Dược lý học: thuốc điều trị sốt rét - Pdf 61

Dược lý học 2007 - đại học Y Hà nội
sách dùng cho sinh viên hệ bác sĩ đa khoa
Bài 18: thuốc điều trị sốt rét
Mục tiêu học tập : Sau khi học xong bài này, sinh viên có khả năng:
1. Trình bày được tác dụng, cơ chế tác dụng của các thuốc chống sốt rét.
2. Trình bày được tác dụng không mong muốn và áp dụng điều trị của các thuốc
chống sốt rét.
3. Giải thích được nguyên nhân kháng thuốc sốt rét của plasmodium falciparum.
1. Đại cương
Bệnh sốt rét đã được Hypocrate mô tả cách đây hơn 2000 năm, là bệnh truyền nhiễm, do
plasmodium gây ra, plasmodium là một loại ký sinh trùng không những gây bệnh cho
người mà cho cả súc vật. Bốn loài ký sinh trùng sốt rét gây bệnh cho người là: P.
falciparum, P.vivax, P.malariae và P.ovale.
ở Việt nam, sốt rét do P.falciparum chiếm khoảng 70 - 80%, do P.vivax 20 - 30%,
P.malariae 1- 2% còn P.ovale hầu như không có. Dịch s ốt rét do P.falciparum thường xảy
ra đột ngột, diễn biến nặng, tử vong cao nhưng thời gian tồn tại của dịch ngắn.
Người có thể nhiễm bệnh sốt rét theo 3 phương thức:
- Do muỗi truyền: Đây là phương thức nhiễm chủ yếu và quan trọng nhất.
- Do truyền máu.
- Truyền qua rau thai.
Việc điều trị sốt rét hiện nay còn gặp nhiều khó khăn vì ký sinh trùng sốt rét (đặc biệt là
P.falciparum) đã kháng lại nhiều thuốc chống sốt rét. Hơn nữa, Việt nam có khoảng 35
triệu người sống trong vùng sốt rét lưu hành (trong đó có 15 triệu người sống trong vùng
sốt rét lưu hành nặng), nên muốn điều trị sốt rét có hiệu quả phải triệt để tuân thủ phác đồ
điều trị của chương trình phòng chống sốt rét quốc gia.
2. Chu kỳ sinh học của ký sinh trùng sốt rét
2.1. Chu kỳ phát triển trong cơ thể ng ười (chu kỳ sinh sản vô tính)
2.1.1. Giai đoạn ở gan
Khi muỗi đốt người, thoa trùng (ở trong tuyến nước bọt muỗi) chui qua mạch máu để lưu
thông trong máu. Sau 30 phút, thoa trùng vào gan để phát triển trong tế bào gan thành thể
phân liệt (10 - 14 ngày), sau đó p há vỡ tế bào gan và giải phóng ra các mảnh trùng. Giai

10,11,12: Phát triển thành giao bào đực và giao bào cái
1b, 2b, 3b: Phát triển của thể ngủ.
3. Các thuốc điều trị sốt rét thường dùng
3.1. Thuốc diệt thể vô tính trong hồng cầu
3.1.1. Cloroquin (Aralen, Avloclor, Malarivon, Nivaquin)
Là thuốc tổng hợp, dẫn xuất của 4 amino quinolein
3.1.1.1. Tác dụng
Dược lý học 2007 - đại học Y Hà nội
sách dùng cho sinh viên hệ bác sĩ đa khoa
Cloroquin có hiệu lực cao đối với thể vô tính trong hồng cầu của cả 4 loài ký sinh trùng
sốt rét, tác dụng vừa phải với giao bào của P.vivax, P.malariae và P.ovale. Không ảnh
hưởng tới giao bào của P.falciparum.
Cơ chế tác dụng: Để tồn tại, ký sinh trùng sốt rét "nuốt" hemoglobin của hồng cầu vật chủ
vào không bào thức ăn. ở đó, hemoglobin được chuyển thành heme (ferriprotoporphyrin
IX) là sản phẩm trung gian có độc tính gây ly giải màng. Heme được chuyển thành sắc tố
hemozoin ít độc hơn nhờ enzym polymerase. Cloroquin ức chế polymerase, làm tích lũy
heme, gây độc với ký sinh trùng sốt rét, làm ly giải ký sinh trùng.
Thuốc tập trung trong không bào thức ăn của ký sinh trùng sốt rét, làm tăng pH ở đó và
ảnh hưởng đến quá trình giáng hóa hemoglobin, làm giảm các amino acid cần thiết cho sự
tồn tại của ký sinh trùng.
Cloroquin còn có thể gắn vào chuỗi xoắn kép DNA ức chế DNA và RNA polymerase, cản
trở sự tổng hợp nucleoprotein của ký sinh trùng sốt rét.
3.1.1.2. Dược động học
Cloroquin hấp thu nhanh và gần như hoàn toàn ở đường tiêu hóa, sinh khả dụng khoảng
90%. Sau khi uống 3 giờ, thuốc đạt được nồng độ tối đa trong máu, 50 - 65% thuốc gắn
với protein huyết tương. Khu ếch tán nhanh vào các tổ chức. Thuốc tập trung nhiều ở hồng
cầu, gan, thận, lách và phổi. ở hồng cầu nhiễm ký sinh trùng sốt rét, nồng độ thuốc cao
gấp 25 lần hồng cầu bình thường.
Chuyển hóa chậm ở gan, cho desethylcloroquin vẫn diệt được plasmodium. Thải trừ
chậm, khoảng 50 - 60% qua nước tiểu. Thời gian bán thải 3 - 5 ngày, có khi tới 12 - 14

mg cloroquin base
- Điều trị sốt rét: uống cloroquin phosphat 3 ngày
Ngày đầu: 10 mg cloroquin base/ kg, chia 2 lần
Ngày thứ 2, 3: 5 mg cloroquin base/ kg
- Điều trị dự phòng; 5 mg cloroquin base/ kg/ tuần cho cả người lớn và trẻ em.
3.1.1.5. Tương tác thuốc
- Các thuốc kháng acid hoặc kaolin có thể làm giảm hấp thu cloroquin, vì vậy chỉ uống
cloroquin sau khi dùng thuốc này 4 giờ
- Cimetidin làm giảm chuyển hóa và thải trừ, tăng thể tích phân bố của Cloroquin
- Dùng cloroquin kết hợp với proguanil làm tăng tai biến loét miệng.
- Cloroquin làm giảm khả năng hấp thu ampicilin
3.1.2. Quinin
Là alcaloid chính của cây Quinquina, đã được dùng điều trị sốt rét hơn 300 năm (từ 1630)
3.1.2.1. Tác dụng
Quinin có tác dụng nhanh, hiệu lực cao đối với thể vô tính trong hồng cầu của cả 4 loài ký
sinh trùng sốt rét. Thuốc diệt được giao bào của P.vivax và P.malariae nhưng ít hiệu lực
đối với giao bào của P.falciparum.
Cơ chế tác dụng của quinin tương tự như cloroquin. Ngoài tác dụng diệt ký sinh trùng sốt
rét, quinin còn có một số tác dụng khác.
- Kích ứng tại chỗ: khi uống thuốc kích ứng dạ dày, gây buồn nôn, nôn. Tiêm dưới da rất
đau, có thể gây áp xe vô khuẩn, vì vậy nên tiêm bắp sâu.
- Tim mạch: liều cao quinin gây giãn mạch, ức chế cơ tim, hạ huyết áp (khi tiêm tĩnh
mạch nhanh).
- Cơ trơn: làm tăng co bóp tử cung đều đặn trong những tháng cuối của thời kỳ có thai, ít
tác dụng trên tử cung bình thường hoặc mới có thai.
Dược lý học 2007 - đại học Y Hà nội
sách dùng cho sinh viên hệ bác sĩ đa khoa
3.1.2.2. Dược động học
Thuốc được hấp thu nhanh và hoàn toàn qua ruột, sau khi uống 1 - 3 giờ thuốc đạt được
nồng độ tối đa trong máu, nồng độ trong huyết tương thường gấp 5 lần trong hồng cầu.

- Chống chỉ định: người nhạy cảm với thuốc, tiền sử có bệnh về tai, mắt, tim mạch.
Không dùng quinin phối hợp với mefloquin ở bệnh nhân thiếu G
6
PD.
- Thận trọng: bệnh nhân suy thận phải giảm liều thuốc
Liều lượng:


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status