thiết của việc nghiên cứu
Vấn đề cải cách bộ máy Nhà nƣớc, cải cách hệ thống hành chính Nhà
nƣớc từ Trung ƣơng đến địa phƣơng đã trở thành một vấn đề hết sức cấp bách
và trọng yếu của đất nƣớc trong công cuộc đổi mới toàn diện do Đảng khởi
xƣớng và lãnh đạo, trong đó lấy đổi mới kinh tế làm trọng tâm.
Đổi mới tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nƣớc hiện nay chƣa theo
kịp yêu cầu của sự nghiệp đổi mới nói chung. Từ sau năm 1986, khi chuyển
sang đổi mới, những yếu kém của bộ máy nhà nƣớc đã bộc lộ rõ: quá cồng
kềnh, quan liêu, kém hiệu lực. Mặc dù năm 1992, với sự ra đời của Hiến pháp
1992 thay thế Hiến pháp 1980 (bản hiến pháp của nền kinh tế tập trung, quan
liêu bao cấp), Bộ máy nhà nƣớc ta đã có bƣớc chuyển đổi đáng kể, với việc
giảm trách nhiệm tập thể, tăng trách nhiệm cá nhân, điển hình là không còn
tồn tại Hội đồng nhà nƣớc, Hội đồng Bộ trƣởng mà thay vào đó là thiết chế
Chủ tịch nƣớc, Thủ tƣớng Chính phủ, Chính phủ. Nhƣng với việc chuyển
từng thời điểm lịch sử. Khi nói đến thực hiện hình thức dân chủ đại diện thì
ngƣời ta thƣờng nói tới các cơ quan đại diện do nhân dân bầu ra là Quốc hội,
Nghị viện, HĐND, Hội đồng địa phƣơng …. tùy theo cách gọi và cách thức tổ
chức của từng quốc gia. Tổ chức và quy định về quyền của HĐND trong đó
có quyền quyết định và quyền giám sát cũng nằm trong sự chuyển động
chung của tổ chức nhà nƣớc. Quyền giám sát của HĐND không ngừng thay
đổi theo hƣớng tích cực, để ngƣời dân thông qua cơ quan đại diện của mình
thực hiện đƣợc quyền dân chủ của mình tại địa phƣơng.
Đảng và Nhà nƣớc luôn đề cao vị trí, vai trò của chức năng giám sát
của HĐND, nhất là trong giai đoạn đổi mới, xây dựng nhà nƣớc pháp quyền,
xu thế dân chủ đƣợc phát huy. Nghị quyết Đại hội đảng lần thứ X cũng đã
khẳng định “phát huy vai trò giám sát của HĐND”, bên cạnh đó cũng đề ra
định hƣớng “tổ chức hợp lý chính quyền địa phương, phân định lại thẩm
quyền đối với chính quyền ở nông thôn, đô thị, hải đảo”, trong đó có chức
năng giám sát của HĐND ba cấp cũng cần đƣợc phân định cho hợp lý.
Cụ thể hóa nghị quyết của Đảng, Hiến pháp 1992 xác định vị trí của
HĐND là “cơ quan quyền lực Nhà nước ở địa phương, đại diện cho ý chí,
nguyện vọng và quyền làm chủ của nhân dân, do nhân dân địa phương bầu
ra, chịu trách nhiệm trước nhân dân địa phương và cơ quan Nhà nước cấp
trên”. Nghị quyết của Quốc hội số 51/2001/QH10 sửa đổi, bổ sung một số
điều của Hiếp pháp 1992 lần đầu tiên xác định nguyên tắc Nhà nƣớc Cộng
hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam “là Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa”.
Kỳ họp thứ 4, Quốc hội khóa XI đã ban hành Luật tổ chức HĐND và UBND
(năm 2003), trong đó, một điểm mới là có riêng một chƣơng quy định về hoạt
động giám sát của HĐND. Tiếp theo đó, UBTVQH có Nghị quyết số
753/2005/NQ-UBTVQH11 ngày 02 tháng 4 năm 2005 ban hành Quy chế hoạt
động của HĐND với nhiều quy định hƣớng dẫn về hoạt động giám sát của
HĐND.
Hiện nay, nƣớc ta đang tiến hành cải cách bộ máy Nhà nƣớc theo định
động của UBTVQH, HĐDT và các Uỷ ban của Quốc hội, Đoàn ĐBQH thì
hoạt động giám sát của Quốc hội chƣa đạt hiệu quả cao, thiếu cả sự đồng bộ
về hệ thống luật pháp. Tuy nhiên, sau khi Quốc hội ban hành Luật về hoạt
động giám sát của Quốc hội năm 2003 thì hoạt động giám sát của Quốc hội đã
có bƣớc tiến đáng kể, dần đƣợc nâng cao cả về hiệu lực và hiệu quả. Nhƣ vậy,
có thể thấy rằng quy phạm về hoạt động giám sát có ảnh hƣởng mạnh mẽ tới
việc thực thi, hiệu quả, hiệu lực của Quốc hội cũng nhƣ HĐND.
Tuy đã có đổi mới về mặt luật pháp nhƣng trong thực tế hoạt động giám
sát của HĐND cũng chƣa thực sự có đƣợc hiệu quả, đáp ứng đƣợc nguyện
vọng của nhân dân. Nguyên nhân chính là quy định của pháp luật chƣa thực sự
hợp lý, đầy đủ và đảm bảo cho quyền giám sát của HĐND đƣợc thực hiện; tổ
chức bộ máy nhà nƣớc, chất lƣợng đại biểu HĐND và mối quan hệ giữa sự
lãnh đạo của Đảng với HĐND cũng còn những vấn đề bất cập. Dƣới góc độ
luật pháp, cơ chế pháp lý về hoạt động giám sát của HĐND là yếu tố cơ bản,
then chốt để HĐND thực hiện tốt quyền của mình. Nhận thức đƣợc vấn đề
này và cùng với việc đổi mới tổ chức HĐND, UBND nói chung, trong thời
gian tới, Quốc hội dự kiến sẽ sửa Hiến pháp, Luật tổ chức HĐND và UBND,
Luật bầu cử đại biểu HĐND, theo đó, UBTVQH cũng sẽ ban hành Quy chế
hoạt động của HĐND.
Xuất phát từ các lý do trên, đối với luận án thuộc chuyên ngành luật, tác
giả chọn đề tài "Hoàn thiện pháp luật về hoạt động giám sát của Hội đồng
nhân dân", trong đó có nghiên cứu mô hình cải cách bộ máy nhà nƣớc ở địa
phƣơng không tổ chức HĐND huyện, quận, phƣờng làm Luận án Tiến sỹ luật
học, chuyên ngành lý luận và lịch sử nhà nƣớc và pháp luật. Đây là đề tài cấp
bách, có ý nghĩa thiết thực cả về lý luận và thực tiễn, góp phần trực tiếp vào
việc đổi mới và nâng cao hiệu quả hoạt động của bộ máy Nhà nƣớc nói chung
và hiệu quả hoạt động của HĐND nói riêng trong điều kiện đổi mới hiện nay
ở nƣớc ta, đón đầu cho việc sửa đổi luật về chính quyền địa phƣơng trong thời
gian tới.
trong văn bản pháp luật về hoạt động giám sát của HĐND, đề ra các giải pháp
hoàn thiện hệ thống pháp luật về hoạt động giám sát của HĐND. Tƣơng ứng với
việc tập trung đánh giá quy định pháp luật hiện hành thì Luận án cũng tập trung
đánh giá thực trạng hoạt động giám sát của HĐND từ thời điểm Luật tổ chức
HĐND và UBND năm 2003 có hiệu lực.
3. Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu của Luận án.
Mục tiêu nghiên cứu của Luận án là xây dựng cơ sở lý luận và thực tiễn để
đề ra phƣơng hƣớng và giải pháp hoàn thiện pháp luật về quyền giám sát của
HĐND và hoạt động giám sát của HĐND. Từ đó, góp phần nâng cao chất lƣợng
và hiệu quả hoạt động giám sát của HĐND ở nƣớc ta hiện nay và việc quy định
về hoạt động giám sát của HĐND theo mô hình tổ chức bộ máy nhà nƣớc mới.
Với mục tiêu nghiên cứu nói trên, Luận án có những nhiệm vụ chủ yếu
sau đây:
- Nghiên cứu về mặt lý luận khái niệm hoạt động giám sát của HĐND,
trong đó nêu bật nội hàm, bản chất của hoạt động giám sát; phân biệt khái
niệm hoạt động giám sát của HĐND và các khái niệm hoạt động giám sát của
các tổ chức khác nhƣ hoạt động giám sát của Quốc hội, của MTTQVN, ….
- Nghiên cứu pháp luật về hoạt động giám sát của HĐND, bao gồm quy
định về quyền giám sát, các hoạt động giám sát cụ thể của HĐND nhằm tìm
ra những đặc điểm phù hợp, những quy định bất hợp lý, thiếu tính khả thi.
- So sánh sự phát triển những quy định của pháp luật về giám sát của
HĐND qua các thời kỳ lịch sử, từ đó tổng kết xu hƣớng phát triển của pháp
luật về hoạt động giám sát của HĐND, dự kiến xu hƣớng phát triển quy định
về hoạt động giám sát của HĐND trong thời gian tới, làm bật lên việc quy
định của pháp luật về hoạt động giám sát đã có sự tƣơng đồng với khái niệm
về hoạt động giám sát chƣa, những vấn đề xung đột cần giải quyết.
- Đánh giá những đặc điểm của tổ chức bộ máy HĐND theo mô hình
không có HĐND quận, huyện, phƣờng từ đó nghiên cứu, xây dựng mô hình
hoạt động giám sát phù hợp.
tố từ quyền giám sát của HĐND, trình tự, thủ tục tiến hành giám sát đến việc
xử lý sau giám sát.
- Luận án xác định chủ thể tiến hành giám sát, đối tƣợng và phạm vi
giám sát, đây là điểm quan trọng, có sự khác biệt lớn so với quy định trong
pháp luật hiện hành. Với việc xác định này, hệ thống pháp luật về giám sát
của HĐND đã đƣợc định hình tƣơng đối cụ thể, có sự tập trung, quyền giám
sát đã gắn với nhiệm vụ, quyền hạn của HĐND trong tổ chức bộ máy nhà
nƣớc.
- Luận án chỉ ra những thiếu sót trong hệ thống pháp luật về giám sát, từ
quy định trong Hiến pháp đến quy định trong Luật tổ chức HĐND và UBND.
Đồng thời chỉ ra những bất cập trong quy định cụ thể về hoạt động giám sát
của HĐND trong Luật tổ chức HĐND và UBND.
- Từ những bất cập nêu trên, luận án đƣa ra những giải pháp hoàn thiện
hệ thống pháp luật hoạt động giám sát của HĐND. Những đề xuất, kiến nghị
sửa đổi quy phạm về giám sát của HĐND trong Hiến pháp đến việc xây dựng
Luật hoạt động giám sát của HĐND.
6. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của Luận án
- Luận án góp phần làm sâu sắc hơn lý luận về giám sát của HĐND, làm
rõ hơn cấu trúc pháp luật hoạt động giám sát của HĐND.
- Luận án có giá trị tham khảo đối với các hoạt động nghiên cứu lý luận
về khái niệm hoạt động giám sát của HĐND và chức năng giám sát của
HĐND các cấp ở nƣớc ta. Kết quả nghiên cứu có thể ứng dụng cho quá trình
sửa đổi các quy định về hoạt động giám sát của HĐND đƣợc quy định trong
quy định trong Luật tổ chức HĐND và UBND hiện nay. Kết quả nghiên cứu
phù hợp với nguyên tắc tổ chức HĐND 3 cấp ở tất cả các đơn vị hành chính
hoặc tổ chức HĐND ở các đơn vị hành chính trừ quận, huyện và phƣờng dự
kiến sẽ áp dụng trên toàn quốc sau khi hoàn thiện việc thí điểm trong thời
gian tới.
7. Kết cấu của Luận án.
chức và hoạt động của HĐND các cấp. Do đó, hoạt động giám sát của HĐND
tuy có đƣợc nghiên cứu nhƣng không chuyên sâu và cũng chỉ là một đề xuất
nhỏ trong phần kiến nghị. Đến nay, đề tài này phần nhiều có giá trị tham khảo
bởi sau khi đề tài hoàn thành, Quốc hội đã ban hành Luật tổ chức HĐND và
UBND năm 2003, nhiều kiến nghị trong đề tài nghiên cứu đã đƣợc tiếp thu
sửa đổi.
Luận án Tiến sĩ luật học về “Đổi mới tổ chức và hoạt động của HĐND
và UBND cấp xã” cũng là luận án nghiên cứu đối tƣợng rộng, về tổ chức và
hoạt động của cả HĐND và UBND, đồng thời hƣớng nghiên cứu không chỉ
về hệ thống pháp luật, đối tƣợng nghiên cứu giới hạn ở cấp xã.
Nhiều luận văn thạc sĩ nghiên cứu về đổi mới tổ chức và hoạt động của
HĐND ở từng địa phƣơng, có thể kể ra của tác giả nhƣ: Bùi Huyền Mai Đổi
mới tổ chức và hoạt động của Hội đồng nhân dân và Uỷ ban nhân dân thành
phố Hà Nội” (2004); đề tài nghiên cứu về đổi mới tổ chức và hoạt động của
Hội đồng nhân dân tỉnh Hải Dƣơng, Nam Định … . Những luận án này có
đóng góp nhất định khi nghiên cứu về HĐND nhƣng cũng có những hạn chế
nhất định, đó là mức độ nghiên cứu chuyên sâu chƣa cao, mức độ lý luận về
tổ chức HĐND còn hạn chế, thƣờng thừa nhận luật thực định là chính, phạm
vi đánh giá thực trạng hoạt động của HĐND hẹp, chỉ có tính địa phƣơng
trong phạm vi một tỉnh, thành phố. Giải pháp đƣa ra thƣờng ít hƣớng tới kiến
nghị sửa đổi pháp luật mà tập trung vào nâng cao, tăng cƣờng tổ chức bộ
máy, con ngƣời.
Bên cạnh đó, cũng có nhiều bài nghiên cứu đăng trên các tạp chí khoa học
luận bàn về tổ chức và hoạt động của HĐND nhƣ bài nghiên cứu của các tác giả:
Ths Nguyễn Quốc Tuấn, Một số giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của
HĐND và UBND các cấp, Tạp chí Tổ chức nhà nƣớc số 4/2004, tác giả đặt ra
8 vấn đề cần giải quyết, trong đó có 4 vấn đề liên quan đến HĐND gồm: tăng
cƣờng sự lãnh đạo của Đảng; đào tạo, bồi dƣỡng; nâng cao chất lƣợng kỳ họp
HĐND; hoàn thiện bộ máy. Ths Nguyễn Hoàng Anh, Tổ chức và hoạt động
(đồng chủ biên); Đổi mới, hoàn thiện bộ máy nhà nước trong giai đoạn hiện nay
(2004) của PGS.TS Bùi Xuân Đức; Mô hình tổ chức và hoạt động của hệ thống
chính trị một số nước trên thế giới (2008) của PGS.TS Tô Huy Rứa
Một số tác phẩm nƣớc ngoài đƣợc dịch nhƣ Đổi mới hoạt động của
Chính phủ (Mỹ) (1997) của Đêvit Âuxbot – Tét Gheblo, Chế độ dân chủ, nhà
nước và xã hội (2009) của N.M.Voskresenskaia – N.B.Davletshina.
Những tác phẩm này trực tiếp hoặc gián tiếp đều có những đóng góp
nhất định vào hệ thống quan điểm về tổ chức và hoạt động của HĐND nói
chung, hoạt động giám sát của HĐND nói riêng. Nhất là những nghiên cứu về
xây dựng nhà nƣớc pháp quyền từ đó làm tiền đề nghiên cứu vị trí, vai trò,
chức năng của cơ quan dân cử ở địa phƣơng.
1.1.2 Tình hình nghiên cứu về pháp luật giám sát
Hoạt động giám sát là một trong những đề tài đƣợc nhiều tác giả nghiên
cứu, trong đó thƣờng tập trung nghiên cứu pháp luật về hoạt động giám sát
của Quốc hội là chính, hoạt động giám sát của các chủ thể khác nhƣ giám sát
của nhân dân, của Đảng, của Mặt trận Tổ quốc và của HĐND ít thu hút đƣợc
sự quan tâm, nghiên cứu của các nhà khoa học. Hàng loạt nghiên cứu của
nhiều tác giả về giám sát của Quốc hội đã đƣợc công bố, có thể kể đến các tác
phẩm, nghiên cứu sau:
Luận án tiến sĩ Luật học của tác giả Phạm Văn Hùng – VPQH về
“Giám sát của Quốc hội đối với Tòa án nhân dân, Viện kiểm sát nhân dân”
(2003) đề cập tới các vấn đề về cơ sở lý luận về quyền giám sát của Quốc hội
với Tòa án nhân dân, Viện kiểm sát nhân dân: khái niệm quyền giám sát của
Quốc hội, điều kiện và ý nghĩa, vai trò của việc thực hiện quyền giám sát;
luận án đề xuất giải pháp đổi mới thực hiện quyền giám sát trên các mặt: pháp
luật, tổ chức thực hiện, tăng cƣờng kiều kiện đảm bảo. Một trong những điểm
mới là tác giả đi sâu giải quyết việc giám sát các vụ án nhƣ thế nào, phạm vi,
mức độ và hậu quả pháp lý ra sao.
yếu vào hoạt động giám sát của nghị viện, đối với hoạt động giám sát của Hội
đồng địa phƣơng chỉ tập trung đánh giá về ảnh hƣởng chính trị, thực tiễn hoạt
động là chính, ít phân tích về mặt luật pháp bởi thực tế đánh giá về mặt luật
pháp của một quốc gia khác là rất khó, không thể trình bày trong một cuốn
sách nhỏ.
Về giám sát của nhân dân, TS Đặng Đình Tân trong tác phẩm Nhân dân
giám sát các cơ quan dân cử ở Việt Nam trong thời kỳ đổi mới, đã đề cập tới
khái niệm về giám sát với những quan điểm khá mới lạ, những nghiên cứu
của tác giả đã đặt ra nhiều vấn đề mới cần nghiên cứu nhƣ giám sát để làm gì,
mối quan hệ giữa chủ thể giám sát và đối tƣợng bị giám sát nhƣ thế nào …
Luận án tiến sĩ Luật học của tác giả Trịnh Thị Xuyến về “Kiểm soát
quyền lực nhà nước ở Việt Nam hiện nay – vấn đề và giải pháp” (2007), cũng
nghiên cứu về kiểm soát quyền lực của nhân dân, của cơ quan dân cử với bộ
máy nhà nƣớc nói chung và cơ quan hành pháp nói riêng.
Những nghiên cứu này nhìn chung đã giải quyết đƣợc những vấn đề
mang tính nguyên tắc của hoạt động giám sát, đó là mục đích giám sát, chủ
thể giám sát, mối quan hệ giữa chủ thể và đối tƣợng giám sát, phƣơng pháp và
hình thức giám sát, hậu quả pháp lý hoạt động giám sát. Đây là những gợi ý
quan trọng khi nghiên cứu về pháp luật hoạt động giám sát của HĐND.
1.1.3 Tình hình nghiên cứu về pháp luật hoạt động giám sát của Hội
đồng nhân dân
Nghiên cứu về giám sát của HĐND nói chung và pháp luật hoạt động
giám sát của HĐND nói riêng nhìn chung ít đƣợc các học giả quan tâm, mức
độ nghiên cứu thƣờng hạn hẹp, có một số đề tài, luận văn thạc sĩ luật học, một
số nghiên cứu khoa học của địa phƣơng và một số bài viết của các nhà nghiên
cứu. Có thể kể đến các tác giả:
Luận văn thạc sĩ Luật học của tác giả Hồ Thị Hƣng “Nâng cao hiệu quả
giám sát của HĐND tỉnh Nghệ An trong giai đoạn hiện nay” (2006). Tác giả
đã có những đóng góp nhất định trong việc đƣa ra đánh giá về pháp luật hoạt
chuyên sâu về pháp luật hoạt động giám sát của HĐND hầu nhƣ chƣa có,
những tác phẩm, nghiên cứu hầu nhƣ chỉ nêu đƣợc một góc độ nhất định nhƣ
thực trạng giám sát (cũng chỉ hạn chế ở một hoặc một vài địa phƣơng nhất
định), hoặc chỉ dừng lại ở việc nêu ra nhận định về giám sát của HĐND. Kết
quả những nghiên cứu đó cũng ít đề cập tới hoàn thiện pháp luật mà có tính
khái quát, tổng thể hơn, đó là việc nâng cao hiệu quả, hiệu lực giám sát.
Nghiên cứu về HĐND nói chung cũng có đề cập tới hoạt động giám sát
nhƣng không nhiều, nhất là đề cập tới pháp luật hoạt động giám sát thì chỉ
dừng ở việc nêu phƣơng án, đề xuất hoàn thiện pháp luật giám sát nói chung
mà thôi. Một số nghiên cứu về giám sát của Quốc hội, giám sát của nhân dân
… cũng đã có nội dung, tuy không nhiều, đề cập đến giám sát của HĐND, so
sánh với hoạt động giám sát của Quốc hội.
Nhìn chung, chƣa có nghiên cứu nào đề cập chuyên sâu tới pháp luật
hoạt động giám sát của HĐND, các nghiên cứu khoa học, sách … hầu nhƣ
chỉ tập trung vào nghiên cứu hoạt động giám sát của Quốc hội hay đề cập tới
đổi mới tổ chức và hoạt động của HĐND nói chung. Đặc biệt, sau khi Luật tổ
chức HĐND và UBND năm 2003 và Quy chế hoạt động của HĐND năm
2005 ra đời với nhiều quy định mới về hoạt động giám sát của HĐND thì hầu
nhƣ chƣa có nghiên cứu nào về đề tài này. Hơn nữa, với việc thí điểm mô
hình không tổ chức HĐND quận, huyện, phƣờng thì lại càng chƣa có đề tài
nào nghiên cứu về hoạt động giám sát của HĐND ở các đơn vị hành chính
kiểu này. Nghiên cứu về HĐND và pháp luật về giám sát của cơ quan dân cử
nói chung không nhiều nhƣng là một trong những cơ sở giúp nghiên cứu về
pháp luật hoạt động giám sát của HĐND tốt hơn. Đây là nghiên cứu luận án
tiến sĩ luật học đầu tiên về quy định của pháp luật liên quan tới giám sát của
HĐND nói chung và giám sát theo mô hình tổ chức bộ máy nhà nƣớc mới
đang đƣợc thí điểm.
Chính vì vậy, nghiên cứu về pháp luật hoạt động giám sát của HĐND
dƣới góc độ lý luận, thực trạng là cần thiết, đóng góp vào hệ thống cơ sở lý
và bao gồm các cuộc điều tra về chính sách đang và sẽ đƣợc triển khai; điều
tra về hoạt động hành chính và việc kêu gọi cơ quan hành pháp phải chịu
trách nhiệm với hoạt động của họ”, tác giả cũng cho rằng hành vi của các nhà
lập pháp sẽ tạo ra tác động đối với hành vi của cơ quan hành chính quan liêu;
giám sát hành chính là cần thiết bởi nó tạo ra cơ chế mà những nhà quản lý
hành chính có thể ảnh hƣởng đến chúng ta theo những cách cơ bản. Tác giả
nêu và phân tích những yếu tố ảnh hƣởng tới giám sát gồm: Sự kiểm soát của
các đảng với vị trí tổng thống và quốc hội; nhóm chịu sự tác động; nhóm lợi
ích; tổ chức cơ quan của Quốc hội; tăng cƣờng chất lƣợng và số lƣợng nghị
sĩ; sự công khai trong hoạt động.
- Giám sát và ngân sách của cơ quan lập pháp: Bối cảnh thế giới.
(Legislative Oversight and Budgeting: A World Perspective), ấn phẩm của
Ngân hàng Thế giới (12 tháng 9 năm 2008) ISBN-13: 978-0821376119. Tác
phẩm qua nghiên cứu nhiều nƣớc trên thế giới nhận định hầu hết các quốc gia,
Quốc hội có thẩm quyền hiến định trong giám sát hoạt động và sự tuân thủ
luật pháp của Chính phủ. Trong bối cảnh tăng cƣờng chức năng quản trị của
Quốc hội, các học giả và các nhà hoạt động thực tiễn đã xem xét chức năng
giám sát của Quốc hội trong việc tăng trách nhiệm giải trình về tài chính
công, kiềm chế tham nhũng và góp phần xóa đói giảm nghèo. Đây là công
trình tập hợp những nghiên cứu từ nhiều góc độ khác nhau về vấn đề giám sát
của cơ quan lập pháp ở nhiều quốc gia khác nhau trên thế giới. Ở các quốc gia
này, các cơ chế giải trình hoặc các hình thức giám sát của cơ quan lập pháp
đều dựa trên quyền lực hiến định của cơ quan lập pháp, tổ chức bộ máy của
chính phủ, sự phân chia quyền lực giữa chính quyền trung ƣơng, vùng và địa
phƣơng, và các nguồn lực sẵn có của cơ quan này (lập pháp). Đặc biệt, tác
phẩm đề cập đến việc giám sát ngân sách từ việc xây dựng, phê duyệt ngân
sách đến việc thực hiện và kiểm tra tài khoản công. Các quốc gia đƣợc đề cập
đến trong tác phẩm này bao gồm: Ba Lan, Nga, Braxin, Indonesia, Israel,
Nam Phi, Italia, cộng hòa Séc, Uganda,