Hoàn thiện pháp luật về trọng tài thương mại của Việt Nam trong điều kiện hội nhập quốc tế - Pdf 12


Bộ GIáO DụC V ĐO TạO Bộ TƯ PHáP TRƯờng đại học luật h nội Nguyễn đình thơ Hon thiện pháp luật trọng ti thơng mại
của việt nam trong điều kiện hội nhập quốc tế LUậN áN TIếN Sĩ LUậT HọC

Ngời hớng dẫn khoa học: PGS.TS. Trần Ngọc Dũng
PGS.TS. Dơng Đăng Huệ

H nội 2007 24
2. Pháp luật TTTM của Việt nam, về cơ bản, đã thể hiện đợc
những nguyên tắc chung về TTTM trên thế giới, tiếp thu những điểm
hợp lý và phổ biến trong lĩnh vực giải quyết tranh chấp thơng mại
bằng trọng tài của một số nớc và xu thế phát triển của TTTM trên
thế giới. Tuy vậy, quá trình thực hiện đến nay cho thấy các quy định
của pháp luật TTTM của chúng ta đã bộc lộ những bất cập, dẫn đến
quá trình thực hiện có những vớng mắc, cha tạo ra đợc một cơ chế
thật sự thông thoáng cho hoạt động của TTTM. Thực tế này đòi hỏi
pháp luật TTTM phải đợc tiếp tục hoàn thiện mới có thể đáp ứng
đợc yêu cầu của quá trình hội nhập kinh tế quốc tế hiện nay và trong
thời gian tới.
3. Hiện nay, nhiệm vụ quan trọng của giới luật gia là nghiên

pháp luật kinh tế để đảm bảo sự tơng thích của nó với pháp luật quốc
tế và các nớc trên thế giới. Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ X đã yêu
cầu: Chủ động, tích cực hội nhập kinh tế sâu hơn, đầy đủ hơn với
khu vực và thế giới. Thực hiện có hiệu quả các cam kết với các nớc,
các tổ chức quốc tế về thơng mại, đầu t, dịch vụ và các lĩnh vực
khácChuẩn bị tốt các điều kiện để thực hiện các cam kết sau khi
nớc ta gia nhập WTO. Khẩn trơng đổi mới thể chế kinh tế, hoàn
chỉnh hệ thống pháp luật bảo đảm lợi ích quốc gia và phù hợp với các
quy định, thông lệ quốc tế.
Trong lĩnh vực pháp luật về tài phán kinh tế, Pháp lệnh
TTTM (đợc Uỷ ban Thờng vụ Quốc hội thông qua ngày
25/02/2003, có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/7/2003), là một văn
bản pháp luật đợc xây dựng trên cơ sở pháp điển hoá các văn bản
pháp luật về trọng tài ở Việt Nam, có tiếp thu một số nội dung cơ bản
của Luật Mẫu UNCITRAL. Pháp lệnh đã khắc phục đợc những bất
cập của các văn bản pháp luật về trọng tài trớc đó, mà bớc chuyển
biến có tính đột phá là đã tạo ra đợc mặt bằng pháp lý chung cho
hoạt động của trọng tài trong nớc và trọng tài quốc tế ở Việt Nam;
xây dựng đợc mối quan hệ hỗ trợ giữa Toà án và trọng tài; tạo ra
đợc cơ chế bảo đảm thi hành phán quyết trọng tài. Tuy nhiên, qua
thời gian thi hành từ ngày 1/7/2003 đến nay cho thấy, Pháp lệnh
TTTM cha phát huy đợc đầy đủ vai trò của mình trong đời sống
kinh tế - xã hội. Nguyên nhân của tình hình này chủ yếu là do: nhận
thức của giới doanh nhân về trọng tài cha đầy đủ; chất lợng đội ngũ
TTV cha cao; kinh nghiệm của các Thẩm phán trong việc thực hiện
hỗ trợ trọng tài cha nhiều; tổ chức và hoạt động của các TTTT còn
nhiều yếu kém và đặc biệt là các quy định pháp luật về TTTM cha
đợc hoàn thiện đến mức cần thiết. Pháp lệnh TTTM 2003 với t cách
là nguồn pháp luật chủ yếu của pháp luật về TTTM đã bộc lộ không ít


chí Nhà nớc và pháp luật, số 11, 2001; TS. Dơng Thanh Mai có
bài Việc tiếp nhận luật mẫu của UNCITRIAL về Trọng tài thơng
mại Quốc tế ở một số nớc và việc xây dựng Dự thảo Pháp lệnh
Trọng tài của Việt Nam (Tạp chí Nhà nớc và pháp luật số 9, 1998);
PGS.TS. Dơng Đăng Huệ có bài Trọng tài kinh tế phi chính phủ ở
Việt Nam - Thực trạng và những giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả
hoạt động của nó (Thông tin khoa học pháp lý - Viện nghiên cứu
khoa học pháp lý Bộ T pháp, số 5, 1999). Các bài viết này đã đề cập

23
cầu khách quan khác nên việc hoàn thiện pháp luật TTTM hiện nay
vẫn còn là vấn đề thời sự, cần quan tâm nghiên cứu.
2. Việc hoàn thiện pháp luật TTTM, muốn thành công, cần
phải đợc dựa trên những yêu cầu (nguyên tắc) nhất định. Vì vậy,
việc tìm ra các yêu cầu đó là điều mà luận án cần phải quan tâm giải
quyết. Theo tác giả luận án, có rất nhiều yêu cầu mà pháp luật TTTM
trong tơng lai, cần phải đáp ứng. Trong số các yêu cầu này, đáng lu
ý nhất là yêu cầu cần phải mở rộng thêm thẩm quyền của TTTM để
tạo cơ hội tốt hơn cho các nhà kinh doanh trong việc sử dụng TTTM
nh một cơ chế hữu hiệu nhằm giải quyết một cách kịp thời và đầy đủ
các tranh chấp phát sinh. Ngoài ra, do yêu cầu của hội nhập, pháp luật
TTTM cần phải đợc xây dựng theo hớng bảo đảm tốt hơn quyền tự
định đoạt của các bên tranh chấp trong việc giải quyết các vấn đề phát
sinh từ việc yêu cầu TTTM giải quyết các tranh chấp cho mình. Trong
số các quyền tự định đoạt này có quyền của các bên tranh chấp là các
doanh nghiệp Việt Nam đợc lựa chọn TTTT thơng mại nớc ngoài,
TTV nớc ngoài và pháp luật nớc ngoài để giải quyết các tranh chấp
cho mình.
3. Việc hoàn thiện pháp luật TTTM Việt Nam cần phải đợc
tiến hành một cách đồng bộ, trên nhiều phơng diện. Theo tác giả,

pháp luật, tạo điều kiện cho việc xác định thẩm quyền của Trọng tài
thơng mại.
Thứ hai, thống nhất việc xác định yếu tố nớc ngoài trong
quan hệ thơng mại.
Thứ ba, cần có quy định hớng dẫn, giải thích thống nhất về
nguyên tắc áp dụng pháp luật nớc ngoài.
3.2.2. Các giải pháp về mặt thiết chế có liên quan đến Trọng tài
thơng mại.
Cần tăng cờng tổ chức và hoạt động của các cơ quan Toà án,
thi hành án dân sự, trong đó chú ý nâng cao năng lực, trình độ chuyên
môn của Thẩm phán và Chấp hành viên để thực hiện tốt nhiệm vụ hỗ
trợ hoạt động giải quyết tranh chấp của TTTM, thi hành quyết định
trọng tài.
3.2.3. Các giải pháp khác liên quan đến Trọng tài thơng mại.
Cần tuyên truyền sâu, rộng pháp luật trọng tài thơng mại.
Tăng cờng hợp tác quốc tế trong lĩnh vực trọng tài.
Kết luận chơng 3
1. Pháp luật TTTM ở nớc ta, mà văn bản có tính chất nền tảng
là Pháp lệnh TTTM năm 2003, về cơ bản đã khắc phục đợc nhiều
yếu kém, hạn chế của Nghị định 116/CP trớc đó, làm cho pháp luật
TTTM nớc ta trở nên hoàn thiện hơn, không chỉ phù hợp với thực
tiễn kinh tế - xã hội của Việt Nam mà còn phù hợp với pháp luật quốc
tế về TTTM. Tuy nhiên, do yêu cầu của hội nhập quốc tế và các yêu

3
đến trọng tài và pháp luật trọng tài ở nớc ta trong thời gian trớc khi
có Pháp lệnh TTTM năm 2003, đồng thời đã đề xuất các yêu cầu
cũng nh giải pháp cụ thể nhằm hoàn thiện pháp luật trọng tài trong
điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế.
Sau khi Pháp lệnh TTTM đợc ban hành, PGS.TS. Dơng

cách là một hình
thức giải quyết tranh chấp kinh tế nh: Giải quyết tranh chấp kinh tế
trong điều kiện nền kinh tế thị trờng ở Việt Nam của Đào Văn Hội,
năm 2003; Tài phán kinh tế ở nớc ta hiện nay của Trần Văn

4
Trung, năm 2003. Các luận án này đều có đề cập đến TTTM, nhng
dới góc độ là một hình thức tài phán kinh tế tồn tại song song với tài
phán Toà án. Vì vậy, nội dung các luận án chỉ dành một phần (ít hơn
so với phần về tài phán Toà án) để nghiên cứu về phơng thức giải
quyết tranh chấp kinh tế bằng hình thức trọng tài; việc nghiên cứu
một cách đầy đủ về pháp luật TTTM cha đợc thực hiện.
Các bài viết và công trình nghiên cứu nói trên chỉ đề cập đến
TTTM ở một phạm vi nhất định, nh: đặc điểm của TTTM, mối quan
hệ giữa Toà án và trọng tài, tài phán trọng tài, tố tụng trọng tàihoặc
đúc rút những điểm mới của Pháp lệnh TTTM. Mặt khác, cũng cha
có công trình nào nghiên cứu việc hoàn thiện pháp luật TTTM dới
góc độ hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam. Vì vậy, có thể nói, đây
vẫn là vấn đề còn mới trong khoa học pháp lý Việt Nam, cần phải
nghiên cứu giải quyết.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu:
Mục đích của luận án là trên cơ sở nghiên cứu những vấn đề
lý luận cơ bản về TTTM, phát hiện những điểm còn hạn chế, bất cập
của pháp luật TTTM ở nớc ta, đề xuất phơng hớng, giải pháp hoàn
thiện nhằm đáp ứng yêu cầu của hội nhập kinh tế quốc tế mà Việt
Nam đang tích cực tham gia.
Để đạt đợc mục đích trên, luận án phải hoàn thành một số
nhiệm vụ cơ bản sau đây:
- Nghiên cứu, làm sáng tỏ những vấn đề lý luận cơ bản về
TTTM và pháp luật TTTM; phân tích làm rõ những yếu tố chi phối

Thứ chín, về lựa chọn pháp luật nớc ngoài, áp dụng pháp
luật nớc ngoài và lựa chọn Trọng tài viên nớc ngoài.
- Đề nghị không nên giới hạn quyền của các bên đợc lựa chọn
TTV nớc ngoài chỉ đối với những vụ tranh chấp có yếu tố nớc
ngoài, mà nên quy định cho phép các tổ chức, cá nhân Việt Nam cũng
đợc quyền chọn TTV là ngời nớc ngoài để giải quyết tranh chấp.
- Để các doanh nghiệp liên doanh và doanh nghiệp 100% vốn
nớc ngoài hoạt động theo Luật Đầu t tại Việt Nam đợc quyền lựa
chọn áp dụng pháp luật nớc ngoài trong việc giải quyết tranh chấp,
đề nghị Khoản 1 Điều 7 Pháp lệnh TTTM cần đợc sửa đổi, bổ sung
nh sau: i vi v tranh chp gia các bên Vit Nam, Hi ng
Trng ti áp dng pháp lut ca Vit Nam gii quyt tranh chp.
Trờng hợp vụ tranh chấp có một bên hoặc các bên là Doanh nghiệp
liên doanh, doanh nghiệp 100% vốn nớc ngoài tại Việt Nam thì
đợc quyền thoả thuận áp dụng pháp luật nớc ngoài theo nguyên tắc
quy định tại Khoản 2 Điều này.

20
HĐTT có thẩm quyền giải quyết vụ tranh chấp thì đơng nhiên quyết
định trọng tài có hiệu lực thi hành.
Thứ năm, về thời hiệu khởi kiện.
1. Đề nghị sửa lại cách tính thời hiệu khởi kiện cho phù hợp
với quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự và Luật Thơng mại là thời
hiệu khởi kiện tính từ ngày quyền và lợi ích hợp pháp bị xâm phạm.
2. Sau khi Toà án xác định trọng tài không có thẩm quyền giải
quyết vụ tranh chấp thì việc đơng sự khởi kiện tại Toà án phải áp
dụng thời hiệu khởi kiện theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự
chứ không phải theo quy định của Pháp lệnh TTTM. Bởi vậy, câu
cuối cùng của Khoản 2 Điều 30 Pháp lệnh TTTM cần đợc sửa đổi
nh sau: Thời hiệu khởi kiện ra Toà án theo quy định của Bộ luật Tố

Luận án không có mục đích nghiên cứu tất cả các vấn đề của
pháp luật TTTM, mà chỉ nghiên cứu những vấn đề cơ bản về pháp
luật TTTM, thực trạng pháp luật cũng nh thực trạng hoạt động của
các Trung tâm TTTM ở nớc ta, phát hiện những điểm còn hạn chế,
bất cập trong các quy định của pháp luật thực định, trên cơ sở đó, đề
xuất những phơng hớng, giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật
TTTM đáp ứng yêu cầu của hội nhập quốc tế.
5. Phơng pháp nghiên cứu:
Để giải quyết những vấn đề nêu trên, tác giả đã vận dụng
phơng pháp luận biện chứng duy vật của chủ nghĩa Mác - Lênin,
quán triệt quan điểm, chủ trơng của Đảng và Nhà nớc ta về xây
dựng nền kinh tế thị trờng định hớng xã hội chủ nghĩa, về bảo đảm
quyền tự do kinh doanh, về việc hoàn thiện hệ thống các cơ quan tài
phán kinh tế.
Các phơng pháp nghiên cứu cụ thể đợc sử dụng trong quá
trình nghiên cứu là phơng pháp thống kê, phân tích, tổng hợp, luật
học so sánh
6. ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận án:
Kết quả nghiên cứu của luận án có thể đợc các nhà lập pháp
tham khảo để hoàn thiện pháp luật TTTM, nhất là trong việc bảo đảm
sự tơng thích của pháp luật TTTM Việt Nam với pháp luật quốc tế và
các nớc trên thế giới. Luận án cũng là tài liệu tham khảo tốt cho các
nhà kinh doanh về TTTM và các quy định pháp luật TTTM để áp dụng
trong giải quyết tranh chấp. Các kết quả nghiên cứu của luận án cũng
rất bổ ích cho việc học tập, nghiên cứu, giảng dạy pháp luật về TTTM ở
các trung tâm đào tạo cán bộ khoa học pháp lý ở nớc ta.
7. Những đóng góp mới của luận án:
Là công trình ở cấp độ luận án tiến sĩ Luật học nghiên cứu
một cách đầy đủ và có hệ thống về TTTM và pháp luật TTTM của


TTTM quốc tế, qua đó phát hiện những vấn đề cụ thể cần phải đợc
sửa đổi, bổ sung hoặc quy định mới nhằm hoàn thiện pháp luật TTTM
Việt Nam theo xu hớng nhất thể hoá pháp luật TTTM đang diễn ra
trên thế giới hiện nay.
- Phát hiện đợc những bất cập của các quy định của pháp luật
TTTM hiện hành trong nhiều vấn đề, đặc biệt là trong các quy định
về thoả thuận trọng tài nhằm định hớng cho các giải pháp hoàn
thiện.

19
2. Đề nghị sửa đổi khái niệm hoạt động thơng mại trong Pháp
lệnh TTTM cho phù hợp với quy định của Luật Thơng mại năm
2005.
3. Đề nghị sửa đổi, bổ sung Điều 5 Pháp lệnh TTTM để có căn
cứ giải quyết các trờng hợp vụ tranh chấp có thoả thuận trọng tài mà
thoả thuận đó không thực hiện đợc hoặc không thể thực hiện đợc.
4. Đề nghị huỷ bỏ quy định tại điểm 1.2.b. của Nghị quyết số
05/2003/NQ- HĐTP ngày 31/7/2003 của Hội đồng Thẩm phán Toà
án nhân dân tối cao hớng dẫn thi hành một số quy định của Pháp
lệnh TTTM, vì quy định này trái với Điều 5 Pháp lệnh TTTM và
không phù hợp với thông lệ chung về TTTM trên thế giới.
Thứ ba, về yêu cầu Toà án xem xét huỷ bỏ quyết định
trọng tài.
Đề nghị sửa đổi, bổ sung Điều 54 Pháp lệnh TTTM cho phù
hợp với quy định tại Điều 30 của Pháp lệnh. Cụ thể: Khoản 2 và
Khoản 4 Điều 54 cần bổ sung thêm đoạn: trừ trờng hợp đã có quyết
định giải quyết của Toà án theo quy định tại Điều 30 Pháp lệnh
này.
Thứ t, về xem xét thẩm quyền giải quyết tranh chấp của
Hội đồng trọng tài.

3.2.1.2. Những kiến nghị cụ thể cần đa vào Luật Trọng tài
thơng mại.
Thứ nhất, về thoả thuận trọng tài.
1. Hình thức thoả thuận trọng tài quy định tại Điều 9 Pháp lệnh
TTTM cần đợc xây dựng lại cho phù hợp với quy định trong Luật
Mẫu của UNCITRAL.
2. Đề nghị bỏ quy định thoả thuận trọng tài vô hiệu khi không
quy định hoặc quy định không rõ tổ chức trọng tài có thẩm quyền giải
quyết vụ tranh chấp tại Khoản 4 Điều 10 Pháp lệnh TTTM
.
Luật TTTM và các văn bản hớng dẫn nên quy định cơ chế giải
quyết bảo đảm cho ý chí của các bên về việc sử dụng trọng tài để giải
quyết tranh chấp đợc thực hiện, phù hợp với Luật Mẫu UNCITRAL.
Thứ hai, về thẩm quyền của Trọng tài thơng mại.
1. Đề nghị nên quy định thẩm quyền của TTTM theo phơng
pháp loại trừ nh quy định của pháp luật trọng tài nhiều nớc thên thế
giới. Theo đó, TTTM không đợc giải quyết một số loại tranh chấp
nhất định (ví dụ các tranh chấp về hôn nhân gia đình, về giám hộ,
thừa kế, phá sản, tranh chấp hành chính,), ngoài các loại tranh chấp
đó ra thì đều thuộc thẩm quyền của TTTM.

7
- Phân tích đợc một cách cụ thể, đầy đủ các yêu cầu của hội
nhập kinh tế quốc tế và sự tác động của chúng đối với việc hoàn thiện
pháp luật về TTTM ở nớc ta. Theo tác giả, trong số các yêu cầu đó
đáng lu ý nhất là yêu cầu về việc mở rộng thẩm quyền của TTTM và
mở rộng quyền của các bên tranh chấp là các nhà kinh doanh Việt
Nam nhằm bảo đảm sự bình đẳng giữa các nhà kinh doanh trong nớc
với các nhà kinh doanh nớc ngoài trong việc sử dụng trọng tài nh
một phơng thức giải quyết tranh chấp.

Pháp lệnh TTTM của Việt Nam thể hiện khá đầy đủ bản chất
phi nhà nớc và tính tài phán của trọng tài, phù hợp với những nguyên
tắc chung trong thông lệ quốc tế.
1.1.1.3. Ưu thế của Trọng tài thơng mại.
So với các hình thức giải quyết tranh chấp khác nh thơng
lợng, hoà giải, Toà án, TTTM có những u thế nổi bật sau đây: (1)
Bảo đảm bí mật kinh doanh và uy tín nghề nghiệp của các bên tranh
chấp; (2) Trọng tài giải quyết mang tính thân thiện, tạo ra khả năng
tiếp tục duy trì đợc quan hệ hợp tác vốn có giữa các bên; (3) Thủ tục
giải quyết của trọng tài đơn giản, bảo đảm giải quyết nhanh chóng
các tranh chấp, tiết kiệm đợc thời gian; (4) Trọng tài giải quyết có
tính linh hoạt, bảo đảm quyền tự định đoạt của các bên; (5) Trọng
tài giải quyết bảo đảm tính chính xác cao, nhất là những vụ
việc có nội dung tranh chấp từ những vấn đề kinh tế- kỹ thuật
chuyên sâu; (6) Trọng tài không đại diện cho quyền lực t pháp của
Nhà nớc nên rất phù hợp để giải quyết những tranh chấp mà các
bên có quốc tịch khác nhau; (7) Phán quyết trọng tài đợc công nhận
và thi hành ở nớc ngoài. Tuy nhiên, bên cạnh những u điểm đó thì
trọng tài cũng có một số hạn chế. Với u thế của mình, TTTM đợc
các nhà kinh doanh ở các nớc có nền kinh tế thị trờng phát triển a
chuộng và đã trở thành một phơng thức giải quyết tranh chấp phổ
biến.
1.1.2. Lịch sử ra đời và phát triển của Trọng tài thơng mại.
Trên thế giới, nhất là ở những nớc có nền kinh tế thị trờng
phát triển, trọng tài ra đời từ rất sớm. ở Việt Nam, trọng tài ra đời khá
muộn. Vào đầu những năm sáu mơi của thế kỷ trớc, trọng tài ở
Việt Nam ra đời và đợc chia thành hai loại: trọng tài giải quyết tranh
chấp trong n
ớc (TTKT nhà nớc) và trọng tài giải quyết tranh chấp
quốc tế (HĐTT Ngoại thơng và HĐTT Hàng hải). TTKT nhà nớc

với pháp luật trọng tài quốc tế và pháp luật trọng tài của các nớc
trên thế giới.
3.1.3. Pháp luật trọng tài thơng mại phải thể hiện sự minh bạch,
thống nhất.
3.1.4. Việc hoàn thiện pháp luật trọng tài thơng mại phải đợc
tiến hành trong sự đồng bộ với việc hoàn thiện các lĩnh vực pháp

16
thời hiệu yêu cầu xem xét thoả thuận trọng tài vô hiệu; thời hiệu khởi
kiện; thẩm quyền và thủ tục tuyên bố thoả thuận trọng tài vô hiệu;
việc yêu cầu Toà án huỷ quyết định trọng tài Những vớng mắc
này đòi hỏi phải có biện pháp tháo gỡ để TTTM nớc ta hoạt động
đợc thuận lợi và có hiệu quả.
Kết luận chơng 2
1. Pháp luật TTTM hiện hành của Việt Nam mà xơng sống
của nó là Pháp lệnh TTTM năm 2003 đã tạo cơ sở pháp lý thuận lợi
cho hoạt động của TTTM so với thời gian trớc đây. qua nghiên cứu
các quy định của pháp luật TTTM Việt Nam, có sự liên hệ với những
quy định của pháp luật trọng tài các nớc khác, có thể kết luận rằng,
pháp luật TTTM của Việt Nam là tơng đối tiến bộ.
2. Pháp luật TTTM đã tạo mặt bằng pháp lý chung cho hoạt
động của tất cả các TTTT trên cả nớc với t cách là tổ chức tài phán
phi chính phủ; tạo cơ chế hỗ trợ của Nhà nớc đối với hoạt động của
trọng tài thông qua việc quy định mối quan hệ giữa Toà án và trọng
tài; thừa nhận rộng rãi quyền tự định đoạt của các bên trong giải
quyết tranh chấp bằng trọng tài; mở rộng phạm vi thẩm quyền giải
quyết tranh chấp cho TTTM thông qua việc định nghĩa khái niệm
hoạt động thơng mại theo hớng tiếp cận định nghĩa thơng mại
trong Luật Mẫu UNCITRAL về TTTM quốc tế và Luật Thơng mại
của những nớc có nền kinh tế thị trờng phát triển Những quy định

kinh tế của một quốc gia quyết định bản chất của trọng tài. Điều này
giải thích tại sao bản chất của trọng tài ở các nớc XHCH trớc đây
và các nớc TBCN hiện nay là hoàn toàn khác nhau.
1.2.2. Trình độ phát triển của nền kinh tế: Nền kinh tế càng phát
triển thì các quan hệ thơng mại ngày càng đa dạng, phức tạp, do đó,
khả năng phát sinh tranh chấp ngày càng nhiều và đây chính là điều
kiện để TTTM phát huy tác dụng nh một phơng thức giúp các nhà
kinh doanh giải quyết nhanh, gọn các tranh chấp phát sinh.
1.2.3. Mức độ hoàn thiện của pháp luật về trọng tài và pháp luật
khác có liên quan: Pháp luật trọng tài là cơ sở nền tảng cho hoạt
động giải quyết tranh chấp của trọng tài nên mức độ hoàn thiện của
nó có ảnh hởng trực tiếp đến hiệu quả hoạt động của TTTM.
1.2.4. Truyền thống văn hoá và nhận thức của giới doanh nhân về
Trọng tài thơng mại: Truyền thống văn hoá không chỉ ảnh hởng
đến quá trình kinh doanh mà còn ảnh hởng đến sự lựa chọn trọng tài
là phơng thức giải quyết tranh chấp và ảnh hởng đến quá trình giải
quyết tranh chấp bằng trọng tài.
1.2.5. Sự ảnh hởng của quá trình hội nhập kinh tế quốc tế: Hội
nhập kinh tế quốc tế sẽ mở rộng quan hệ thơng mại quốc tế, thúc
đẩy thơng mại trong nớc, tạo điều kiện phát triển hoạt động trọng

10
tài. Quá trình hội nhập đòi hỏi phải hoàn thiện pháp luật trọng tài bảo
đảm tơng thích với pháp luật trọng tài trên thế giới, đòi hỏi TTV
phải nâng cao trình độ và bản lĩnh nghề nghiệp, từ đó chất lợng hoạt
động của TTTM đợc nâng cao.
1.2.6. Sự hỗ trợ của Nhà nớc đối với Trọng tài thơng mại: Sự hỗ
trợ của Nhà nớc đối với TTTM là rất quan trọng. Vấn đề là Nhà
nớc tác động đến hoạt động trọng tài đến đâu và nh thế nào để bảo
đảm sự tác động đó là tích cực, có lợi cho sự phát triển của trọng tài.

Theo quy định của Pháp lệnh TTTM, quyết định trọng tài
không những có tính chất chung thẩm, các bên phải thi hành (Điều 6)
mà còn đợc cơ quan thi hành án dân sự cỡng chế thi hành nếu bên
thua kiện không thực hiện nghĩa vụ của mình một cách tự nguyện
(Điều 57).
Tóm lại: Pháp luật TTTM, mà văn bản có hiệu lực cao nhất là
Pháp lệnh TTTM năm 2003 với những quy định tiến bộ hơn hẳn so
với trớc, đã tạo ra mặt bằng pháp lý chung cho hoạt động của TTTM
ở nớc ta. So sánh với pháp luật trọng tài các nớc trên thế giới thì
pháp luật TTTM Việt Nam cũng có những quy định tiến bộ, nhng
nhìn chung vẫn còn cứng, cha thật sự thông thoáng. Trong điều
kiện tăng cờng hội nhập quốc tế, cần tiếp tục hoàn thiện lĩnh vực
pháp luật này để thật sự phát huy đợc vai trò, vị thế của TTTM vốn
là phơng thức giải quyết tranh chấp hữu hiệu đợc các nhà kinh
doanh a chuộng và tin dùng.
2.2. Thực trạng thựC HIệN pháp luật trọng tài thơng
mại ở Việt Nam và những vấn đề phát sinh.
2.2.1. Thực trạng hoạt động của Trọng tài thơng mại ở Việt Nam.
Trớc khi có Pháp lệnh TTTM, cả nớc có 6 Trung tâm TTKT
đợc thành lập theo Nghị định số 116/CP về TTKT phi chính phủ. Sau
khi Pháp lệnh TTTM có hiệu lực, cho đến tháng 8 năm 2006 mới có
một TTTT mới đợc thành lập thêm là TTTT Quốc tế Thái Bình
Dơng, nhng có 1 TTTT đã giải thể. Nhìn chung, hoạt động giải
quyết tranh chấp kinh doanh tại các Trung tâm TTTM Việt Nam là rất
hạn chế. Ngoài TTTT Quốc tế Việt Nam mỗi năm thụ lý khoảng trên
dới 20 vụ tranh chấp (riêng năm 2006, lần đầu tiên số vụ thụ lý hơn 30
vụ), các TTTT kinh tế còn lại có số vụ việc thụ lý là không đáng kể,
gần nh không hoạt động.
2.2.2. Những vấn đề phát sinh trong việc thi hành pháp luật trọng
tài thơng mại.

2.1.8. Các quy định về tố tụng trọng tài thơng mại.
Ngoài quy định về thoả thuận trọng tài đợc coi là hòn đá
tảng của việc giải quyết tranh chấp bằng trọng tài, về TTV và các
nguyên tắc giải quyết tranh chấp của trọng tài, Pháp lệnh TTTM quy
định về tố tụng trọng tài tại Chơng V, gồm những bớc nh sau: (1)
Gửi đơn kiện và thụ lý đơn kiện; (2) Gửi bản tự bảo vệ, đơn kiện lại;
(3) Thành lập HĐTT; (4) Lựa chọn địa điểm, ngôn ngữ trọng tài và
pháp luật áp dụng; (5) Cung cấp và thu thập chứng cứ cho vụ tranh
chấp; (6) Nghiên cứu hồ sơ, xác minh sự việc; (7) áp dụng, thay đổi,
huỷ bỏ biện pháp khẩn cấp tạm thời; (8) Hoà giải; (9) Phiên họp giải
quyết tranh chấp; và (10) Ra quyết định trọng tài.

11
của tổ chức này, đánh dấu bớc hội nhập toàn diện của nền kinh tế
đất nớc với nền kinh tế thế giới. Việc giải quyết tranh chấp trong
điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế đòi hỏi phải hoàn thiện pháp
luật TTTM theo xu hớng phát triển chung của TTTM trên thế
giới.
Thứ nhất, phải nhất thể hoá các quan niệm khoa học pháp
lý về TTTM để làm cho các quy định, khái niệm trong pháp luật
của Việt Nam phù hợp với các chuẩn mực chung về TTTM trên
thế giới.
Thứ hai, bảo đảm hơn nữa quyền của các bên trong việc
sử dụng TTTM giải quyết tranh chấp.
Thứ ba, quá trình hội nhập kinh tế quốc tế đặt ra những
thách thức lớn cho đội ngũ TTV và các tổ chức trọng tài.
Kết luận chơng 1
1. tTTM là cơ chế giải quyết tranh chấp thơng mại có hiệu
quả, đợc hình thành và phát triển trong mọi nền kinh tế thị trờng,
bất luận tính chất của nền kinh tế thị trờng đó là TBCN hay XHCN,

tài nhng lại có tác dụng gián tiếp ảnh hởng đến hoạt động của trọng
tài, đó là mảng pháp luật có liên quan. Kết luận về tính chất hai bộ
phận này của pháp luật về TTTM cho chúng ta thấy rằng, muốn cho
TTTM hoạt động có hiệu quả, thì việc quan tâm đến một mảng (bộ
phận) nào đó của pháp luật là không đủ, mà phải quan tâm đến cả hai
mảng (bộ phận) của pháp luật là bộ phận pháp luật về trọng tài và bộ
phận pháp luật có liên quan.

Chơng 2
Thực trạng pháp luật về trọng ti
thơng mại ở việt nam
2.1. những quy định hiện hành của pháp luật trọng tài
thơng mại.
Pháp lệnh TTTM có hiệu lực từ ngày 01/7/2003. Ngày
31/7/2003, Uỷ ban Thẩm phán TAND tối cao ban hành Nghị quyết số
05/2003/NQ-HĐTP hớng dẫn thi hành một số quy định của Pháp
lệnh TTTM. Ngày 15/01/2004, Chính phủ ban hành Nghị định số
25/2004/NĐ-CP quy định chi tiết thi hành một số điều của Pháp lệnh
TTTM. Bên cạnh đó, Bộ luật Tố tụng dân sự, các văn bản pháp luật về
kinh doanh thơng mại, về thi hành án cũng có những quy định liên
quan đến TTTM.
2.1.1. Các quy định về thoả thuận trọng tài.
Thoả thuận trọng tài là sự nhất trí của các bên về việc đa ra
trọng tài giải quyết tranh chấp đã hoặc sẽ phát sinh. Đây là vấn đề
then chốt, là hòn đá tảng trong việc giải quyết tranh chấp thơng

13
mại bằng trọng tài, bởi lẽ, không có thoả thuận trọng tài thì các bên
không thể đa tranh chấp ra giải quyết tại TTTM. Thông qua thoả
thuận trọng tài, các bên tranh chấp thống nhất giao cho trọng tài

hoạt động của các TTV nhằm thực hiện việc giải quyết các


Nhờ tải bản gốc
Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status